Ở Việt Nam, khái niệm về thuế chống trợ cấp được quy định tại khoản 3- Điều 2- Pháp lệnh số 22/2004/PL-UBTVQH11; trong đó, thuế chống trợ cấp là thuế nhập khẩu bổ sung được áp dụng tron
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HCM KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
-
NGUYỄN THỊ QUỲNH HẠNH
PHÁP LUẬT VỀ THUẾ CHỐNG TRỢ CẤP ĐỐI VỚI HÀNG HÓA NHẬP KHẨU, KINH NGHIỆM ÁP DỤNG CỦA MỸ VÀ BÀI HỌC
CHO VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Chuyên ngành Luật Thương mại
TP HCM – 2012
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HCM KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
-
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
PHÁP LUẬT VỀ THUẾ CHỐNG TRỢ CẤP ĐỐI VỚI HÀNG HÓA NHẬP KHẨU, KINH NGHIỆM ÁP DỤNG CỦA MỸ VÀ BÀI HỌC
CHO VIỆT NAM
SINH VIÊN THỰC HIỆN: NGUYỄN THỊ QUỲNH HẠNH
Khóa: 33 MSSV: 0855010058 GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: NGUYỄN THỊ THU HIỀN
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của cô Nguyễn Thị Thu Hiền Mọi ý kiến, quan điểm, số liệu, nội dung tham khảo được trích dẫn trong khóa luận là đầy đủ, trung thực và chính xác Những kết luận trong khóa luận chưa được ai công bố trên bất kỳ công trình nào khác Tôi xin chịu trách nhiệm lời cam đoan của mình
Ký tên
Nguyễn Thị Quỳnh Hạnh
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại
Bộ thương mại Hoa Kỳ
Ủy ban Thương mại quốc tế của Hoa Kỳ
Trang 5MỤC LỤC
Chương 1: Khái quát về trợ cấp trong thương mạiquốc tếvà pháp luật về thuế
chống trợ cấp đối với hàng hóa nhập khẩu của Việt Nam
5
1.1 Những vấn đề chung về trợ cấp trong thương mại quốc tế 5
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm trợ cấp theo Hiệp định WTO 5
1.1.3 Tác động của trợ cấp 14 1.2 Pháp luật về thuế chống trợ cấp đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam 17 1.2.1 Cơ sở pháp lý về thuế chống trợ cấp 17 1.2.2 Khái niệm, đặc điểm của thuế chống trợ cấp 18 1.2.3 Đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế 21 1.2.4 Điều kiện áp dụng thuế chống trợ cấp 23
1.2.7 Trình tự, thủ tục điều tra, áp dụng thuế chống trợ cấp 32
Chương 2: Kinh nghiệm áp dụng thuế chống trợ cấp đối với hàng hóa nhập
khẩu vào Mỹ và bài học kinh nghiệm choViệt Nam
Trang 62.1.4 Các vấn đề liên quan khác 50
2.2 Thực tiễn áp dụng thuế chống trợ cấp ở Việt Nam và bài học kinh nghiệm
từ Mỹ
51
2.2.1 Thực tiễn áp dụng thuế chống trợ cấp củaViệt Nam 51
2.2.2 Những nguyên nhân thuế chống trợ cấp chưa được áp dụng ở Việt Nam
2.2.3 Bài học kinh nghiệm choViệt Nam từ thực tiễn áp dung thuế chống trợ cấp của Mỹ
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính tất yếu của đề tài:
Trong thương mại quốc tế, trợ cấp luôn được các quốc gia quan tâm vì thông qua trợ cấp, chính phủ sẽ giúp đỡ cho những nhà sản xuất, đặc biệt là những nhà sản xuất hàng xuất khẩu nhằm hỗ trợ cho hàng hóa nước mình có sức cạnh tranh hơn so với những nhà sản xuất nước khác khi họ không được trợ cấp Tuy nhiên, hành vi trợ cấp nhằm tăng sức cạnh tranh cho hàng hóa là một hành vi bóp méo bản chất tự nhiên trong thương mại, tạo nên môi trường cạnh tranh không lành mạnh Vì vậy, trong thương mại quốc tế, trợ cấp bị xem là hành vi bất hợp pháp
Các quy định pháp lý về trợ cấp được quy định trong nhiều văn bản pháp luật quốc tế, đặc biệt là trong nhiều Hiệp định của Tổ chức thương mại quốc tế (WTO) Ví
dụ như trợ cấp được quy định trong Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994 (GATT 1994), Bộ luật về trợ cấp 1979, Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng (SCM), Hiệp định nông nghiệp (AoA)… Nhằm hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của trợ cấp, các quốc gia thường áp dụng các biện pháp thuế quan hoặc phi thuế quan đối với các sản phẩm được trợ cấp Trong các văn bản của WTO, những biện pháp này được gọi là biện pháp đối kháng (hay còn gọi là biện pháp chống trợ cấp), trong đó thuế đối kháng (hay thuế chống trợ cấp) được sử dụng phổ biến Việc áp dụng thuế chống trợ cấp được tiến hành trên cơ sở các quy định của 2 Hiệp định SCM và AoA về các tiêu chí xác định hành vi trợ cấp, biện pháp đối kháng, nguyên tắc áp dụng thuế chống trợ cấp…
Sau một thời gian dài đàm phán, ngày 11-01-2007, Việt Nam chính thức gia nhập
và trở thành thành viên của WTO Qua đó, một mặt, Việt Nam phải thực hiện nghiêm túc các cam kết mở cửa thị trường, loại bỏ các hàng rào phi thuế quan; mặt khác, chính phủ cũng phải xây dựng, hoàn thiện các cơ chế bảo vệ phù hợp với thông lệ quốc tế nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các ngành sản xuất trong nước, cũng như người tiêu dùng trong nước khỏi những hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong thương mại quốc tế Biện pháp thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp là những biện pháp phòng vệ thương mại (hay còn gọi là biện pháp đảm bảo thương mại công bằng) được sử dụng thường xuyên nhằm đối phó với hành vi cạnh tranh không lành mạnh của những quốc gia khác So với thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp ít được các quốc gia áp dụng hơn vì ngoài ảnh hưởng đến nền kinh tế, nó còn liên quan đến chính trị và ảnh hưởng đến quan hệ chính trị giữa các nước với nhau Tuy nhiên,
để đảm bảo môi trường cạnh tranh bình đẳng, đối phó với những hành vi trợ cấp bất
Trang 8hợp pháp, Việt Nam cần phải xây dựng các văn bản pháp luật quy định về trợ cấp cũng như thuế chống trợ cấp Dựa trên những nguyên tắc, quy định trong GATT 1994 và Hiệp định SCM, Việt Nam đã ban hành Pháp lệnh về thuế chống trợ cấp đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam ngày 20-8-2004 để điều chỉnh những vấn đề liên quan thuế chống trợ cấp
Tuy nhiên, Việt Nam hiện nay vẫn là nước đang phát triển, các chính sách thuế còn chưa ổn định, các quy định về thuế chống trợ cấp còn chưa cụ thể Những năm qua, chính phủ Việt Nam đã hoàn thiện các quy định về thuế chống trợ cấp thông qua một số văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành nhằm phù hợp với quy định của WTO và dễ dàng áp dụng trong thực tiễn Nhưng trên thực tế, Việt Nam vẫn chưa có một vụ áp dụng thuế chống trợ cấp nào do những khó khăn trong các quy định pháp luật cũng như nhận thức của các doanh nghiệp trong vấn đề này
Chính vì những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Pháp luật về thuế chống trợ cấp đối với hàng hóa nhập khẩu, kinh nghiệm áp dụng của Mỹ và bài học cho Việt Nam” để nghiên cứu Thông qua đề tài, tác giả muốn phân tích, làm rõ bản chất, các quy định về thuế chống trợ cấp đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam, và rút ra bài học kinh ngiệm cho Việt Nam từ thực tiễn áp dụng thuế chống trợ cấp của Hoa Kỳ
2 Tình hình nghiên cứu:
Trợ cấp, biện pháp đối kháng nói chung và thuế chống trợ cấp nói riêng là đề tài cấp thiết trong bối cảnh hội nhập hiện nay Trong những năm gần đây, Bộ Công thương cũng như một số cơ quan nhà nước tổ chức nhiều cuộc hội thảo, tọa đàm liên quan đến vấn đề này như Tọa đàm “Thực tiễn về thuế chống trợ cấp của Hoa Kỳ” tại
Hà Nội năm 2010, Hội thảo “Chống bán phá giá, chống trợ cấp đối với hàng xuất khẩu vào EU” tại Hà Nội năm 2011 hay Hội thảo “Kiện ra Tòa án Hoa Kỳ và WTO để bảo
vệ lợi ích xuất khẩu trước các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp tại Hoa Kỳ- thực tiễn và kinh nghiệm” tại Hà Nội năm 2012 Ngoài ra còn có đề tài chuyên khảo như Đề tài nghiên cứu cấp Bộ của Vụ Chính sách thương mại đa biên- Bộ Thương mại (nay là Bộ Công thương) “Cơ sở khoa học áp dụng thuế chống trợ cấp đối với hàng nhập khẩu ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế” năm 2002
Bên cạnh đó còn có một số bài viết của các nhà luật học, các nhà nghiên cứu trên các tạp chí như: bài viết “Các công cụ thuế nhằm bảo hộ nền sản xuất trong nước” của
2 tác giả Tống Công Phi và Mai Vân Anh trên Tạp chí tài chính số 5/2007; hay bài viết
“Hoàn thiện pháp luật thuế chống trợ cấp ở Việt Nam” của Tiến sĩ Nguyễn Thanh Hải trên trang web tapchithue.com; hay Tiến sĩ Nguyễn Thùy Dương có bài viết “Một số gợi ý cho việc áp dụng thuế chống trợ cấp” trên website tapchitaichinh.com
Trang 9Tuy nhiên, việc thực hiện nghiên cứu các vấn đề về thuế chống trợ cấp vẫn còn hạn chế, các tài liệu chưa được đa dạng phong phú Việc nghiên cứu về thuế chống trợ cấp chủ yếu được tập trung nghiên cứu dưới góc độ một biện pháp phòng vệ thương mại, chứ không nghiên cứu dưới góc độ là một sắc thuế của một quốc gia Bên cạnh
đó, hiện nay chưa có bất kỳ khóa luận (cử nhân) hay luận văn (thạc sỹ) nào nghiên cứu
về đề tài này Trong khi thực tế đây là một đề tài mà nhiều người quan tâm, tìm hiểu
mà chưa có nhiều tài liệu đáp ứng nhu cầu của họ Chính vì vậy, tác giả chọn đề tài này nhằm tập trung nghiên cứu và làm rõ bản chất của thuế chống trợ cấp dưới góc độ là một sắc thuế bổ sung của thuế nhập khẩu
3 Mục đích nghiên cứu:
Mục đích của khóa luận là nghiên cứu một cách khoa học các quy định pháp luật của Việt Nam nhằm làm rõ đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, căn cứ tính thuế cũng như trình tự thủ tục áp dụng thuế chống trợ cấp ở Việt Nam Thông qua những quy định của pháp luật Việt Nam và các kinh nghiệm áp dụng của Hoa Kỳ, tác giả muốn đưa ra những nhận xét về những điểm còn hạn chế, khó khăn của pháp luật Việt Nam và bài học cho Việt Nam về việc áp dụng thuế chống trợ cấp
Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo dành cho những sinh viên hoặc các đối tượng có mong muốn tìm hiểu rõ hơn về pháp luật thuế chống trợ cấp của Việt Nam
4 Đối tượng nghiên cứu và phạn vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là trợ cấp và thuế chống trợ cấp, trong đó tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam về thuế chống trợ cấp Bên cạnh
