Để góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản lý cư trú đối với người nước ngoài tại Việt Nam đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu có liên quan nhưng chủ yếu tập trung làm rõ cá
Trang 1
MAI THỊ HỒNG TIẾN
PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CƯ TRÚ ĐỐI VỚI NGƯỜI NƯỚC NGOÀI
QUA THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TỈNH NINH THUẬN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Ninh Thuận, tháng 10 năm 2019
Trang 2
MAI THỊ HỒNG TIẾN
PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CƯ TRÚ ĐỐI VỚI NGƯỜI NƯỚC NGOÀI
QUA THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TỈNH NINH THUẬN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 8380107 GVHD: TS ĐOÀN THỊ PHƯƠNG DIỆP
Ninh Thuận, tháng 10 năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các lý luận, nghiên cứu trong luận văn do tôi tự tìm hiểu, phân tích Các số liệu, trích dẫn có nguồn gốc rõ ràng, đảm bảo độ tin cậy, khách quan và chính xác Đề tài luận văn chưa được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác
Ninh Thuận, ngày 28 tháng 10 năm 2019
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
MAI THỊ HỒNG TIẾN
Trang 4MỤC LỤC TRANG PHỤ LỤC BÌA
LỜI CAM ĐOAN
1.1.1 Khái niệm về người nước ngoài và quản lý cư trú đối với người nước ngoài 6 1.1.2 Đặc điểm của quản lý cư trú đối với người nước ngoài 11
1.2 Nguyên tắc quản lý cư trú đối với người nước ngoài 17 1.3 Những yếu tố tác động đến hoạt động quản lý cư trú đối với người nước ngoài 20
1.3.1 Các yếu tố bên ngoài 20 1.3.2 Các yếu tố bên trong 21
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ QUẢN LÝ CƯ TRÚ ĐỐI VỚI NGƯỜI NƯỚC NGOÀI VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TỈNH NINH THUẬN 25 2.1 Quy định pháp luật về quản lý tạm trú đối với người nước ngoài và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Ninh Thuận 25
2.1.1 Quy định về chứng nhận tạm trú đối với người nước ngoài 25
Trang 52.1.2 Quy định về cấp thẻ tạm trú đối với người nước ngoài 33 2.1.3 Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về quản lý tạm trú đối với người nước ngoài tại tỉnh Ninh Thuận 37
2.2 Quy định pháp luật về quản lý thường trú đối với người nước ngoài và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Ninh Thuận 40
2.2.1 Quy định về quản lý thường trú đối với người nước ngoài 40 2.2.2 Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về quản lý thường trú đối với người nước ngoài tại tỉnh Ninh Thuận 46
CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ GIẢI PHÁP NÂNG
3.1 Thực trạng chung về quản lý cư trú đối với người ngước ngoài 48 3.2 Sự cần thiết hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả quản lý cư trú đối với người nước ngoài 51
3.2.1 Xuất phát từ nhu cầu phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật 51 3.2.2 Xuất phát từ vướng mắc trong triển khai thi hành 54
3.3 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả quản
lý cư trú đối với người nước ngoài trong thời gian tới 55
3.3.1 Kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản lý cư trú đối với người nước ngoài 55 3.3.2 Một số giải pháp khác 59
KẾT LUẬN 68 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 Luật NC, XC, QC, CT: Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của
người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014
2 NG1: Thị thực cấp cho thành viên đoàn khách mời của Tổng Bí thư Ban
Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ
3 NG2: Thị thực cấp cho thành viên đoàn khách mời của Thường trực Ban Bí
thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch Quốc hội, Phó Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước; thành viên đoàn khách mời cùng cấp của Bộ trưởng và tương đương, Bí thư tỉnh ủy, Bí thư thành ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
4 NG3: Thị thực cấp cho thành viên cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh
sự, cơ quan đại diện tổ chức quốc tế thuộc Liên hợp quốc, cơ quan đại diện tổ chức liên chính phủ và vợ, chồng, con dưới 18 tuổi, người giúp việc cùng đi theo nhiệm kỳ
5 NG4: Thị thực cấp cho người vào làm việc với cơ quan đại diện ngoại giao,
cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện tổ chức quốc tế thuộc Liên hợp quốc, cơ quan đại diện tổ chức liên chính phủ; người vào thăm thành viên cơ quan đại diện ngoại giao,
cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện tổ chức quốc tế thuộc Liên hợp quốc, cơ quan đại diện tổ chức liên chính phủ
6 LV1: Thị thực cấp cho người vào làm việc với các ban, cơ quan, đơn vị trực
thuộc trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam; Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; tỉnh ủy, thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
Trang 77 LV2: Thị thực cấp cho người vào làm việc với các tổ chức chính trị - xã hội,
tổ chức xã hội, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
8 ĐT: Thị thực cấp cho nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và luật sư nước
ngoài hành nghề tại Việt Nam
9 DN: Thị thực cấp cho người vào làm việc với doanh nghiệp tại Việt Nam
10 NN1: Thị thực cấp cho người là Trưởng văn phòng đại diện, dự án của tổ
chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam
11 NN2: Thị thực cấp cho người đứng đầu văn phòng đại diện, chi nhánh của
thương nhân nước ngoài, văn phòng đại diện tổ chức kinh tế, văn hóa, tổ chức chuyên môn khác của nước ngoài tại Việt Nam
12 NN3: Thị thực cấp cho người vào làm việc với tổ chức phi chính phủ nước
ngoài, văn phòng đại diện, chi nhánh của thương nhân nước ngoài, văn phòng đại diện
tổ chức kinh tế, văn hóa và tổ chức chuyên môn khác của nước ngoài tại Việt Nam
13 DH: Thị thực cấp cho người vào thực tập, học tập
14 HN: Thị thực cấp cho người vào dự hội nghị, hội thảo
15 PV1: Thị thực cấp cho phóng viên, báo chí thường trú tại Việt Nam
16 PV2: Thị thực cấp cho phóng viên, báo chí vào hoạt động ngắn hạn tại Việt
Nam
17 LĐ: Thị thực cấp cho người vào lao động
18 DL: Thị thực cấp cho người vào du lịch
Trang 819 TT: Thị thực cấp cho người nước ngoài là vợ, chồng, con dưới 18 tuổi của
người nước ngoài được cấp thị thực ký hiệu LV1, LV2, ĐT, NN1, NN2, DH, PV1, LĐ hoặc người nước ngoài là cha, mẹ, vợ, chồng, con của công dân Việt Nam
20 VR: Thị thực cấp cho người vào thăm người thân hoặc với mục đích khác
21 SQ: Thị thực cấp cho các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 17 của Luật
này
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Thống kê số lượng giải quyết tiếp nhận khai báo tạm trú tại Ninh
Thuận từ tháng 01/2015 đến tháng 12/2018
Bảng 2: Thống kê số lượng tài khoản đăng ký khai báo tạm trú cho người nước
ngoài thông qua Internet từ tháng 01/2017 đến tháng 12/2018
Trang 10TÓM TẮT
Ninh Thuận là một vùng ven biển thuộc Duyên hải Nam Trung Bộ có nền kinh
tế - xã hội ngày càng phát triển, tình hình dân cư của Ninh Thuận cũng có những nét đặc trưng khi xuất hiện người nước ngoài cư trú và sinh hoạt Vì vậy, việc nghiên cứu
về các quy định của pháp luật về cư trú của người nước ngoài tại Ninh Thuận có những nét đặc trưng riêng giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện và cụ thể về tình hình cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam thông qua một địa phương cụ thể Hệ thống pháp luật nước ta đã ban hành nhiều văn bản nhằm quản lý tốt việc cư trú người nước ngoài tại Việt Nam tuy nhiên, còn có những quy định pháp luật chưa thật sự phù hợp với thực tiễn Để góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản lý cư trú đối với người nước ngoài tại Việt Nam đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu có liên quan nhưng chủ yếu tập trung làm rõ các quy định của pháp luật, chưa nêu bật được những mặt thuận lợi và khó khăn trong áp dụng những quy định trên vào quản lý cư trú đối với người nước ngoài tại Việt Nam Chính vì những lý do trên nên tác giả chọn đề tài:
“Pháp luật về quản lý cư trú đối với người nước ngoài qua thực tiễn áp dụng tại tỉnh Ninh Thuận” Trong phạm vi đề tài nghiên cứu, tác giả tập trung nghiên cứu những
quy định về quản lý cư trú đối với người nước ngoài theo pháp luật Việt Nam và tình hình áp dụng pháp luật về quản lý cư trú đối với người nước ngoài tại Ninh Thuận
Nghiên cứu đề tài “Pháp luật về quản lý cư trú đối với người nước ngoài qua
thực tiễn áp dụng tại tỉnh Ninh Thuận” một cách toàn diện và khoa học Qua đó cung
cấp những lý luận nền tảng, phục vụ cho công tác nghiên cứu pháp luật đồng thời cung cấp cơ sở pháp lý để áp dụng trên thực tiễn, góp phần hoàn thiện pháp luật
Tác giả thực hiện đề tài trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tuân theo đường lối, quan điểm của Đảng, Nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội; sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, phân tích, tổng hợp để làm rõ những lý luận chung; phương pháp so sánh, phân tích và bình luận để làm rõ những quy định của pháp luật hiện hành, nhận xét, đánh giá những kết quả đạt được cũng như bất cập, hạn chế; phương pháp thu thập thông tin từ Phòng Quản lý xuất nhập cảnh – Công an tỉnh Ninh Thuận và Cục Quản lý xuất nhập cảnh – Bộ Công an Phương pháp liệt kê, quy