đó, đề tài còn nghiên cứu về thực tiễn và kinh nghiệm áp dụng thuế chống trợ cấp của Hoa Kỳ, từ đó rút ra bài học để sửa đổi, hoàn thiện các văn bản pháp luật, tạo hành lang pháp lý để áp dụng loại thuế này trên thực tế
5 Phương pháp nghiên cứu:
Nội dung của khóa luận được nêu và phân tích dựa trên cơ sở các văn bản pháp luật của Nhà nước, các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật và các tài liệu pháp lý khác Trong đó, luận văn sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, khái quát hóa và tổng hợp các thông tin, tài liệu để nghiên cứu Bên cạnh đó, nội dung luận văn còn tham khảo kinh nghiệm của một số nước trên thế giới có điều kiện tương đồng với Việt Nam để giải quyết vấn đề được nêu ra
Trang 106 Bố cục khóa luận:
Khóa luận bao gồm các phần sau:
- Lời mở đầu
- Phần nội dung gồm 2 chương:
Chương 1: Khái quát chung về trợ cấp trong thương mại quốc tế và pháp luật
về thuế chống trợ cấp đối với hàng hóa nhập khẩu của Việt Nam
Chương 2: Kinh nghiệm áp dụng thuế chống trợ cấp đối với hàng hóa nhập khẩu vào Mỹ và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
- Kết luận
- Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 11CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TRỢ CẤP TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC
TẾ VÀ PHÁP LUẬT VỀ THUẾ CHỐNG TRỢ CẤP ĐỐI VỚI HÀNG HÓA NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM
1.1 Những vấn đề chung về trợ cấp trong thương mại quốc tế
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm trợ cấp theo Hiệp định WTO
1.1.1.1 Khái niệm trợ cấp
Trợ cấp hiện nay được nhiều quốc gia trên thế giới sử dụng làm công cụ chính sách hỗ trợ sự phát triển của đất nước trên các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… đặc biệt đối với các nước đang phát triển, đây là công cụ hữu hiệu để thúc đẩy, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước so với những nước khác Tuy được sử dụng rộng rãi như vậy nhưng hiện nay vẫn chưa có một khái niệm tương đối chính xác và thống nhất về trợ cấp Trợ cấp có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp
Nếu hiểu theo nghĩa hẹp thì trợ cấp được hiểu chính là việc chính phủ cấp tiền trực tiếp cho một ngành hoặc một doanh nghiệp cụ thể1 Nhược điểm của định nghĩa này là bỏ qua nhiều biện pháp trợ cấp khác có ảnh hưởng về mặt kinh tế tương đương với biện pháp cấp tiền trực tiếp này Ví dụ như chính phủ không cấp tiền trực tiếp cho doanh nghiệp mà chỉ miễn hoặc không thu một số nghĩa vụ tài chính mà doanh nghiệp phải nộp như các khoản thuế Đây cũng được xem là một hình thức trợ cấp của chính phủ, nhưng nếu hiểu trợ cấp theo nghĩa hẹp thì nó sẽ bị bỏ qua Do đó việc xác định trợ cấp theo nghĩa hẹp có thể gây khó khăn hoặc nhầm lẫn trong việc so sánh mức trợ cấp giữa các nước khác nhau
Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì trợ cấp có thể được hiểu là các hình thức hoạt động
hỗ trợ của chính phủ2 Đây là một cách định nghĩa khá rộng, bao hàm toàn bộ các hoạt động của chính phủ dù có ảnh hưởng hay không ảnh hưởng tới thương mại quốc tế Ví
dụ như hoạt động hỗ trợ của chính phủ cho các hoạt động làm đường giao thông, phòng chống cháy nổ trong các doanh nghiệp hay trợ cấp phát triển công nghệ, trợ cấp cho người nghèo, người tàn tật, trợ cấp cho những khu vực khó khăn hay các hình thức tương tự Đây là những hành động cũng có thể bị xem như là trợ cấp vì một phần nào
1Vụ Chính sách thương mại đa biên- Bộ thương mại (2002), Cơ sở khoa học áp dụng thuế chống trợ cấp đối với
hàng nhập khẩu ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, tr.1
2
Vụ Chính sách thương mại đa biên- Bộ thương mại (2002), Cơ sở khoa học áp dụng thuế chống trợ cấp đối với
hàng nhập khẩu ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, tr.2
Trang 12đó, nó cũng đem lại những lợi ích cho người dân, cho các doanh nghiệp thông qua chính những hành động đó Nhưng trong thương mại quốc tế, không phải bất kì hành vi trợ cấp nào của chính phủ một quốc gia cũng bị cấm, cũng làm ảnh hưởng đến nền kinh tế- chính trị của một quốc gia khác trong quan hệ thương mại quốc tế Và khi sử dụng định nghĩa có phạm vi rộng này thì tất cả những hình thức hoạt động trên của chính phủ các quốc gia đều bị xem là trợ cấp và có thể bị khiếu kiện và bị áp dụng thuế đối kháng
Do đó, một vấn đề được đặt ra là phải có sự định nghĩa “trợ cấp” như thế nào đó
để có thể tránh được những ảnh hưởng tai hại bao trùm như thế đến thương mại quốc
tế Vấn đề này liên quan chủ yếu đến việc các chính phủ đơn phương áp dụng các biện pháp đối kháng
Định nghĩa về trợ cấp được sử dụng phổ biến hiện nay là định nghĩa trong hệ thống văn bản của Tổ chức thương mại thế giới WTO Theo Hiệp định trợ cấp và biện
pháp đối kháng (SCM), trợ cấp được định nghĩa là các khoản đóng góp tài chính hoặc
một khoản hỗ trợ thu nhập, hỗ trợ giá do chính phủ hoăc cơ quan công quyền cung cấp cho một hoặc một số doanh nghiệp trong nước nhằm đạt được một số lợi ích về kinh tế,
xã hội nhất định 3 Trợ cấp có thể tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, như trợ cấp
trực tiếp thì chính phủ trực tiếp chuyển tiền (ví dụ: các khoản cấp phát, cho vay, góp vốn…) hoặc chuyển vốn, nhận nợ (ví dụ: bảo lãnh cho vay, xóa nợ…) Trợ cấp cũng có thể thực hiện gián tiếp thông qua việc chính phủ miễn giảm hoặc gia hạn các khoản thu hay một số nghĩa vụ tài chính theo quy định pháp luật (ví dụ: miễn giảm thuế, hoàn thuế…) hoặc cung cấp hàng hóa, dịch vụ mà không phải là hạ tầng chung hay mua sắm trực tiếp hàng hóa của các doanh nghiệp
Các khoản trợ cấp trên có thể thực hiện bởi chính phủ hoặc cơ quan, tổ chức công được chính phủ chỉ đạo thực hiện Bên cạnh đó thì còn có điều kiện là các doanh nghiệp hoặc các ngành sản xuất phải có được lợi ích thực tế từ hoạt động trợ cấp của chính phủ
Mặc dù tồn tại nhiều định nghĩa, khái niệm khác nhau về trợ cấp nhưng khái niệm
về trợ cấp được quy định trong Hiệp định SCM của WTO được các quốc gia sử dụng phổ biến nhất Hiệp định SCM là kết quả của sự thỏa thuận, đàm phán của các quốc gia thành viên của WTO nên các quy định trong Hiệp định này đều được các nước công nhận và tự nguyện thi hành Và các quốc gia tham gia vào WTO sau này đều phải tuân thủ theo các điều khoản quy định trong văn bản này Chính vì vậy, khái niệm về trợ cấp trong Hiệp định SCM là sự thỏa thuận, thống nhất của nhiều quốc gia nên
3 Điều I- Hiệp định SCM
Trang 13được nhiều nước chấp nhận và quy định tương tự trong pháp luật quốc gia Quy định này góp phần làm giảm bớt các mâu thuẫn trong việc xác định khái niệm trợ cấp, dễ dàng trong việc xác định khi phát sinh các vụ việc trợ cấp Định nghĩa trợ cấp của Hiệp định bao gồm các khái niệm về đóng góp tài chính, lợi ích và tính riêng biệt được xây dựng với ý đồ rõ ràng nhằm đảm bảo rằng không phải mọi sự can thiệp của chính phủ trên thị trường đều thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định
1.1.1.2 Đặc điểm của trợ cấp
Vì trợ cấp là một công cụ hỗ trợ có hiệu quả cho nền kinh tế trong nước nhưng lại gây một số tác động bất lợi cho các quốc gia khác nên không phải trợ cấp nào cũng được các quốc gia thừa nhận là hợp pháp Do đó, cần phải xác định được những đặc điểm của trợ cấp để các quốc gia có chính sách đối phó hợp lý với các hành vi trợ cấp trong thương mại quốc tế Dựa vào định nghĩa về trợ cấp trong Hiệp định SCM, ta có thể xác định được các đặc điểm của trợ cấp
Thứ nhất, trợ cấp làmột sự đóng góp tài chính Theo quy định tại Điều I-
Hiệp định SCM, các trường hợp sau được xem là đóng góp tài chính: (i) Chuyển vốn trực tiếp (như cấp phát, cho vay, đóng góp cổ phần) hoặc có khả năng chuyển vốn hoặc chuyển nghĩa vụ trực tiếp (ví dụ như bảo lãnh vay);(ii) Chính phủ miễn hoặc không thu các khoản mà đáng lẽ ra đối tượng liên quan phải nộp (ví dụ như miễn, giảm thuế);(iii) Chính phủ cung cấp hàng hoá hoặc dịch vụ khác ngoài cơ sở hạ tầng nói chung (ví dụ như nguyên vật liệu, nhà xưởng, v.v…) hoặc chính phủ mua hàng hoá của đối tượng liên quan;(iv) Chính phủ trả tiền cho một cơ chế tài trợ, hoặc uỷ thác hoặc chỉ đạo một
tổ chức tư nhân đứng ra thực hiện các chức năng nói trên
Ví dụ: Chính phủ tạm thời miễn cho một cơ sở sản xuất đang lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính không phải tuân thủ luật chống ô nhiễm môi trường Như vậy,
chính phủ đã dành cho cơ sở sản xuất đó những ưu đãi về pháp luật chứ không phải ưu
đãi về tài chính Do không có yếu tố về sự đóng góp tài chính, biện pháp nói trên của chính phủ không phải là trợ cấp (mặc dù doanh nghiệp được hưởng lợi từ việc không phải đầu tư khoản tiền nhằm mục đích bảo vệ môi trường)
Thứ hai, trợ cấp phải do chính phủ hoặc cơ quan, tổ chức công thực hiện
Việc đóng góp tài chính phải do chính phủ trực tiếp thực hiện hoặc chỉ đạo cho một tổ chức nào đó thực hiện Như vậy, Hiệp định SCM không chỉ áp dụng với các biện pháp của chính quyền trung ương mà cả chính quyền địa phương, cũng như áp dụng với các biện pháp do cơ quan nhà nước, tổ chức công thực hiện Nếu như không phải do những
cơ quan này thực hiện thì những đóng góp tài chính của những tổ chức khác không bị
xem là trợ cấp thuộc trường hợp được điều chỉnh trong Hiệp định SCM
Trang 14Ví dụ: Nếu một tổ chức phi chính phủ tư hỗ trợ kỹ thuật và tài chính cho người trồng cà phê thì đây chỉ là trợ giúp tư nhân chứ không phải trợ giúp của chính phủ, trừ phi sự trợ giúp này được thực hiện theo chỉ đạo của một chính phủ hoặc một tổ chức nhà nước/công
Thứ ba, hành vi trợ cấp của chính phủ phải đem lại lợi ích cho đối tƣợng nhận trợ cấp Đóng góp của chính phủ chỉ được xem là trợ cấp khi đem lại lợi ích cho