Trang 11nạp, diễn dịch để phân tích số liệu, đưa ra những kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Đồng thời sử dụng phương pháp chuyên gia để đánh giá tính khả thi và tính khoa học của những kiến nghị, giải pháp góp phần hoàn thiện hoạt động quản lý cư trú đối với người nước ngoài trong thời gian tới
Hoạt động quản lý cư trú đối với người nước ngoài tại Việt Nam là một trong
những hoạt động quản lý nhà nước rất quan trọng, mang tính thời đại và đối ngoại cao, góp phần chủ chốt vào chính sách đối ngoại và vị thế của quốc gia trong trường quốc
tế Trên cơ sở phân tích, nghiên cứu hệ thống lý luận cũng như thực tiễn áp dụng, tác giả rút ra những nhận xét và hướng khắc phục, nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý cư trú đối với người nước ngoài
Trang 12of our country has contained many regulations regulating the residence of foreigners
in Vietnam, but there are still a number of provisions inappropriate when applying into practice In order to improve such disadvantage of the regulations on residence management for foreigners in Vietnam, there have been many relevant researches mainly focusing on clarifying the provisions of the laws, without any analysis of the advantages and disadvantages in applying the above provisions to the management of residence for foreigners in Vietnam As the results, the author has chosen the topic of the thesis as: "Regulations on residence management for foreigners through application in practice in Ninh Thuan Province" Within the scope of this study, the author focuses on studying the regulations on residence management for foreigners under laws of Vietnam and the situation of application of the laws on residence management for foreigners in Ninh Thuan Province
By researching "Regulations on residence management for foreigners through application in practice in Ninh Thuan province" in a comprehensive and scientific manner, the author would like to provide basic theories, supporting for the legal researches as well as providing a legal basis for application in practice, and improving legal system
The author write this thesis on the basis of dialectical materialism of Marxism - Leninism, Ho Chi Minh’s ideology; abiding by the Party and State's guidelines and views on protecting national security and ensuring social order and safety; the combination of research, analysis and synthesis methods to clarify common arguments; the methods of comparison, analysis and commentary to clarify current provisions of the laws, comment on and evaluate the achieved results as well as
Trang 13inadequacies and limitations and methods of listing, inducing, interpreting to analyze data, making recommendations to improve the legal system Concurrently, the author uses the expert method to evaluate the feasibility and scientificity of the recommendations and solutions to improve the management of residence for foreigners in the future
The management of residence for foreigners in Vietnam is one of the vital management activities of the State with a strong period and external nature, making a major contribution to foreign policy and position of the State in the international arena On the basis of analyzing and studying the theoretical system as well as the practices of application, the author shall make remarks and propose solutions to improve the efficiency of residence management activities for foreigners
Trang 14LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hội nhập kinh tế quốc tế là một yếu tố khách quan trong xu thế toàn cầu hóa Trong điều kiện hội nhập kinh tế, lao động nước ngoài đến Việt Nam cư trú hiện nay đang có xu hướng ngày càng gia tăng Bất cứ quốc gia nào phát triển đều phải có chính sách chủ động hội nhập quốc tế, tăng cường giao lưu hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới về tất cả các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế phát triển đó
Với đường lối đổi mới, mở cửa, Việt Nam đã thiết lập quan hệ trên hầu hết các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội… với nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế, không phân biệt chế độ chính trị Từ những chính sách của Đảng và Nhà nước ta, Việt Nam
đã thu hút một lượng người nước ngoài đến để du lịch, lao động, thăm thân, định cư…
đã tạo điều kiện cho việc giao lưu, hợp tác giữa Việt Nam và người nước ngoài phát triển thúc đẩy kinh tế, xã hội, văn hóa đa dạng
Thời gian qua, để đáp ứng yêu cầu thực tế về quản lý người nước ngoài tại Việt Nam, hệ thống pháp luật đã ban hành nhiều văn bản nhằm quản lý tốt việc lưu trú người nước ngoài tại Việt Nam đồng thời tạo điều kiện thúc đẩy cho người nước ngoài đến Việt Nam được thuận lợi Tuy nhiên, còn có những sơ hở, thiếu sót, những quy định pháp luật chưa thật sự phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội nên đã tạo điều kiện cho người nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú tại địa phương chưa tuân thủ đúng quy định của pháp luật Để góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản lý
cư trú đối với người nước ngoài tại Việt Nam đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu có liên quan nhưng chủ yếu tập trung làm rõ các quy định của pháp luật, chưa nêu bật được những thuận lợi và khó khăn trong áp dụng những quy định trên vào quản lý cư trú đối với người nước ngoài tại Việt Nam
Ninh Thuận là vùng ven biển thuộc Duyên hải Nam Trung bộ có nền kinh tế -
xã hội ngày càng phát triển, tình hình dân cư của Ninh Thuận cũng có những nét đặc trưng khi xuất hiện người nước ngoài cư trú và sinh hoạt Vì vậy, việc nghiên cứu về
Trang 15các quy định của pháp luật về cư trú của người nước ngoài tại Ninh Thuận có những nét đặc trưng riêng giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện và cụ thể về tình hình cư trú của người nước ngoài, điển hình là người nước ngoài cư trú tại Việt Nam thông qua một địa phương cụ thể
Chính vì những lý do trên nên tác giả chọn đề tài: “Pháp luật về quản lý cư trú
đối với người nước ngoài qua thực tiễn áp dụng tại tỉnh Ninh Thuận” Trong phạm vi
đề tài nghiên cứu, tác giả tập trung nghiên cứu những quy định về quản lý cư trú đối với người nước ngoài theo pháp luật Việt Nam và tình hình áp dụng pháp luật về quản
lý cư trú đối với người nước ngoài tại Ninh Thuận trong điều kiện địa lý, phong tục tập quán và những vấn đề liên quan đến nhận thức, phát triển kinh tế xã hội ở địa phương Đây là điều kiện để rà soát lại các quy định của pháp luật về công tác quản lý cư trú đối với người nước ngoài để chỉ ra những điểm vướng mắc trong pháp luật và trong quá trình thực hiện để tìm ra giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật, phù hợp với đặc điểm điều kiện kinh tế xã hội
2 Tình hình nghiên cứu
Trên bình diện khoa học, pháp luật về quản lý cư trú đối với người nước ngoài
là đề tài cũng đang dần dần được nhiều người quan tâm nghiên cứu, cụ thể:
- “Quản lý nhà nước về cư trú của người nước ngoài ở các thành phố trực
thuộc Trung ương phía Nam Việt Nam” của tác giả Vũ Thành Luân, Luận án Tiến sĩ,
Học viện Hành chính Quốc gia, năm 2016 Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả đã có những phân tích chuyên sâu về khái niệm quản lý nhà nước về cư trú đối với người nước ngoài ở Việt Nam và quốc tế Ngoài ra, tác giả đã đề ra nhiều giải pháp hoàn thiện có tính khoa học cao, khả thi và hiệu quả trong thực tiễn
- “Quản lý nhà nước về cư trú của người nước ngoài trên địa bàn thành phố
Hà Nội” của tác giả Phạm Đức Chính, Luận văn Thạc sĩ, Học viện khoa học xã hội –
Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, năm 2018
- “Cư trú, điều kiện cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam – Thực trạng và
kiến nghị”, Chuyên đề nghiên cứu khoa học, Viện nghiên cứu lập pháp, năm 2013
Trang 16Chuyên đề đi sâu vào nghiên cứu hoạt động cư trú đối với người nước ngoài tại Việt Nam, khái quát hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam Từ thực tiễn áp dụng, nêu ra những khó khăn, hạn chế và bất cập trong hoạt động quản lý cư trú đối với người nước ngoài tại Việt Nam, trên cơ sở đó nêu bật những kiến nghị, giải pháp nhằm khắc phục và nâng cao hiệu quả quản lý cư trú đối với người nước ngoài tại Việt Nam
- “Đổi mới quản lý nhà nước về cư trú người nước ngoài đáp ứng yêu cầu hội
nhập quốc tế hiện nay”, Bài báo nghiên cứu của tác giả Vũ Thành Luân, Tạp chí Công
an nhân dân, 2015 Tác giả tổng quát thực tiễn hoạt động quản lý nhà nước về cư trú đối với người nước ngoài trong phạm vi cả nước, chỉ rõ những điểm bất cập của hệ
thống pháp luật, từ đó nêu ra những giải pháp hoàn thiện hoạt động này
Các đề tài nêu trên đã phân tích thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật trong công tác quản lý cư trú đối với người nước ngoài tại Việt Nam Đồng thời, các tác giả cũng đã đưa ra những phương hướng giải quyết cụ thể trong công tác quản lý của nước ta Từ đó làm cơ sở để tác giả có một đề tài nghiên cứu hoàn chỉnh, toàn diện