đối tượng nhận trợ cấp Điều 1- Hiệp định SCM nêu rõ các trường hợp được xem là hỗ trợ tài chính nhưng lại không định nghĩa khái niệm lợi ích hoặc đưa ra các tiêu chí nhận định sự tồn tại của lợi ích Mặc dù Hiệp định SCM không định nghĩa khái niệm lợi ích nhưng Điều 14 của Hiệp định có đưa ra một số phương pháp để xác định giá trị của lợi
ích liên quan một số dạng trợ cấp nhất định
Điều 14 Hiệp định SCM đã đưa ra một số hướng dẫn về cách tính giá trị trợ cấp thông qua lợi ích mà đối tượng nhận trợ cấp được hưởng khi điều tra để đánh thuế chống trợ cấp Vì vậy, trợ cấp thường được tính là lợi ích người nhận trợ cấp nhận được chứ không phải là chi phí mà chính phủ bỏ ra Theo nội dung của Điều 14, lợi ích có thể được đánh giá bằng cách tham chiếu đến các tiêu chí thương mại thông thường trên thị trường Chẳng hạn, việc chính phủ đóng góp cổ phần trong một doanh nghiệp chỉ bị coi là đem lại lợi ích khi quyết định đầu tư đó của chính phủ không giống với tập quán đầu tư thông thường của các nhà đầu tư Hay một khoản cho vay của chính phủ chỉ bị coi là đem lại lợi ích nếu như có sự chênh lệch giữa khoản tiền
mà doanh nghiệp được cho vay phải trả cho khoản nợ chính phủ đó với khoản tiền mà doanh nghiệp phải trả cho một khoản vay thương mại tương đương khác Bảo lãnh vay của chính phủ chỉ bị coi là đem lại lợi ích nếu như có sự chênh lệch giữa khoản tiền
mà doanh nghiệp được bảo lãnh vay phải trả để có được khoản vay với khoản tiền mà doanh nghiệp đó đáng ra phải trả để có được một khoản vay thương mại tương đương không cần có sự bảo lãnh của chính phủ
Việc chính phủ cung cấp hàng hóa, dịch vụ hoặc mua sắm hàng hóa, dịch vụ cũng không bị coi là đem lại lợi ích, nếu giao dịch bán, mua đó được thực hiện căn cứ đúng theo giá trị thực sự của hàng hóa, dịch vụ, tức là giá cung cấp không thấp hơn giá trị hàng hóa, dịch vụ hay giá mua sắm không cao hơn giá trị hàng hóa, dịch vụ liên quan Để xác định giao dịch bán, mua hàng hóa, dịch vụ của chính phủ có căn cứ đúng theo giá trị thực sự của hàng hóa, dịch vụ hay không, người ta phải xem xét các điều kiện thị trường thông thường của hàng hóa, dịch vụ đó như giá cả, chất lượng, khả năng tiêu thụ, lượng sẵn có, vận chuyển và các điều kiện mua bán khác
Thứ tƣ, trợ cấp phải có tính riêng biệt Khi một biện pháp là trợ cấp bao gồm
đầy đủ 3 yếu tố trên theo nghĩa của Hiệp định SCM thì chưa hẳn đã thuộc phạm vi điều
Trang 15chỉnh của Hiệp định này, trừ phi trợ cấp đó có tính chất cụ thể, riêng biệt Nghĩa là nó được dành riêng cho một đơn vị hoặc ngành sản xuất hoặc nhóm doanh nghiệp hoặc nhóm ngành sản xuất nhất định Nước nhập khẩu muốn đối phó với hàng hóa được trợ cấp từ một nước khác bằng thuế đối kháng thì phải chứng minh được là hành động trợ cấp đó có tính chất riêng biệt và không phải là một biện pháp trợ cấp sẵn có chung cho
mọi đối tượng tại nước xuất khẩu
Tuy nhiên, để xác định tính riêng biệt của biện pháp trợ cấp không phải là đơn giản, ta phải căn cứ theo quy định pháp luật và việc áp dụng trợ cấp trên thực tế Một quốc gia thành viên khi muốn áp dụng biện pháp trợ cấp một cách hợp pháp, không vi phạm các quy tắc của WTO có thể quy định các biện pháp trợ cấp trong các văn bản pháp luật với những từ ngữ để làm cho chương trình trợ cấp mang lại lợi ích cho tất cả mọi người trong xã hội, hoặc ít nhất là đề xuất mang lại lợi ích một các phổ biến cho nhiều ngành sản xuất trong nước Tuy nhiên trên thực tế, chỉ có một số ít nhà sản xuất hoặc ngành sản xuất có thể đạt được lợi ích từ chương trình trợ cấp đó Như vậy, mặc
dù cơ sở pháp lý để áp dụng trợ cấp là phù hợp nhưng trên thực tế lợi ích đạt được chỉ dành cho một nhóm nhỏ thì biện pháp ấy vẫn bị xem là có tính riêng biệt và thuộc
phạm vi điều chỉnh của Hiệp định SCM Mặt khác, không phải mọi trợ cấp dành riêng
cho một hoặc một nhóm các nhà sản xuất đều bị gọi là trợ cấp riêng biệt Ví dụ như một doanh nghiệp muốn đầu tư vào ngành sản xuất đồ hộp tài một thành phố cảng, mục đích của họ là sản xuất cho cả thị trường trong nước và nước ngoài Nếu đặt cơ sở
ở đây thì họ sẽ giảm bớt chi phí vận chuyển hàng hóa ra cảng để đem đi xuất khẩu tuy nhiên chính phủ nước này lại muốn nhà máy này được đặt tại miền núi khó khăn để phát triển kinh tế tại khu vực đó Và giả sử, chính phủ chấp nhận trợ cấp cho doanh nghiệp tương đương với khoản chi phí gia tăng mà doanh nghiệp phải bỏ ra để đặt nhà máy tại miền núi khó khăn thay vì tại thành phố cảng Đây là một khoản trợ cấp chính phủ dành riêng cho một doanh nghiệp cụ thể và mặc dù nó có thể làm biến dạng hoạt động kinh tế trong lãnh thổ quốc gia đó, hoặc có thể làm giảm bớt phúc lợi xã hội nhưng chính phủ nước này được phép thực hiện điều này và nó không vi phạm những nguyên tắc và các quy định của WTO Thực vậy, hành động trợ cấp này được xem là trợ cấp không thể bị khiếu kiện được quy định trong Hiệp định SCM 4
Theo Điều 2 của Hiệp định SCM có 4 dạng trợ cấp mang “tính riêng biệt” sau:
- Theo doanh nghiệp: Đối tượng của trợ cấp là một hoặc một nhóm doanh nghiệp cụ thể;
- Theo ngành: Đối tượng của trợ cấp là một hoặc một nhóm ngành cụ thể
4 Điều 8.2(b)- Hiệp định SCM
Trang 16- Theo vùng: Đối tượng của trợ cấp là nhà sản xuất tại một hoặc một số địa phương nhất dịnh
- Trợ cấp bị cấm: Đối tượng được trợ cấp là hàng xuất khẩu hoặc hàng sử dụng đầu vào trong nước thay thế nhập khẩu Theo định nghĩa, các trợ cấp bị cấm đều bị coi
là mang tính riêng biệt
Trong thương mại quốc tế, có rất nhiều khái niệm khác nhau về trợ cấp và vẫn còn nhiều tranh cãi giữa các quốc gia Tuy nhiên, vẫn có một khái niệm được nhiều quốc gia công nhận và sử dụng phổ biến là khái niệm về trợ cấp trong Hiệp định SCM Trợ cấp là đối tượng được điều chỉnh trong Hiệp định SCM có 4 đặc điểm là có sự đóng góp tài chính; sự đóng góp tài chính đó là của chính phủ hoặc tổ chức công; đối tượng nhận trợ cấp có được lợi ích và trợ cấp đó phải mang tính riêng biệt
Ở đây, để phục vụ cho việc nghiên cứu, làm rõ cho đề tài, tác giả sẽ đi vào làm rõ các hình thức trợ cấp xuất khẩu được quy định trong Hiệp định SCM, bao gồm các hình thức trợ cấp bị cấm, trợ cấp không bị cấm nhưng có thể bị kiện và trợ cấp không thể bị kiện
1.1.2.1 Trợ cấp bị cấm
Trợ cấp bị cấm (hay còn gọi là trợ cấp đèn đỏ) được quy định tại Điều 3- Hiệp định SCM bao gồm:trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp khuyến khích sử dụng hàng nội địa thay thế hàng nhập khẩu Các loại trợ cấp này có thể tồn tại theo luật hoặc trên thực tế quy định cho hoạt động xuất khẩu Trong đó, trợ cấp xuất khẩu được hiểu là những trợ cấp dành riêng cho hoạt động xuất khẩu hay mục đích là hỗ trợ, đẩy mạnh khả năng xuất khẩu hàng hóa của quốc gia đó Ví dụ như thưởng xuất khẩu, miễn các khoản thuế trực thu có liên quan tới hàng xuất khẩu, phí vận tải chuyên chở trong nước đối với hàng xuất khẩu rẻ hơn so với hàng sản xuất phục vụ tiêu dùng nội địa Trợ cấp khuyến khích sử dụng hàng nội địa thay thế hàng nhập khẩu (hay còn được gọi là trợ cấp thay thế nhập khẩu) là loại trợ cấp gắn liền với điều kiện phải sử dụng được sản xuất trong nước thay cho hàng nhập khẩu Việc chính phủ chi trả các khoản nợ, trợ cấp cho các doanh nghiệp, các nhà sản xuất nội địa là phù hợp với quy định tại Điều III.8b- Hiệp
Trang 17định GATT 1994, không vi phạm quy định về đối xử quốc gia Tuy nhiên, nếu các khoản trợ cấp dành cho các nhà sản xuất trong nước nhằm mục đích thay thế hàng nhập khẩu bằng hàng nội địa, bảo hộ hàng nội địa thì nó đã vi phạm nguyên tắc đối xử quốc gia5
Trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp thay thế nhập khẩu khi được một quốc gia sử dụng chắc chắn sẽ dẫn đến việc bóp méo giá cả của hàng hóa nội địa cũng như hàng hóa xuất nhập khẩu, tạo nên sự không công bằng trong thương mại, gây ra những thiệt hại về lợi ích kinh tế cho các quốc gia khác Do đó, loại trợ cấp này bị cấm áp dụng cho cả quốc gia phát triển và quốc gia đang phát triển, trừ một số ngoại lệ được quy định trong Hiệp định Nông nghiệp hoặc các quy định dành riêng cho các thành viên đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi6
Nếu một quốc gia thành viên nghi ngờ và có lý do xác định một quốc gia thành viên khác áp dụng hoặc duy trì một trong những biện pháp trợ cấp bị cấm thì họ được yêu cầu tham vấn trực tiếp với bên kia Nếu 2 bên không đưa ra được một giải pháp cụ thể được các bên chấp nhận thì một trong các bên có quyền khởi kiện tại Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO (DSB) trong vòng 30 ngày kể từ ngày có yêu cầu tham vấn Thời hạn để giải quyết tranh chấp đối với vấn đề trợ cấp đèn đỏ chỉ bằng một nửa so với thời hạn thông thường được quy định trong Thỏa thuận về giải quyết tranh chấp7
1.1.2.2 Trợ cấp không bị cấm nhƣng có thể bị khiếu kiện
Trợ cấp không bị cấm nhưng có thể bị khiếu kiện (hay còn gọi là trợ cấp đèn vàng) được quy định tại Điều 5- Hiệp định SCM Đây là loại trợ cấp được phép sử dụng trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia Trợ cấp đèn vàng phải thỏa mãn các điều kiện về trợ cấp được nêu trong Điều 1- Hiệp định SCM là có sự hỗ trợ tài chính cụ thể của chính phủ cho doanh nghiệp nội địa; không thuộc nhóm biện pháp trợ cấp bị cấm (trợ cấp đèn đỏ) hoặc trợ cấp không thể đối kháng (trợ cấp đèn xanh) và trợ cấp đó phải gây tác động tiêu cực Các trường hợp cụ thể của “tác động tiêu cực” là gây tổn hại đối với ngành sản xuất trong nước của một nước thành viên WTO khác; làm mất hiệu lực hoặc làm giảm lợi ích trực tiếp hoặc gián tiếp dành cho một nước thành viên WTO khác; gây tổn hại nghiêm trọng đến lợi ích một nước thành viên khác Đây là tiêu chuẩn được sử dụng để một quốc gia thành viên WTO căn cứ vào đó nhằm khiếu kiện một hành vi trợ cấp của một nước thành viên khác gây ảnh hưởng cho nền sản xuất trong nước mình mà trợ cấp đó thuộc nhóm trợ cấp đèn vàng
Trang 18Trong Điều 6.1 của Hiệp định quy định cụ thể những trường hợp tồn tại tổn hại nghiêm trọng như tổng giá trị trợ cấp cho một sản phẩm vượt quá 5%; trợ cấp để bù đắp sự thua lỗ kéo dài của một doanh nghiệp hoặc một ngành sản xuất trong hoạt động kinh doanh (trừ khi biện pháp trợ cấp này chỉ áp dụng một lần, không lặp lại và nhằm tìm kiếm giải pháp lâu dài, tránh phát sinh những vấn đề xã hội gay gắt); trợ cấp trực tiếp xóa nợ hoặc cấp kinh phí để thanh toán nợ Theo Điều 31 của Hiệp định SCM thì Điều 6.1 đã hết hạn ngày 31-12-1999 và chưa được gia hạn Do đó, hiện nay để xác định tổn hại nghiêm trọng, các quốc gia thường căn cứ vào các trường hợp phát sinh tổn hại nghiêm trong quy định tại Điều 6.3 của Hiệp định SCM
Tổn hại nghiêm trọng có thể phát sinh trong một số trường hợp tại Điều 6.3 của Hiệp định Tổn hại nghiêm trọng có thể phát sinh khi: (a) trợ cấp làm triệt thoái hay ngăn cản nhập khẩu các sản phẩm tương tự của một Thành viên khác vào thị trường Thành viên đang áp dụng trợ cấp; (b) trợ cấp làm triệt thoái hay ngăn cản nhập khẩu các sản phẩm tương tự của một Thành viên khác từ thị trường một nước thứ ba; (c) trợ cấp làm hạ giá ở mức độ lớn của một sản phẩm được trợ cấp so với giá của một sản phẩm nhập khẩu tương tự trên cùng một thị trường hay gây ra ép giá, đè giá, hay giảm doanh số đáng kể trên cùng một thị trường; (d) trợ cấp làm tăng thị phần trên thế giới của một thành viên đang áp dụng trợ cấp với một sản phẩm hoặc mặt hàng chưa chế biến được trợ cấp so với mức thị phần trung bình của thành viên đó trong 3 năm trước hoặc trợ cấp như vậy duy trì một tốc độ tăng đều trong thời kỳ được trợ cấp Bên cạnh
đó, Điều 6.4 đến 6.6 đưa ra hướng dẫn chi tiết hơn về tiêu chí nêu ra trong điều 6.3 Với những quy định trên, ta nhận thấy đây là loại trợ cấp được sử dụng nhưng hạn chế và có điều kiện và không gây ra tác động tiêu cực cho những quốc gia khác để không bị những quốc gia khác khiếu kiện hay áp dụng các biện pháp đối kháng
1.1.2.3 Trợ cấp không bị khiếu kiện (trợ cấp đèn xanh)
Trợ cấp không bị khiếu kiện (hay còn gọi là trợ cấp đèn xanh) là những trợ cấp không thể bị kiện ra cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO hoặc bị áp dụng thuế chống trợ cấp Các khoản trợ cấp đèn xanh bao gồm trợ cấp không mang tính chất riêng biệt và trợ cấp mang tính chất riêng biệt nhưng thỏa mãn những điều kiện sau: trợ cấp của chính phủ hỗ trợ cho hoạt động nghiên cứu và phát triển, trợ cấp cho việc phát triển những vùng khó khăn và trợ cấp nhằm nâng cao cơ sở hạ tầng đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường Việc áp dụng loại trợ cấp này phải được thông báo trước cho Ủy ban về trợ cấp của WTO để Ủy ban này kiểm tra và kết luận
Trợ cấp nhằm hỗ trợ nghiên cứu và phát triển tiền cạnh tranh là những khoản trợ
cấp dành cho các dự án nghiên cứu của các doanh nghiệp hoặc các cơ sở đào tạo cao
Trang 19học trên cơ sở hợp đồng với các doanh nghiệp, cơ sở đó Trong đó, sự hỗ trợ của chính phủ chiến không quá 75% chi phí cho nghiên cứu công nghiệp hoặc 50% chi phí cho phát triển sản phẩm tiền cạnh tranh8 Bên cạnh đó, hành vi trợ cấp này phải thực hiện trong một giới hạn nhất định được quy định trong Hiệp định SCM Giới hạn nằm trong phạm vi chi phí nhân sự; chi phí công cụ, thiết bị, đất đai và nhà cửa; chi phí tư vấn và các dịch vụ tương đương và các chi phí khác chỉ sử dụng hoàn toàn cho hoạt động nghiên cứu
Trợ cấp dành cho những vùng khó khăn của một chính phủ không bị khiếu kiện
khi nó là một chương trình phát triển vùng chung và không mang tính chất riêng biệt Những vùng được hưởng loại trợ cấp này phải đáp ứng những điều kiện là mỗi vùng khó khăn phải được xác định rõ ràng về địa lý với những đặc điểm về kinh tế, hành chính có thể làm rõ; các tiêu chí xác định sự khó khăn9 phải vô tư, khách quan, không mang tính chất nhất thời và phải được quy định rõ ràng trong luật hay những văn bản chính thức khác để có thể kiểm tra
Trợ cấp nâng cao sơ sở hạ tầng phù hợp với yêu cầu bảo vệ môi trường nhằm
nâng cấp các máy móc thiết bị của các doanh nghiệp sản xuất trong nước theo tiêu chuẩn mới về môi trường quy định trong pháp luật Biện pháp trợ cấp này phải là biện pháp trợ cấp nhất thời, chỉ áp dụng một lần và không kéo dài; được giới hạn ở mức 20% chi phí nâng cấp10; không bao gồm chi phí thay thế và vận hành khoản đàu tư đã
hỗ trợ, những chi phí này do doanh nghiệp tự chi trả; phải liên quan trực tiếp hoặc phù hợp với chương trình giảm ô nhiễm và tiếng ồn của doanh nghiệp và được cấp cho những doanh nghiệp có thể thích nghi với các thiết bị hoặc quy trình sản xuất mới
Tuy nhiên, các điều khoản quy định này chỉ có hiệu lực trong vòng 5 năm và nó
đã hết giá trị pháp lý từ năm 2000 Do đó, hiện nay chỉ còn lại 2 loại trợ cấp được điều chỉnh trong Hiệp định SCM là nhóm trợ cấp đèn đỏ và nhóm trợ cấp đèn vàng
Tóm lại, hiện nay, trợ cấp theo quy định của Hiệp định SCM được phân thành 2 nhóm: trợ cấp bị cấm (hay trợ cấp đèn đỏ) và trợ cấp không bị cấm nhưng có thể bị khiếu kiện (hay trợ cấp đèn vàng) Trong đó, trợ cấp đèn đỏ bị các quốc gia thành viên thỏa thuận cấm sử dụng Nếu như một quốc gia nào sử dụng loại trợ cấp này thì dù có gây ra thiệt hại cho quốc gia khác hay không thì đều có thể bị khiếu kiện ra cơ quan giải quyết tranh chấp WTO Còn trợ cấp đèn vàng thì được phép sử dụng trong những
8
Điều 8.2(a)- Hiệp định SCM
9 Các tiêu chí xác định sự khó khăn dựa vào ít nhất một trong các yếu tố sau: dựa vào thu nhập theo đầu người hoăc thu nhập hộ gia đình theo đầu người hoặc tổng sản phẩm quốc gia (GDP) theo đầu người không quá 85% thu nhập bình quân của toàn quốc; hoặc dựa vào chỉ số thất nghiệp không dưới 110% so với mức thất nghiệp trung bình toàn quốc và được tính toán trong thời gian 3 năm
10 Điều 8.2(c)- Hiệp định SCM
Trang 20điều kiện nhất định Khi một quốc gia nào áp dụng trợ cấp mà gây ra hoặc đe dọa gây
ra thiệt hại cho quốc gia khác thì đều có thể bị áp dụng thuế chống trợ cấp Các quốc gia thành viên WTO đuề phải tuân thủ các quy định này nhằm đảm bảo, duy trì môi trường cạnh tranh, bình đẳng trong giao dịch thương mại quốc tế
1.1.3 Tác động của trợ cấp
1.1.3.1 Đối với nước thực hiện trợ cấp
Hành động trợ cấp của chính phủ thường thực hiện nhằm phục vụ lợi ích của một đối tượng nhất định có vai trò chi phối và ảnh hưởng chính trị lớn đối với chính phủ Chính phủ có thể trực tiếp hoặc gián tiếp trợ cấp cho các nhà sản xuất thông qua nhiều hình thức khác nhau Qua đó tăng khả năng và lợi thế cạnh tranh của hàng hóa được trợ cấp so với những hàng hóa tương tự khác Trợ cấp có vai trò quan trọng trong việc bảo
hộ nền sản xuất của một quốc gia, nhất là đối với những nước kém phát triển và những nước đang phát triển Ở những quốc gia này, nền kinh tế còn đang trong giai đoạn xây dựng và phát triển, kinh nghiệm, khoa học công nghệ chưa cao nên các mặt hàng sản xuất ra chưa có sức cạnh tranh được với những mặt hàng nhập khẩu từ những quốc gia
có sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật Do đó, việc trợ cấp của chính phủ lúc này là điều tất yếu nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp, từng bước phát triển kinh doanh thương mại, tạo chỗ đứng cho mình trên thị trường thế giới
Ngoài ra, đối với những công ty mới gia nhập thị trường, quy mô sản xuất còn nhỏ bé, thiếu vốn để trang trải những chi phí cao trong thời gian đầu, khó cạnh tranh nổi với những công ty đàn anh trên thị trường nên sự hỗ trợ của chính phủ cũng phần nào bù đắp những thua lỗ phát sinh trong thời gian đầu, đưa công ty vào quỹ đạo phát triển ổn định Bên cạnh đó, khuyến khích, tăng sức cạnh tranh cho những ngành sản xuất còn yếu kém, không có sức cạnh tranh với những ngành khác, hay hỗ trợ những doanh nghiệp hoạt động không có hiệu quả, không sinh lợi rút khỏi nền kinh tế một cách trật tự, ổn định cũng là một trong những tác động của trợ cấp đối với nền kinh tế Nhờ những tác động này góp phần duy trì ổn định trong nền kinh tế, tránh những trường hợp các doanh nghiệp phá sản một cách đột ngột, bất ngờ gây mất cân bằng đối với nền kinh tế và mất trật tự đối với xã hội
Đối với hàng hóa xuất khẩu, nhờ có trợ cấp mà hàng hóa có lợi thế cạnh tranh hơn trên thị trường nước ngoài Hàng hóa được trợ cấp nhờ những lợi thế đó mà có thể được nhập khẩu vào thị trường nước ngoài với số lượng tăng đáng kể hoặc giá cả hàng hóa nhập khẩu thấp hơn so với hàng hóa của nước nhập khẩu thì cũng tạo nên những thuận lợi hơn trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng thị trường xuất khẩu
Trang 21Tuy nhiên ngoài những tác động tích cực, trợ cấp cũng gây nên những tác động tiêu cực đối với nền kinh tế, đối với xã hội của một nước Nguồn ngân sách của chính phủ không phải là vô hạn và chỉ phục vụ cho một hay một vài mục tiêu nhất định, do
đó không thể thực hiện trợ cấp cho tất cả các ngành nghề kinh tế trong xã hội Vì vậy,
nó sẽ hạn chế khả năng nhận được trợ cấp của một số nhà sản xuất hoặc một số ngành nghề khác Khi những ngành này nhờ vào trợ cấp mà đạt lợi nhuận, các doanh nghiệp
sẽ có xu hướng đầu tư và một số nguồn lực khác tập trung vào ngành được trợ cấp gây nên sự mất cân bằng trên thị trường trong nước và cả thị trường nước ngoài, bóp méo
sự phân bổ nguồn lực xã hội.Mặt khác, không phải lúc nào biện pháp trợ cấp của chính phủ cũng đem lại những hiệu quả, lợi ích mà chính phủ đó mong muốn Những lợi nhuận thu được cũng có thể không bù đắp được hết những khoản chi phí mà quốc gia
đó bỏ ra để thực hiện trợ cấp Điều này gây nên những ảnh hưởng bất lợi cho ngân sách nhà nước, làm thâm hụt ngân sách nhà nước