về hoạt động quản lý cư trú đối với người nước ngoài theo pháp luật Việt Nam cũng như nêu được những khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân để từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động này trên thực tiễn Bên cạnh đó, cùng với việc
hệ thống pháp luật ngày một hoàn thiện, các quy định có liên quan đến quản lý cư trú người nước ngoài tại Việt Nam mang lại thay đổi lớn, chính vì thế, bằng luận văn này tác giả sẽ tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu, khoa học về mặt lý luận của hoạt động quản
lý cư trú đối với người nước ngoài, phân tích rõ khái niệm, nhiệm vụ, đặc điểm của hoạt động này Từ đó phân tích cụ thể các mặt của quy định pháp luật thực định về hoạt động quản lý cư trú đối với người ngước ngoài và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Ninh Thuận Trên cơ sở đó rút ra những thiếu sót, hạn chế của pháp luật thực định và vướng mắc trong thực tiễn áp dụng để đề xuất hoàn thiện và kiến nghị các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động trong thời gian tới
Trang 173 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài “Pháp luật về quản lý cư trú đối với người nước ngoài qua
thực tiễn áp dụng tại tỉnh Ninh Thuận” một cách toàn diện và khoa học Qua đó cung
cấp những lý luận nền tảng, phục vụ cho công tác nghiên cứu pháp luật đồng thời cung cấp cơ sở pháp lý để áp dụng trên thực tiễn, góp phần hoàn thiện pháp luật
4 Câu hỏi nghiên cứu
- Quy định của pháp luật Việt Nam về quản lý cư trú đối với người nước ngoài được quy định như thế nào? Sự khác biệt trong quản lý cư trú đối với người nước ngoài và công dân Việt Nam
- Các quy định của pháp luật Việt Nam về quản lý cư trú đối với người nước ngoài có bất cập gì khi áp dụng vào thực tiễn
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài “Pháp luật về quản lý cư trú đối với người nước
ngoài qua thực tiễn áp dụng tại tỉnh Ninh Thuận” tập trung nghiên cứu, làm rõ các vấn
đề pháp lý liên quan đến hoạt động quản lý cư trú đối với người nước ngoài theo pháp luật Việt Nam; phân tích những hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành, vướng mắc,
khó khăn trong áp dụng quy định của pháp luật; đề xuất những giải pháp theo hướng
hoàn thiện, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài “Pháp luật về quản lý cư trú đối với người nước
ngoài qua thực tiễn áp dụng tại tỉnh Ninh Thuận” nghiên cứu hoạt động quản lý cư trú
đối với người nước ngoài do cơ quan quản lý xuất nhập cảnh tiến hành từ năm 2015 đến năm 2018 trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận
6 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả thực hiện đề tài trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tuân theo đường lối, quan điểm của Đảng, Nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội Để giải quyết các câu hỏi nghiên cứu, phục vụ mục đích nghiên cứu đã đề ra, tác giả sử dụng
Trang 18tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, phân tích, tổng hợp để làm rõ những lý luận chung; phương pháp phân tích và bình luận để làm rõ những quy định của pháp luật hiện hành, nhận xét, đánh giá những kết quả đạt được cũng như bất cập, hạn chế; phương pháp thu thập thông tin từ Phòng Quản lý xuất nhập cảnh – Công an tỉnh Ninh Thuận và Cục Quản lý xuất nhập cảnh – Bộ Công an Phương pháp liệt kê, quy nạp, diễn dịch để phân tích số liệu, đưa ra những kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Đồng thời sử dụng phương pháp chuyên gia để đánh giá tính khả thi và tính khoa học của những kiến nghị, giải pháp góp phần hoàn thiện hoạt động quản lý cư trú đối với người nước ngoài trong thời gian tới
7 Bố cục của luận văn
Đề tài với tiêu đề: “Pháp luật về quản lý cư trú đối với người nước ngoài qua
thực tiễn áp dụng tại tỉnh Ninh Thuận” gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề chung về quản lý cư trú đối với người nước ngoài Chương 2: Quy định của pháp luật hiện hành về quản lý cư trú đối với người nước ngoài và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Ninh Thuận
Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả quản
lý cư trú đối với người nước ngoài
Trang 19CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ CƯ TRÚ ĐỐI VỚI
NGƯỜI NƯỚC NGOÀI 1.1 Khái niệm về quản lý cư trú đối với người nước ngoài
1.1.1 Khái niệm về người nước ngoài và quản lý cư trú đối với người nước ngoài
- Khái niệm người nước ngoài:
Hiện nay, có rất nhiều cách tiếp cận thuật ngữ “người nước ngoài” trong khoa học pháp lý ở nhiều quốc gia cũng như ở Việt Nam Người nước ngoài có thể hiểu theo nghĩa rất rộng, bao hàm: người mang một quốc tịch nước ngoài, người mang nhiều quốc tịch nước ngoài hoặc người không mang quốc tịch nước nào (người không quốc tịch) Ngoài ra, người nước ngoài còn được hiểu là công dân nước ngoài Trong pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới, dấu hiệu quốc tịch luôn được xem là đặc trưng để định nghĩa người nước ngoài và là căn cứ để xác định người đó là công dân nước nào hoặc là người không thuộc công dân nước nào (người không quốc tịch) Do
đó theo một nghĩa hẹp hơn, người nước ngoài được hiểu là người không có quốc tịch của nước mà họ đang cư trú
Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau, song trong khoa học pháp lý của nước
ta từ trước đến nay đều đồng nhất quan điểm về người nước ngoài theo hướng là người không có quốc tịch Việt Nam, tức áp dụng chế định quốc tịch để xác định một người là công dân hay người nước ngoài
Trước đây, khái niệm người nước ngoài cũng đã được Nhà nước đề cập và quy định tại Quyết định số 122/CP ngày 25/4/1977 của Hội đồng Chính phủ về chính sách
đối với người nước ngoài cư trú và làm ăn sinh sống ở Việt Nam như sau: “Người
nước ngoài gọi tắt là ngoại kiều là những người cư trú và làm ăn sinh sống ở Việt Nam, có quốc tịch nước khác hoặc không có quốc tịch” 1 Ngoài ra, người nước ngoài
1 Điều 1 Quyết định số 122/CP ngày 25/4/1977 của Hội đồng Chính phủ về chính sách đối với người nước ngoài
cư trú và làm ăn sinh sống ở Việt Nam
Trang 20theo quy định tại Điều 1, Điều 5 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998 và khoản 1 Điều
1 Pháp lệnh nhập cảnh và xuất cảnh, cư trú, đi lại của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2000 đều được hiểu là người không có quốc tịch Việt Nam
Tại hệ thống pháp luật nước ta hiện nay, các quy định về người nước ngoài do nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh, trong đó khái niệm người nước ngoài đều được đề cập và phân định rõ ràng tại Luật Quốc tịch năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014; sau đây gọi tắt là Luật Quốc tịch) và Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh,
cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014 (sau đây viết gọn là Luật NC,
XC, QC, CT)
Theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Luật Quốc tịch định nghĩa như sau: “Người
nước ngoài cư trú ở Việt Nam là công dân nước ngoài và người không quốc tịch thường trú hoặc tạm trú ở Việt Nam” Luật Quốc tịch không đưa ra trực tiếp khái niệm
người nước ngoài mà chỉ đưa ra khái niệm người nước ngoài cư trú ở Việt Nam để thu hẹp phạm vi điều chỉnh
Tại Luật NC, XC, QC, CT, người nước ngoài được xác định là “người mang
giấy tờ xác định quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú tại Việt Nam” 2 Như vậy, ở đây Luật NC, XC, QC, CT xác định
người nước ngoài dựa trên 02 dấu hiệu, gồm dấu hiệu quốc tịch và dấu hiệu hành vi Tức là, theo pháp luật Việt Nam, người nước ngoài ở Việt Nam phải đủ hai điều kiện sau:
+ Thứ nhất, là người có quốc tịch nước ngoài hoặc người không quốc tịch Việc xác định một người có hay không có quốc tịch nước ngoài được căn cứ vào giấy tờ xác định quốc tịch nước ngoài, mà theo Luật NC, XC, QC, CT quy định là các loại giấy tờ
do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài hoặc Liên hợp quốc cấp, gồm hộ chiếu hoặc các giấy tờ có giá trị thay hộ chiếu (sau đây gọi chung là hộ chiếu)3
+ Thứ hai, người đó phải nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú tại Việt Nam
2 Khoản 1 Điều 3 Luật NC, XC, QC, CT
3 Khoản 2 Điều 3 Luật NC, XC, QC, CT
Trang 21Như vậy, một người được xem là người nước ngoài theo quy định của Luật NC,
XC, QC, CT phải là người có hộ chiếu nước ngoài hoặc không có hộ chiếu, giấy tờ có giá trị thay hộ chiếu (người không quốc tịch) và họ phải có hành vi nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh vào Việt Nam hoặc cư trú ở Việt Nam Trong phạm vi nghiên cứu của
đề tài này, khái niệm người nước ngoài được hiểu theo Luật NC, XC, QC, CT sẽ được
sử dụng để nghiên cứu, phân tích các quy định liên quan
Một điểm đáng lưu ý đó là, trong nghiên cứu khoa học pháp lý, cần phân định
rõ người nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài Bởi vì, người Việt