Hành vi trợ cấp của chính phủ cũng là nguyên nhân phá vỡ quy tắc vận hành của thị trường, gây ra những bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong nước, giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài Mặc dù trợ cấp góp phần hỗ trợ cho sự phát triển kinh tế của quốc gia nhưng nó cũng có tác động đến quan hệ ngoại thương với quốc gia khác Bởi vì khi áp dụng các hình thức trợ cấp này, trong một số trường hợp các quốc gia sẽ vi phạm các cam kết song phương và đa phương…, thậm chí nó còn ảnh hưởng đến quan hệ chính trị giữa hai quốc gia với nhau
1.1.3.2 Đối với nước nhập khẩu hàng hóa được trợ cấp
Trong một số trường hợp, trên thị trường của nước nhập khẩu, hàng hóa được trợ cấp có những lợi thế hơn do được sự hỗ trợ tài chính của chính phủ, qua đó tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa đó trên thị trường nước ngoài Vì vậy hàng hóa nhập khẩu cạnh tranh mạnh mẽ với hàng hóa được sản xuất trong lãnh thổ Khi một quốc gia nhập khẩu hàng hóa được trợ cấp đồng nghĩa với việc hàng hóa của quốc gia đó sẽ bị ảnh hưởng, tạo nên áp lực cạnh tranh lớn trên thị trường Việc không thể cạnh tranh, gặp sức ép về giá cả trên chính thị trường trong nước có thể gây nên những tác động bất lợi cho nước nhập khẩu, gây nên những thiệt hại vật chất hoặc đe dọa gây thiệt hại cho nền sản xuất trong nước nhập khẩu
Khi hàng hóa được nhập khẩu vào một quốc gia, nước đó sẽ áp dụng thuế nhập khẩu đối với loại hàng hóa đó nhằm bảo hộ nền sản xuất trong nước, tăng ngân sách nhà nước Tuy nhiên, thông qua hành vi trợ cấp mà giá cả của hàng nhập khẩu không
bị ảnh hưởng nhiều; tác dụng bảo hộ mậu dịch của thuế nhập khẩu cũng bị giảm đi hoặc bị triệt tiêu Thuế nhập khẩu mà một quốc gia đánh lên hàng hóa được trợ cấp bị làm vô hiệu Khi đó, doanh nghiệp sản xuất hàng hóa tương tự trong nước nhập khẩu
Trang 22phải cạnh tranh với những doanh nghiệp nước ngoài có sự hậu thuẫn lớn về tài chính, khiến cho giá thị trường suy giảm mạnh và kéo dài, dẫn đến hậu quả những doanh nghiệp này bị thiệt hại hoặc có khả năng bị phá sản Thiệt hại này của doanh nghiệp có thể kéo theo một loạt các ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế trong nước Khi một doanh nghiệp bị phá sản thì tương ứng sẽ có một lượng người lao động đang làm việc tại doanh nghiệp đó mất việc làm, dẫn đến tình trạng thất nghiệp Vì vậy ngân sách nhà nước sẽ bị ảnh hưởng Nguồn thu ngân sách bị giảm do doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, phá sản; nhưng chi ngân sách nhà nước lại tăng lên do giải quyết các vấn đề về kinh tế-
xã hội như nạn thất nghiệp, thị phần kinh tế trong nước giảm… Bởi những ảnh hưởng nặng nề của trợ cấp đối với một quốc gia khác nên hành vi này bị hạn chế sử dụng trong thương mại quốc tế
1.1.3.3 Đối với nước thứ ba
Tương tự như nước nhập khẩu hàng hóa được trợ cấp, lợi thế cạnh tranh của hàng hóa của nước thứ ba trên thị trường quốc gia tiến hành trợ cấp hoặc trên thị trường nước nhập khẩu hàng hóa được trợ cấp bị giảm đi
Do những ảnh hưởng của hàng hóa được trợ cấp, quốc gia thứ ba cũng sẽ khó được cạnh tranh một cách công bằng với hàng hóa được trợ cấp Bởi vậy có khả năng khiến doanh thu của các doanh nghiệp sản xuất các hàng hóa tương tự như hàng hóa trợ cấp bị ảnh hưởng, có khả năng các doanh nghiệp sẽ bị lỗ vốn Điều này sẽ tạo áp lực kinh tế cho ngân sách của quốc gia này như giảm đi nguồn thu từ các khoản thuế
mà doanh nghiệp phải nộp, hay sẽ phải chi ngân sách để hỗ trợ các doanh nghiệp thua lỗ…
Tóm lại, theo WTO, trợ cấp là sự hỗ trợ tài chính của chính phủ hoặc tổ chức nhà nước công thực hiện, đem lại lợi ích cho đối tượng nhận được trợ cấp và trợ cấp phải có tính riêng biệt Trợ cấp được phân loại thành trợ cấp đèn đỏ và trợ cấp đèn vàng Mặc dù trợ cấp vẫn đem lại một số lợi ích cho các đối tượng được nhận trợ cấp, nhưng nó lại gây ra những ảnh hưởng tiêu cực cho các chủ thể khác như các doanh nghiệp, các ngành sản xuất của nước nhập khẩu hàng hóa được trợ cấp Chính vì vậy, các quốc gia thường áp dụng nhiều biện pháp khác nhau để đối phó với hành vi trợ cấp cho hàng hóa xuất khẩu của chính phủ nước ngoài là nguyên nhân gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước Biện pháp đối phó các quốc gia có thể sử dụng là các biện pháp hành chính, hay còn gọi là biện pháp phi thuế quan, như cấm nhập khẩu hàng hóa được trợ cấp, cấp quota, biện pháp hàng rào
kỹ thuật… Hoặc các nước cũng có thể áp dụng các biện pháp thuế quan như áp dụng thuế chống trợ cấp Trong các biện pháp này, thuế chống trợ cấp là biện pháp rõ ràng, chính xác nhất căn cứ vào mức độ trợ cấp mà chính phủ nước ngoài cấp doanh nghiệp
Trang 23hoặc ngành sản xuất nước đó Đặc biệt, biện pháp này được công nhận và quy định trong các văn bản pháp lý của WTO, cụ thể là Hiệp định SCM Để được quy định trong Hiệp định SCM, biện pháp này phải được sự thỏa thuận, đồng ý của các thành viên WTO Các nước khác khi gia nhập WTO cũng sẽ thực hiện theo các quy định này Vì vậy, biện pháp áp dụng thuế chống trợ cấp được tất cả các nước thành viên WTO công nhận và áp dụng Việt Nam cũng là một thành viên WTO nên để đối phó với hành vi trợ cấp gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước, Việt Nam cũng
sẽ áp dụng thuế chống trợ cấp Chính vì vậy, phần 2 sẽ phân tích các quy định pháp luật về thuế chống trợ cấp đối với hàng hóa nhập khẩu của Việt Nam
1.2 Pháp luật về thuế chống trợ cấp đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam
1.2.1 Cơ sở pháp lý về thuế chống trợ cấp
Để trở thành thành viên của WTO, Việt Nam phải cam kết thực hiện một số yêu cầu của các nước thành viên WTO như cắt giảm một số loại thuế, một số loại trợ cấp, tuân thủ những điều kiện, nguyên tắc hoạt động của WTO được quy định trong các Hiệp định song phương và đa phương được ký kết giữa các thành viên của WTO Bên cạnh đó, Việt Nam cũng phải xây dựng một số văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh vấn đề pháp lý cần thiết mà chưa có văn bản điều chỉnh cũng như sửa đổi một số điều luật sẵn có để phù hợp với những nguyên tắc hoạt động của WTO Trên cơ sở đó, các văn bản pháp luật quy định về thuế chống trơ cấp ra đời
Thuế chống trợ cấp được quy định trong Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là một loại thuế nhập khẩu bổ sung Do đó, trước tiên, thuế chống trợ cấp phải tuân thủ các quy đinh chung của pháp luật thuế xuất khẩu- nhập khẩu trong các văn bản như Luật thuế xuất khẩu- thuế nhập khẩu năm 2005, Nghị định số 149/2005/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết Luật thuế xuất khẩu- thuế nhập khẩu và các văn bản khác hướng dẫn thi hànhLuật thuế xuất khẩu- thuế nhập khẩu Ngoài ra, các nguyên tắc áp dụng, điều kiện
áp dụng và trình tự thủ tục áp dụng thuế chống trợ cấp cũng như căn cứ tính thuế chống trợ cấp được quy định một cách cụ thể trong Pháp lệnh số 22/2004/PL-UBTVQH11 về chống trợ cấp hàng nhập khẩu vào Việt Nam, Nghị định số 89/2005/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều Pháp lệnh thuế chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam và Thông tư số 106/2005/TT-BTC về hướng dẫn thu, nộp, hoàn trả thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp, và các khoản đảm bảo thanh toán thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp
Trang 24Hiện nay, thuế chống trợ cấp vẫn đang là một vấn đề mới mẻ đối với Việt Nam Tính đến nay Việt Nam vẫn chưa có trường hợp nào áp dụng thuế chống trợ cấp trong thực tế Vì vậy nước ta vẫn chưa có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực này
1.2.2 Khái niệm, đặc điểm của thuế chống trợ cấp
1.2.2.1 Khái niệm thuế chống trợ cấp
Theo WTO, thuế chống trợ cấp là một biện pháp thuế quan đặc biệt áp dụng nhằm mục đích triệt tiêu mọi khoản ưu đãi hay trợ cấp dành trực tiếp hay gián tiếp cho công đoạn chế biến, sản xuất hay xuất khẩu bất cứ hàng hóa nào11 Đây là một biện pháp nhằm mục đích chống lại những hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong thương mại quốc tế, đưa cạnh tranh về lại thế cân bằng
Gia nhập WTO là một cơ hội lớn cho Việt Nam phát triển nền kinh tế Nhưng bên cạnh đó cũng tồn tại những thách thức mà Việt Nam phải vượt qua Vốn là một đất nước đang phát triển và chưa được các nước thành viên WTO công nhận là nền kinh tế thị trường, chính phủ nước ta một mặt phải tăng cường mở cửa, bang giao kinh tế thông qua đàm phán cắt giảm thuế quan, loại bỏ các hàng rào phi thuế quan cản trở thương mại, mở cửa các lĩnh vực thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, cải thiện môi trường đầu tư-kinh doanh để tạo thuận lợi cho thương mại Mặt khác, thị trường của Việt Nam sẽ được mở rộng hơn sau khi gia nhập WTO,hàng hoá sẽ ồ ạt chảy vào với những chiến lược cạnh tranh khác nhau để chiếm lĩnh thị trường, loại bỏ đối thủ cạnh tranh ở nước sở tại Khi đó, ngành sản xuất trong nước phải đối mặt với sự cạnh tranh của hàng hóa nhập khẩu, nhất là từ các nước trong khối ASEAN, Trung Quốc,
Ấn Độ, Hàn Quốc và Đài Loan Vì vậy chính phủ phải dựng lên các hàng rào phi thuế, rào cản kỹ thuật hay đơn giản chỉ là áp dụng các biện pháp mà thế giới thừa nhận để bảo vệ các nhà sản xuất nước mình, đối phó với những hành vi cạnh tranh không lành mạnh của các quốc gia khác nhằm ổn định nền kinh tế Trong đó, việc đối phó với hành
vi trợ cấp gây những ảnh hưởng tiêu cực cho nền sản xuất, kinh doanh trong lãnh thổ quốc gia là hết sức cần thiết
Một trong những biện pháp hiện nay được sử dụng để chống lại hành động trợ cấp gây ảnh hưởng tiêu cực của một quốc gia là biện pháp đối kháng, cụ thể là biện pháp
áp dụng thuế chống trợ cấp Trong thương mại quốc tế, việc trợ cấp của chính phủ để bảo hộ, trợ giúp nền sản xuất, các doanh nghiệp trong nước là điều phổ biến Tuy nhiên nếu hành vi trợ cấp của quốc gia này, lại gây nên những bất lợi về kinh tế cho nước
11 Khoản 3- ĐIều VI- Hiệp định GATT
Trang 25khác thì hành vi này là không phù hợp với những nguyên tắc thương mại quốc tế, đặc biệt đối với các quốc gia là thành viên của WTO thì đó là việc vi phạm các quy định của Hiệp định của WTO Thuế chống trợ cấp ra đời với mục đích chống lại hành vi cạnh tranh không lành mạnh, tạo nên môi trường kinh doanh thương mại bình đẳng giữa các quốc gia với nhau
Ở Việt Nam, khái niệm về thuế chống trợ cấp được quy định tại khoản 3- Điều 2-
Pháp lệnh số 22/2004/PL-UBTVQH11; trong đó, thuế chống trợ cấp là thuế nhập khẩu
bổ sung được áp dụng trong trường hợp hàng hóa được trợ cấp nhập khẩu vào Việt Nam gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước
1.2.2.2 Đặc điểm của thuế chống trợ cấp
Thuế chống trợ cấp được áp dụng nhằm đối phó với hành vi trợ cấp của chính phủ nước ngoài cho hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam Chúng ta cần xác định rõ ràng các đặc điểm của thuế chống trợ cấp để phân biệt thuế chống trợ cấp với các loại thuế khác trong hệ thống pháp luật của Việt Nam
Thứ nhất, thuế chống trợ cấp là loại thuế nhập khẩu bổ sung Theo quy định
tại Luật thuế xuất khẩu- thuế nhập khẩu, thuế chống trợ cấp là thuế nhập khẩu bổ sung, nghĩa là nó không phát sinh một cách riêng lẻ, mà gắn liền với thuế nhập khẩu Khi có hàng hóa được trợ cấp nhập khẩu vào Việt Nam, hàng hóa đó sẽ bị đánh thuế nhập khẩu đầu tiên, sau đó, khi phát hiện ra hàng hóa đó được trợ cấp là nguyên nhân gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa thì nó cũng sẽ bị áp dụng thuế chống trợ cấp
Thứ hai, thuế chống trợ cấp là thuế đánh vào hành vi nhập khẩu hàng hóa đƣợc trợ cấp Đầu tiên, cần xác định được hàng hóa được nhập khẩu vào Việt Nam
Hàng hóa được nhập khẩu vào Việt Nam là hàng hóa được phép vận chuyển qua biên giới Việt Nam, hành vi vận chuyển này được thực hiện trên cơ sở quan hệ mua- bán, trao đổi, tặng cho… Trong đó, ta cần phân biệt khái niệm biên giới trong pháp luật thuế xuất khẩu –nhập khẩu khác với khái niệm biên giới trong theo công pháp quốc tế Biên giới trong công pháp quốc tế là biên giới hành chính, là đường phân chia lãnh thổ giữa hai quốc gia Còn khái niệm biên giới ở đây được hiểu là biên giới mềm theo góc độ kinh tế; là bao gồm cả biên giới hành chính và các địa khác như của khẩu bưu điện, đường sắt liên vận quốc tế, khu phi thuế quan12 Khi đó, hàng hóa được vận chuyển từ các khu vực này vào Việt Nam được xem là hành vi nhập khẩu hàng hóa
12
Khoản 1- ĐIều 1- Nghị định 87/2010/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Trang 26Nhưng không phải mọi hành vi nhập khẩu hàng hóa đều bị áp dụng thuế chống trợ cấp Chỉ khi nhập khẩu hàng hóa bị trợ cấp thì mới có khả năng bị áp dụng thuế chống trợ cấp Các hành vi trợ cấp của chính phủ bao gồm các hình thức trợ cấp quy định tại Điều 3- Pháp lệnh số 22/2004/PL-UBTVQH11 Khái niệm về trợ cấp và cá hành vi trợ cấp sẽ được phân tích rõ hơn ở phần 1.2.3 về đối tượng chịu thuế chống trợ cấp
Thứ ba, thuế chống trợ cấp có vai trò chống lại hành vi cạnh tranh không lành mạnh, đảm bảo môi trường kinh doanh công bằng giữa hàng trong nước và hàng xuất khẩu và bảo vệ nền sản xuất nội địa
- Chống lại hành vi cạnh tranh không lành mạnh, đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa hàng trong nước và hàng nhập khẩu
Hành vi trợ cấp của chính phủ là việc ưu đãi về miễn thu, thoái thu hoặc giảm những khoản thu đáng lẽ doanh nghiệp hoặc ngành sản xuất phải đóng hoặc giao vốn trực tiếp Nhờ vào hành vi đó mà có thể hàng hóa do doanh nghiệp sản xuất ra có thể bán ra trên thị trường với giá thấp hơn so với những doanh nghiệp không được hưởng trợ cấp Chính vì vậy, một nước nhập khẩu những loại hàng hóa được trợ cấp này, chúng có thể có giá thấp hơn so với những sản phẩm tương tự của nước nhập khẩu; nên hàng hóa nhập khẩu này sẽ có sức cạnh tranh lớn hơn so với những loại hàng hóa tương tự khác Điều này làm giảm sức cạnh tranh và khả năng tiêu thụ của những sản phẩm nội địa tương tự khác, gây nên sự mất cân bằng trên thị trường nước nhập khẩu
Thuế chống trợ cấp được áp dụng nhằm mục đích chống lại hành vi cạnh tranh không lành mạnh Khi nước nhập khẩu hàng hóa phát hiện được doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa được trợ cấp là nguyên nhân gây nên những tác động tiêu cực, làm mất cân bằng trên thị trường, nước đó có thể áp dụng thuế chống trợ cấp Khoản thuế này khi được áp dụng sẽ bù vào giá trị trợ cấp mà hàng hóa đó được trợ cấp, làm tăng giá trị của hàng hóa đó lên đúng hoặc gần đúng giá trị thông thường của nó, làm cân bằng sức cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, tạo nên môi trường cạnh tranh lành mạnh
- Bảo vệ nền sản xuất nội địa
Hàng hóa khi nhập khẩu vào Việt Nam sẽ bị đánh thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng và cũng có thể bị đánh thuế tiêu thụ đặc biệt Việc này làm tăng giá của hàng hóa nhập khẩu, làm giảm sức cạnh tranh của hàng hóa nhập khẩu so với hàng hóa nội địa Tuy nhiên, đối với hàng hóa được trợ cấp thì việc đánh thuế này cũng không ảnh hưởng nhiều đến sức cạnh tranh của nó trên thị trường, do đó có thể xem như trợ cấp làm vô hiệu vai trò, tác dụng của các loại thuế mà Việt Nam điều tiết vào hàng hóa đó
Trang 27Nếu giá của hàng nhập khẩu thấp hơn hàng nội địa thì người tiêu dùng sẽ ưu tiên lựa chọn hàng nhập khẩu, làm cho các ngành sản xuất trong nước sẽ bị ảnh hưởng Khi đó, việc áp dụng thuế chống trợ cấp sẽ phần nào hạn chế được sức cạnh tranh của hàng hóa nhập khẩu, bảo vệ cho nền sản xuất nội địa.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, việc mở của thị trường là điều tất yếu nên lượng hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam sẽ tăng lên, sự cạnh tranh giữa các nước sẽ ngày càng gay gắt Trong khi Việt Nam vẫn còn là một nước đang phát triển với kinh nghiệm còn hạn chế, công nghệ lạc hậu, thiếu thốn đầu tư nên khả năng cạnh tranh còn rất yếu, cần phải áp dụng những biện pháp nhằm bảo hộ tạm thời cho nền sản xuất trong nước Tuy nhiên, trong bối cảnh Việt Nam đã là thành viên của WTO, việc áp dụng các biện pháp mang tính hành chính nhằm hạn chế hàng hoa nhập khẩu là không được phép thì thuế chống trợ cấp chính là một trong những công cụ góp phần giúp Nhà nước thực hiện vai trò này
1.2.3 Đối tƣợng chịu thuế và đối tƣợng nộp thuế
Đối tượng chịu thuế
Thuế chống trợ cấp là một sắc thuế bổ sung của thuếnhập khẩu Vì vậy, đối tượng chịu thuế chống trợ cấp trước hết chính là đối tượng chịu thuế nhập khẩu Theo quy định tại Điều 2 của Luật thuế xuất khẩu- nhập khẩu 2005, hàng hóa nhập khẩu bao gồm hàng hóa được phép nhập khẩu qua cửa khẩu biên giới Việt Nam, hàng hóa được đưa
từ khu phi thuế quan vào thị trường trong nước và hàng hóa tạm nhập tái xuất Do có
có điểm giống nhau về đối tượng chịu thuế, nên đặc điểm của đối tượng chịu thuế chống trợ cấp giống đối tượng chịu thuế nhập khẩu Đó là: thuế chống trợ cấp chỉ áp dụng đối với hàng hóa chứ không áp dụng đối với dịch vụ; hàng hóa chịu thuế phải được phép nhập khẩu vào Việt Nam
Tuy nhiên, không phải hàng hóa nhập khẩu nào cũng bị áp dụng thuế chống trợ cấp, chỉ những hàng hóa nhập khẩu được trợ cấp mới bị áp dụng loại thuế này Theo quy định của pháp luật Việt Nam, các hình thức trợ cấp được quy định tại Điều 3- Pháp lệnh số 22/2004/PL-UBTVQH11, trong đó, trợ cấp là sự hỗ trợ về tài chính của Chính phủ hoặc cơ quan của Chính phủ dành cho tổ chức, cá nhân khi sản xuất, xuất khẩu hàng hóa vào Việt Nam và đem lại lợi ích cho tổ chức, cá nhân đó Nhưng chính phủ cần phải trải qua quá trình điều tra, xác định có đủ các điều kiện để được áp dụng thuế chống trợ cấp, chứ không thể tùy tiện áp dụng loại thuế này cho tất cả các hàng hóa được trợ cấp Sau quá trình điều tra mà có quyết định áp dụng thuế chống trợ cấp đối với loại hàng hóa nào, được nhập khẩu từ nước nào của Bộ trưởng Bộ Công thương thì
nó mới trở thành đối tượng chịu thế chống trợ cấp
Trang 28Các hình thức trợ cấp được quy định trong Pháp lệnh số 22/2004/PL-UBTVQH11 tương đồng với các quy định về hình thức của trợ cấp được quy định trong Hiệp định SCM của WTO Trợ cấp của chính phủ có thể tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Chính phủ có thể trợ cấp trực tiếp cho doanh nghiệp hoặc một số ngành sản xuất một cách trực tiếp như chuyển vốn cho tổ chức, cá nhân Hình thức chuyển vốn cũng rất đa dạng, có thể là cấp vốn, chuyển giao cổ phần, cho vay với lãi suất ưu đãi hoặc bảo lãnh để tổ chức, cá nhân được vay với lãi suất thấp hơn khi không có sự bảo lãnh này Mặt khác, trợ cấp cũng có thể tồn tại dưới hình thức gián tiếp Chính phủ hoặc cơ quan của chính phủ bỏ qua hoặc không thu những khoản thu
mà tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ phải nộp (ví dụ như hành vi miễn thuế, giảm thuế… ); hoặc cung cấp hàng hóa, dịch vụ không phải là cơ sở hạ tầng chung hoặc mua hàng hóa dịch vụ vào với giá cao và bán ra cho tổ chức, cá nhân với giá thấp hơn giá thị trường Ngoài ra, hành vi trợ cấp không chỉ thực hiện bởi chính phủ hoặc các cơ quan của chính phủ; nó còn có thể được thực hiện bởi một tổ chức khác khi tổ chức này thực hiện dưới sự ủy quyền của chính phủ hoặc cơ quan của chính phủ
Nhưng không phải bất kỳ hàng hóa nào bị trợ cấp cũng đều bị áp dụng thuế chống trợ cấp Những loại trợ cấp bị cấm và có thể bị khiếu kiện tuy không được quy định trong pháp luật Việt Nam, nhưng vì Việt Nam là một nước thành viên của WTO nên phải tuân thủ những quy định, nguyên tắc của tổ chức này Chính vì vậy, cần phải căn