Nam định cư ở nước ngoài theo quy định của Luật Quốc tịch là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài4 Trong số những người này, có trường hợp họ vẫn là công dân Việt Nam, chưa thay đổi quốc tịch; có trường hợp đã nhập quốc tịch nước ngoài và xin thôi quốc tịch Việt Nam (đối với trường hợp quốc gia cho phép nhập quốc tịch chỉ công nhận một quốc tịch); có trường hợp đã nhập quốc tịch nước ngoài và vẫn giữ quốc tịch Việt Nam (đối với trường hợp quốc gia cho phép nhập quốc tịch công nhận quốc tịch khác) Trong trường hợp này, căn cứ
để xác định quốc tịch của họ khi họ xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và cư trú ở Việt Nam là dựa vào giấy tờ xác định quốc tịch mà họ xuất trình, khai báo Cụ thể nếu họ xuất trình hộ chiếu nước ngoài thì áp dụng những quy định đối với người nước ngoài, ngược lại nếu họ xuất trình hộ chiếu Việt Nam thì áp dụng những quy định đối với công dân Việt Nam
- Khái niệm về quản lý cư trú đối với người nước ngoài:
Cư trú là nhu cầu thiết yếu và tiên quyết của con người, tự do cư trú là một trong những quyền con người được Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật ghi nhận Đây là một trong những quyền tự do cơ bản của công dân mà bất kỳ quốc gia nào trên thế giới đều phải thừa nhận, đồng thời thực hiện quản lý nhà nước về cư trú Với xu thế hội nhập, giao lưu mạnh mẽ của các quốc gia trên thế giới như hiện nay thì quản lý cư trú của công dân và người nước ngoài là một hoạt động hoàn toàn tất yếu
4 Khoản 3 Điều 3 Luật Quốc tịch năm năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014)
Trang 22Theo Từ điển Tiếng Việt, cư trú được hiểu là “việc một người ở thường ngày
tại một nơi” 5 Luật Cư trú năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2013; sau đây gọi tắt là
Luật Cư trú) quy định như sau: “Cư trú là việc công dân sinh sống tại một địa điểm
thuộc xã, phường, thị trấn dưới hình thức thường trú hoặc tạm trú” 6 Theo quy định
này, cư trú gồm hai nội dung:
Một là, cư trú là hành vi sinh sống trong một khoảng thời gian nhất định, tại
một địa điểm cụ thể của con người
Hai là, cư trú được phân loại thành hai hình thức đó là thường trú và tạm trú
Thường trú được hiểu là hành vi cư trú thường xuyên, liên tục trong một khoảng thời gian dài tại một nơi cố định Ngược lại, tạm trú là hành vi cư trú tạm thời, không thường xuyên và lâu dài tại một nơi cố định Đây là hai hình thức cư trú giống nhau về bản chất nhưng khác nhau về thời gian, một bên là sự liên tục kéo dài, một bên là tạm thời, ngắt quãng, trong thời gian ngắn Dựa trên sự khác biệt này, pháp luật Việt Nam
về cư trú cũng phân định thành hai hình thức cư trú và quy định cách thức quản lý khác nhau
Từ đây có thể hiểu, cư trú của người nước ngoài được hiểu là hành vi sinh sống của người nước ngoài trong một khoảng thời gian nhất định, tại một địa điểm nhất định trên lãnh thổ nước Việt Nam Tương tự như quản lý cư trú đối với công dân Việt Nam, pháp luật Việt Nam cũng chia ra làm hai hình thức cư trú của người nước ngài:
“Cư trú là việc người nước ngoài thường trú hoặc tạm trú tại Việt Nam” 7 Trong đó, thường trú là việc người nước ngoài cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài, không thời hạn tại Việt Nam; tạm trú là việc người nước ngoài cư trú ngắn hạn tại Việt Nam Theo phân tích trong chuyên đề nghiên cứu “Cư trú, điều kiện cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam – Thực trạng và kiến nghị” của Trung tâm nghiên cứu khoa học, Viện
nghiên cứu lập pháp có đề cập: “Sự kiện pháp lý về cư trú của người nước ngoài tại
Việt Nam xuất hiện từ sau khi người đó nhập cảnh và phải thực hiện các thủ tục đăng
5 Viện Ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt, NXB Từ điển bách khoa, 2010
6 Điều 1 Luật Cư trú năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2013)
7 Khoản 9 Điều 3 Luật NC, XC, QC, CT
Trang 23ký tạm trú hoặc thường trú tại một địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Cư trú của người nước ngoài được xác định từ sau khi nhập cảnh vào Việt Nam đến khi họ xuất cảnh qua cửa khẩu” 8 Theo
đó, người nước ngoài cư trú hợp pháp ở Việt Nam khi và chỉ khi họ nhập cảnh vào Việt Nam và hoàn tất thủ tục đăng ký thường trú hoặc tạm trú tại một địa điểm nhất định trên lãnh thổ Việt Nam, trừ khu vực mà pháp luật không cho phép người nước ngoài cư trú
Người nước ngoài khi đến Việt Nam dù bằng hình thức hay mục đích nào cũng trải qua các giai đoạn: nhập cảnh, quá cảnh, cư trú, đi lại và sinh sống, cuối cùng là xuất cảnh Do đó, để đảm bảo các hoạt động trên được diễn ra xuyên suốt, suôn sẻ và hợp pháp, pháp luật quy định cụ thể trình tự, thủ tục và thẩm quyền để tạo cơ sở pháp
lý cho cơ quan chức năng thực hiện quản lý nhập cảnh, quản lý quá cảnh, quản lý cư trú, quản lý hoạt động, quản lý xuất cảnh của người nước ngoài Có thể thấy, khi một người thực hiện thủ tục nhập cảnh vào Việt Nam, bước tiếp theo chính là cư trú Do vậy, quản lý cư trú đối với người nước ngoài đi liền sau quản lý nhập cảnh, nối liền giữa các khâu tạo thành chuỗi hoạt động quản lý người nước ngoài tại Việt Nam liên tục, chặt chẽ9 Trong bài viết Quản lý cư trú – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của
tác giả Trần Đại Quang có phân tích khái niệm quản lý cư trú như sau: “Quản lý cư trú
là quá trình cơ quan có thẩm quyền trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật về cư trú và các biện pháp nghiệp vụ ngành Công an để tiến hành đăng ký, quản lý thường trú, tạm trú, tạm vắng, lưu trú của công dân nhằm đảm bảo cho công dân thực hiện quyền, nghĩa vụ về cư trú theo quy định của pháp luật; đồng thời góp phần phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác về trật tự an toàn xã hội”10 Mặc dù đây là khái niệm về quản lý cư trú chung nhưng nội hàm phân tích đã chỉ ra được nhiều nội dung tương tự về quản lý cư trú đối với người nước ngoài Bản chất của quản lý cư trú đối với người nước ngoài là tổ chức thực hiện
8 Viện nghiên cứu lập pháp, Cư trú, điều kiện cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam – Thực trạng và kiến
nghị”, chuyên đề nghiên cứu khoa học, 2013, tr 6
9 Phạm Đức Chính, Quản lý nhà nước về cư trú của người nước ngoài trên địa bàn Thành phố Hà Nội, 2018, tr 11
10 Trần Đại Quang, Quản lý cư trú – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Công an nhân dân, 2017, tr.8
Trang 24pháp luật về cư trú của người nước ngoài nhằm đảm bảo an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và quyền, lợi ích hợp pháp của người nước ngoài trong lĩnh vực cư trú Quản lý cư trú đối với người nước ngoài đóng vai trò rất quan trọng trong lĩnh vực quản lý người nước ngoài tại Việt Nam Thông qua kết quả quản lý cư trú đối với người nước ngoài, các cơ quan chức năng có thể kịp thời nắm bắt được những hoạt động của người nước ngoài tại từng địa phương cụ thể, từ đó đưa ra những phương án thu hút du lịch, đầu tư, lao động, đồng thời đề xuất, kiến nghị giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý
Tóm lại, quản lý cư trú đối với người nước ngoài là hoạt động quản lý nhà nước
được thực hiện bởi cơ quan chức năng có thẩm quyền nhằm tác động, điều chỉnh, theo dõi hoạt động cư trú của người nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam để hướng đến mục đích bảo đảm cho hoạt động cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam diễn ra suôn sẻ trong khuôn khổ pháp luật, đảm bảo an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta, tạo mọi điều kiện thuận lợi để chào đón người nước ngoài đến Việt Nam, đồng thời hỗ trợ họ thực hiện quyền và nghĩa vụ về cư trú theo pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế
1.1.2 Đặc điểm của quản lý cư trú đối với người nước ngoài
Quản lý cư trú đối với người nước ngoài là một hoạt động quan trọng, đóng vai trò cốt yếu trong lĩnh vực quản lý người nước ngoài tại Việt Nam Quản lý cư trú đối với người nước ngoài có các đặc điểm sau:
- Quản lý cư trú đối với người nước ngoài phải tuân theo đường lối, chính sách của Đảng và chính sách đối ngoại của Nhà nước
Quản lý người nước ngoài nói chung tại Việt Nam và quản lý cư trú đối với người nước ngoài tại Việt Nam nói riêng là dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang quyền lực nhà nước, sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh mọi hành vi, hoạt động của người nước ngoài nhằm duy trì sự ổn định của xã hội Nhà nước, bằng quyền lực của mình thông qua các cơ quan thuộc bộ máy hành chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương tiến hành hoạt động quản lý người nước ngoài về vấn đề cư trú trên cơ
Trang 25sở thể chế hóa những chủ trương, chính sách của Đảng Bên cạnh đó, đặc thù của hoạt động quản lý cư trú đối với người nước ngoài là phụ thuộc vào chính sách đối ngoại của Nhà nước ta vào từng giai đoạn Vị thế của quốc gia trên trường quốc tế ảnh hưởng trực tiếp bởi chính sách đối ngoại của quốc gia đó Và chính sách quản lý cư trú đối với người nước ngoài là một trong những nhân tố góp phần đẩy mạnh uy tín của quốc gia, đồng thời thu hút du lịch, thu hút nhân lực nước ngoài, đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội Nói cách khác, nếu chính sách quản lý cư trú đối với người