cứ vào Hiệp định SCM để xác định loại trợ cấp nào có thể bị đánh thuế chống trợ cấp theo quy định trong Hiệp định SCM, trợ cấp được chia thành 3 nhóm, trợ cấp đèn đỏ, trợ cấp đèn vàng và trợ cấp đèn xanh; trong đó, trợ cấp đèn đỏ và trợ cấp đèn vàng là những loại trợ cấp có thể bị áp dụng thuế chống trợ cấp
Từ những quy định trong Hiệp định SCM, các hình thức trợ cấp có khả năng bị đánh thuế chống trợ cấp cụ thể trong pháp luật Việt Nam bao gồm chuyển vốn trực tiếp cho các doanh nghiệp, không thu các khoản thu mà doanh nghiệp có nghĩa vụ nộp và cung cấp hàng hóa, dịch vụ không phải là cơ sở hạ tầng
Đối tượng nộp thuế
Theo quy định tại mục II- Thông tư 106/2005/TT-BTC thì đối tượng nộp thuế là
tổ chức cá nhân nhập khẩu hàng hóa được trợ cấp Như vậy, đối tượng nộp thuế có thể
là bất kỳ chủ thể nào, không phân biệt là cá nhân hay tổ chức hay doanh nghiệp, không cấn xác định hình thức tổ chức như thế nào, có tư cách pháp nhân hay không… Nếu như họ thực hiện hành vi nhập khẩu hàng hóa được trợ cấp mà bị điều tra và kết luận là trợ cấp đó gây nên thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước của Bộ trưởng Bộ Công thương thì chủ thể này sẽ trở thành đối tượng nộp thuế chống trợ cấp Thông thường chủ thể thực hiện hành vi nhập khẩu hàng hóa là chủ hàng Tuy nhiên, trong một số
Trang 29trường hợp, chủ hàng sẽ ủy quyền cho một cá nhân tổ chức nào đó thực hiện hành vi nhập khẩu hàng hóa, thực hiện các thủ tục hải quan khi nhập hàng Khi đó, dù không phải là chủ hàng nhưng các chủ thể này cũng thực hiện hành vi nhập khẩu hàng hóa nên cũng được xem là đối tượng nộp thuế
1.2.4 Điều kiện áp dụng thuế chống trợ cấp
Theo thông lệ, để áp dụng thuế chống trợ cấp một cách hợp lý, các nước thành viên WTO phải chứng minh được 3 điều kiện sau: chứng minh có hành vi trợ cấp của chính phủ nước xuất khẩu cho hàng hóa nhập khẩu sang nước khác, có thiệt hại vật chất xảy ra cho ngành sản xuất hàng hóa tương tự trong nước nhập khẩu và có quan hệ nhân quả giữa việc hàng hóa nhập khẩu được trợ cấp với thiệt hại xảy ra (nghĩa là hành
vi trợ cấp là nguyên nhân gây ra thiệt hại đối với ngành sản xuất nước nhập khẩu) Việc áp dụng nguyên tắc này nhằm ngăn ngừa việc các cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu áp dụng thuế chống trợ cấp đối với bất kỳ hàng hóa nhập khẩu nào của
cá nhân, tổ chức một nước khác một cách tùy tiện, vô lý nhằm bảo hộ một cách tiêu cực cho những ngành sản xuất trong nước
Bởi vì Việt Nam là một thành viên của WTO nên phải tuân thủ theo các nguyên tắc này Theo quy định của pháp luật Việt Nam, thuế chống trợ cấp chỉ được áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam khi có đủ các điều kiện sau: hàng hóa nhập khẩu được xác định có trợ cấp; hàng hóa nhập khẩu có trợ cấp đó là nguyên nhân gây
ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước So với các điều kiện quy định trong Hiệp định SCM về điều kiện áp dụng thuế chống trợ cấp thì quy định trong pháp luật Việt Nam là tương tự; nhưng rút gọn lại còn 2 điều kiện Việc áp dụng biện pháp chống trợ cấp phải trải qua quá trình điều tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam Nếu kết luận cuối cùng của cơ quan điều tra là đầy đủ các điều kiện thì Bộ trưởng Bộ Công thương ra quyết định áp dụng thuế chống trợ cấp13
1.2.4.1 Điều kiện đầu tiên là hàng hóa nhập khẩu đƣợc xác định có trợ cấp
Đầu tiên, cơ quan có thẩm quyền cần xác định được có hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam được trợ cấp Khái niệm về trợ cấp và các hình thức trợ cấp đã được phân tích trong khóa luận tại phần đối tượng nộp thuế Sau khi xác định được như thế nào là
13 Quy định này được thực hiện trên cơ sở là nguyên tắc áp dụng biện pháp chống trợ cấp quy định tại khoản 2- Điều 5- Pháp lệnh số 22/2004/PL-UBTVQH11 ngày 20/8/2004 vềchống trợ cấp đối với hàng hóa nhập khẩu vào
Việt Nam
Trang 30trợ cấp, để dễ dàng tính toán mức thuế chống trợ cấp sẽ được áp dụng, ta cần phải xác định được mức trợ cấp mà chính phủ nước ngoài đã chi trả cho hàng hóa được xuất khẩu hàng hóa bị điều tra
Mức tính trợ cấp mà tổ chức, cá nhân được hưởng
Để xác định giá trị trợ cấp, cơ quan điều tra áp dụng thuế chống trợ cấp phải tính toán được mức trợ cấp mà tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa được hưởng Nguyên tắc áp dụng thuế chống trợ cấp là chỉ áp dụng thuế chống trợ cấp ở mức cần thiết và hợp lý nhằm ngăn ngừa hoặc hạn chế những thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước, nên việc xác định mức trợ cấp mà hàng hóa nhập khẩu được hưởng là điều cần thiết Mỗi quốc gia có một chính sách trợ cấp khác nhau và các chi phí hỗ trợ, chi trả cho các doanh nghiệp, các ngành sản xuất là khác nhau Do đó, mỗi vụ việc trợ cấp là khác nhau nên bắt buộc phải xác định mức trợ cấp để làm căn cứ xác định thuế chống trợ cấp
Tùy thuộc vào mỗi loại trợ cấp mà cách tính tổng giá trị trợ cấp là khác nhau Các trường hợp xác định tổng giá trị trợ cấp được quy định tại khoản 2- Điều 14- Pháp lệnh
số 22/2004/PL-UBTVQH11 Trường hợp chính phủ hỗ trợ cho tổ chức, cá nhân một khoản trợ cấp không hoàn lại thì giá trị của trợ cấp sẽ được xác định trên cơ sở giá trị trợ cấp thực tế mà tổ chức, cá nhân đó nhận được Nếu trợ cấp là một khoản vay thì giá trị trợ cấp được tính trên cơ sở chênh lệch giữa mức lãi suất tổ chức, cá nhân phải trả cho khoản vay đó theo điều kiện thương mại bình thường và mức lãi suất mà tổ chức,
cá nhân thực tế phải trả Giá trị trợ cấp cũng có thể được xác định trên cơ sở phần chênh lệch giữa mức lãi suất phải trả trong trường hợp không được bảo lãnh và mức lãi suất thực tế phải trả khi được bảo lãnh trong trường hợp trợ cấp được cấp dưới hình thức bảo lãnh vay Hoặc nếu doanh nghiệp được chính phủ trợ cấp bằng hình thức chuyển giao cổ phần thì giá trị trợ cấp được xác định trên cơ sở lượng vốn thực tế mà doanh nghiệp được nhận Hoặc trường hợp trợ cấp được cấp dưới hình thức Chính phủ hoặc cơ quan của Chính phủ mua hàng hóa, dịch vụ vào với giá cao hơn giá thị trường
và bán ra với giá thấp hơn hoặc bằng giá thị trường cho tổ chức, cá nhân thì giá trị trợ cấp được xác định trên cơ sở phần chênh lệch giữa giá thị trường với giá thực tế mà Chính phủ hoặc cơ quan của Chính phủ phải trả cho hàng hóa, dịch vụ đó hoặc phần chênh lệch giữa giá mua vào với giá bán ra của Chính phủ hoặc cơ quan của Chính phủ cho tổ chức, cá nhân
Dù được xác định bằng cách nào thì giá trị trợ cấp vẫn sẽ được tính một cách công bằng, hợp lý và không trái với thông lệ quốc tế
Trang 311.2.4.2 Điều kiện thứ hai để áp dụng thuế chống trợ cấp là hàng hóa được trợ cấp là nguyên nhân gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước
Mặc dù đối phó với hành động trợ cấp của một quốc gia là hành động chính đáng nhưng việc áp dụng thuế chống trợ cấp cũng không được áp dụng tùy tiện Giả sử như Việt Nam nhập khẩu hàng hóa được trợ cấp nhưng hàng hóa đó không gây ra thiệt hại đáng kể hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước của Việt Nam thì dù có đủ bằng chứng để chứng minh hàng hóa nhập khẩu đó được trợ cấp thì vẫn không đủ điều kiện để áp dụng thuế chống trợ cấp đối với hàng hóa đó Bởi vậy, nếu nói hàng hóa nhập khẩu phải được trợ cấp là điều kiện cần để áp dụng thuế chống trợ cấp, thì điều kiện đủ là hàng hóa được trợ cấp đó là nguyên nhân gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước
Khái niệm ngành sản xuất trong nước
Khoản 2- Điều 2- Pháp lệnh số 22/2004/PL-UBTVQH11 có quy định ngành sản
xuất trong nước là tập hợp các nhà sản xuất trong nước hoặc đại diện của họ có khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hóa sản xuất chiếm tỷ lệ chủ yếu trong tổng khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hoá tương tự được sản xuất ở trong nước với điều kiện các nhà sản xuất này không nhập khẩu và không có mối quan hệ liên kết trực tiếp với tổ chức, cá nhân sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống trợ cấp
Thông thường, ngành sản xuất trong nước được xem là tập hợp tất cả những nhà sản xuất, kinh doanh trên lãnh thổ quốc gia Tuy nhiên, những nhà sản xuất có liên hệ với những nhà sản xuất, xuất nhập khẩu hàng hóa được trợ cấp hoặc chính họ là người sản xuất, nhập khẩu những hàng hóa được trợ cấp vào Việt Nam thì không được tính vào nhóm ngành sản xuất trong nước này Nói cách khác, ngành sản xuất trong nước bao gồm các nhà sản xuất trong nước trừ những nhà sản xuất nhập khẩu và có mối liên kết trực tiếp với tổ chức, cá nhân sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa bị yêu cầu
áp dụng biện pháp chống trợ cấp
Các nhà sản xuất được xem là có mối liên hệ liên kết trực tiếp với tổ chức, cá nhân sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống trợ cấp bao gồm các trường hợp: (i) bên này trực tiếp hoặc gián tiếp kiểm soát bên kia; (ii)
tất cả trực tiếp hoặc gián tiếp bị kiểm soát một bên thứ ba; (iii) cùng trực tiếp hoặc gián
Trang 32tiếp kiểm soát bên thứ ba14 Một bên bị xem là kiểm soát một bên khác khi bên đó có quyền chi phối cá chính sách tài chính, hoạt động của bên khác nhằm thu được lợi ích kinh tế từ hoạt động kinh doanh của bên khác đó
Trong định nghĩa về ngành sản xuất có cụm từ “hàng hóa tương tự” Đây là một
khái niệm gây ra nhiều tranh cãi và mâu thuẫn trong quan hệ thương mại quốc tế Tại khoản 6- Điều 2- Pháp lệnh 22/2004/PL-UBTVQH11 có định nghĩa về hàng hóa tương
tự, trong đó hàng hoá tương tự là hàng hoá có tất cả các đặc tính giống với hàng hóa
bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống trợ cấp hoặc trong trường hợp không có hàng hóa nào như vậy thì là hàng hóa có nhiều đặc tính cơ bản giống với hàng hóa bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống trợ cấp.Bên cạnh đó, khoản 8- ĐIều 2- Nghị định số
40/2007/NĐ-CP ngày 16 tháng 3 năm 2007 về xác định trị giá hải quan đối với hàng
hóa xuất khẩu, nhập khẩu cũng có quy định về hàng hóa tương tự Trong đó, hàng hoá
nhập khẩu tương tự là những hàng hoá mặc dù không giống nhau về mọi phương diện nhưng có các đặc trưng cơ bản giống nhau, được làm từ các nguyên, vật liệu giống nhau; có cùng chức năng và có thể hoán đổi cho nhau trong giao dịch thương mại; được sản xuất ở cùng một nước, bởi cùng một nhà sản xuất hoặc nhà sản xuất khác theo sự uỷ quyền của nhà sản xuất đó, được nhập khẩu vào Việt Nam.Từ hai khái niệm
trên, ta thấy các đặc tính của hàng hóa nhập khẩu tương tự bao gồm chức năng, công dụng, khả năng hoán đổi cho nhau và các thuộc tính cơ bản khác như nguyên vật liệu, tính vật lý…giống với hàng hóa được sản xuất trong nước.Các quy định cụ thể để xác định hàng hóa tương tự còn được quy đinh trong Thông tư số 204/2010/TT-BTC ngày
15 tháng 12 năm 2010 hướng dẫn chi tiết Nghị định số 40/2002/NĐ-CP về xác định trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Mặc dù được quy định chi tiết như vậy nhưng việc xác định hàng hóa tương tự vẫn còn nhiều khó khăn bởi vì nó còn nhiều tranh cãi về các tiêu chí xác định hàng hóa tương tự giữa các nhà làm luật trong nước và cả nước ngoài
Xác định thiệt hại và đe dọa gây ra thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước
Sau khi xác định được đầy đủ bằng chứng là có hàng hóa được trợ cấp nhập khẩu vào Việt Nam và trợ cấp đó có thể bị áp dụng thuế chống trợ cấp, chính phủ cần chứng minh hành động trợ cấp đó gây tác động tiêu cực cho ngành sản xuất trong nước Nói cách khác, phải xác định được hàng hóa nhập khẩu có trợ cấp gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước Khoản 4,5- Điều 2- Pháp
14
Khoản 1- ĐIều 6- Nghị định số 89/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 về quy định chi tiết một số điều của pháp luật chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam
Trang 33lệnh số 22/2004/PL-UBTVQH11 quy định như thế nào là thiệt hại và đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể
Khái niệm thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước là tình trạng suy giảm
đáng kể hoặc kìm hãm tăng trưởng về sản lượng, mức giá, mức tiêu thụ hàng hóa, lợi nhuận, tốc độ phát triển sản xuất, việc làm của người lao động, đầu tư và các chỉ tiêu khác của ngành sản xuất trong nước hoặc là tình trạng dẫn đến khó khăn cho việc hình thành một ngành sản xuất trong nước Còn đe doạ gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước là khả năng trước mắt, rõ ràng và chứng minh được sẽ gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước Việc xác định thiệt hại hoặc nguy cơ gây thiệt hại phải dựa vào những bằng chứng có thật, cụ thể nhằm giúp cho việc áp dụng thuế chống trợ cấp một cách hợp lý, công bằng, ngăn ngừa hoặc hạn chế thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước
Để xác định thiệt hại và đe dọa gây ra thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước, cần có sự đánh giá toàn diện về nhiều mặt
Đầu tiên, xác định thiệt hại căn cứ vào giá bán hàng hóa nhập khẩu được hưởng trợ cấp giá bán này sẽ thấp, làm cho số lượng, khối lượng hoặc trị giá hàng hóa nhập khẩu này đã và đang tăng lên đáng kể; và đây là nguyên nhân giảm thị phần của ngành sản xuất trong nước, thay đổi cơ cấu tiêu thụ, giảm năng suất của ngành sản xuất trong nước Việc xác định số lượng, khối lượng hoặc trị giá hàng hóa nhập khẩu được trợ cấp nhập khẩu vào Việt Nam có đáng kể hay không căn cứ vào Điều 4- Thông tư 89/2005 Khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hóa được trợ cấp nhập khẩu vào Việt Nam được coi là không đáng kể khi (i) khối lượng, số lượng hoặc trị giá của hàng hóa được trợ cấp nhập khẩu từ một nước không vượt quá 3% tống khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hóa tương tự nhập khẩu vào Việt Nam và (ii) tổng khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hóa được trợ cấp nhập khẩu từ nhiều nước đáp ứng điều kiện trên không vượt quá 7% tổng khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hóa tương tự nhập khẩu vào Việt Nam
Thiệt hại cũng có thể xảy ra dogiá hàng hóa nhập khẩu thấp vì được hưởng trợ cấp dẫn đến giá hàng hóa do ngành sản xuất trong nước bị giảm theo Trong trường hợp này, hàng hóa nhập khẩu được hưởng trợ cấp sẽ có giá thành thấp hơn so với hàng hóa sản xuất trong nước Chính vì thế, để cạnh tranh với những hàng hóa này, những nhà sản xuất, kinh doanh Việt Nam phải hạ giá thành sản phẩm trong nước Nhưng khi
đó, việc sản xuất, kinh doanh của họ sẽ thu được ít lợi nhuận hơn hoặc cũng có thể không thu được lợi nhuận mà còn bị thua lỗ Điều này sẽ gây thiệt hại cho các ngành sản xuất trong nước, ảnh hưởng đến nền kinh tế của Việt Nam
Trang 34Các chỉ số kinh tế cũng có thể giúp các cơ quan điều tra xác định thiệt hại của ngành sản xuất trong nước Tác động của hàng hóa nhập khẩu được trợ cấp đối với các yếu tố về chỉ số kinh tế, năng suất, lợi nhuận của ngành sản xuất trong nước Sự tác động ở đây đề cập đến sự suy giảm của một số yếu tố và chỉ tiêu kinh tế liên quan đến tình trạng ngành sản xuất trong nước như sản lượng, doanh số tiêu thụ, thị phần, lợi nhuận, năng suất…
Thiệt hại cũng có thể xảy ra khi nhận thấy được tác động của hàng hóa nhập khẩu được trợ cấp trong tương quan với sản lượng của sản phẩm tương tự sản xuất trong nước Trường hợp việc xác định đó không thực hiện được thì tác động này được đánh giá thông qua việc xem xét sản lượng của một nhóm sản phẩm nhất định hoặc một sản phẩm trong phạm vi hẹp nhất của sản phẩm tương tự sản xuất trong nước
Khi hàng hóa nhập khẩu từ hai hay nhiều nước hoặc vùng lãnh thổ cùng là đối tượng điều tra để áp dụng biện pháp chống trợ cấp thì cơ quan điều tra có thể đánh giá tác động của việc nhập khẩu từ các nước hoặc vùng lãnh thổ đó khi đã xác định được: (a) Tổng giá trị trợ cấp được áp dụng liên quan tới hàng hóa nhập khẩu từ từng nước hoặc vùng lãnh thổ là đáng kể và khối lượng hàng hóa nhập khẩu từ mỗi nước hoặc vùng lãnh thổ là đáng kể; (b) Điều kiện cạnh tranh giữa hàng hóa nhập khẩu với nhau
và điều kiện cạnh tranh giữa hàng hóa nhập khẩu với hàng hóa do ngành sản xuất trong nước sản xuất để làm cơ sở hợp lý cho việc đánh giá tác động Sau khi đã xác định được 2 yếu tố trên thì việc tiến hành xác định thiệt hại đáng kể cũng phải xem xét đến các tác động của hàng hóa nhập khẩu được trợ cấp như đã nêu ở trên
Trong một số trường hợp, thiệt hại đáng kể chưa xảy ra ngay tại thời điểm tổ chức, cá nhân yêu cầu cơ quan có thẩm quyền áp dụng thuế chống trợ; nhưng có cơ sở, bằng chứng chứng minh nguy cơ xảy ra thiệt hại đáng kể trong tương lai thì cơ quan điều tra vẫn có thể tiến hành điều tra áp dụng thuế chống trợ cấp Khi đó, việc xác định các nguy cơ gây thiệt hại được tiến hành trên cơ sở các dữ liệu thực tế chứ không dựa vào các phỏng đoán hoặc căn cứ trên những khả năng quá xa
Việc áp dụng thuế chống trợ cấp sẽ bảo vệ được nền sản xuất trong nước, tạo môi trường cạnh tranh bình đắng cho doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài Nhưng nếu việc áp dụng thuế chống trợ cấp không đúng nguyên tắc, đúng quy định thì sẽ gây tác động tiêu cực đến quan hệ chính trị, ngoại giao giữa Việt Nam và chính phủ nước bị áp dụng thuế chống trợ cấp Vì bản chất trợ cấp là hành vi của chính phủ, nên khi áp dụng thuế chống trợ cấp đối với hàng nhập khẩu nghĩa là sẽ tác động vào chính phủ nước xuất khẩu Do đó, cần phải tuân thủ đầy đủ các điều kiện, nguyên tắc, quy định khi tiến hành điều tra áp dụng thuế chống trợ Khi áp dụng thuế
Trang 35chống trợ cấp, cần phải đáp ứng đủ hai điều kiện: có hàng hóa trợ nhập khẩu được trợ cấp và hàng hóa được trợ cấp là nguyên nhân gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng
kể cho ngành sản xuất trong nước Viêc xác định hai điều kiện này phải trải qua quá trình điều tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
1.2.5 Căn cứ tính thuế
Thuế chống trợ cấp là loại thuế được áp dụng cho hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam có trợ cấp Thuế chống trợ cấp mà đối tượng nộp thuế phải nộp được xác định theo công thức sau15:
Thuế chống trợ
cấp
khẩu bị áp dụng thuế chống trợ cấp
tính thuế
cấp là thuế bổ sung của thuế nhập khẩu, nên cách tính số lượng hàng hóa nhập khẩu bị
áp dụng thuế chống trợ cấp cũng tương tự như cách tính số lượng hàng hóa làm căn cứ tính thuế nhập khẩu Theo đó, số lượng hàng hóa nhập khẩu được trợ cấp được ghi trên
tờ khai hải quan Số lượng hàng hóa ghi trong tờ khai hải quan là số lượng hàng hóa phù hợp với số lượng hàng hóa trong hợp đồng giao dịch giữa nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu Nhưng trong một số trường hợp, để trốn thuế thì hai bên có thể thỏa thuận ghi trong hợp đồng số lượng hàng hóa ít hơn số lượng hàng hóa nhập khẩu thực thế Để tránh tình trạng này, cơ quan hải quan cần phải tổ chức kiểm tra, xác định số lượng hàng hóa thực tế để làm căn cứ tính thuế một cách chính xác Tuy nhiên, hiện nay cùng với việc tự do thương mại, giao lưu giữa các quốc gia thì số lượng hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam ngày càng nhiều, điều này làm cho việc kiểm tra từng lô hàng là rất khó khăn và tốn nhiều thời gian, nhân lực Do đó, lực lượng hải quan chỉ có thể kiểm tra những lô hàng có dấu hiệu nghi vấn hoặc những lô hàng phải kiểm tra cụ thể Ví dụ như đối với những lô hàng có giá trị cao như vàng thì các cán bộ hải quan sẽ kiểm tra
cụ thể Bởi vì nếu có hành vi gian lận, trốn thuế đối với những mặt hàng này thì sẽ làm
15
Mục III.2- Thông tư 106/2005/TT- BTCngày 5 tháng 12 năm 2005 hướng dẫn thu, nộp, hoàn trả thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp và các khoản đảm bảo thanh toán thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp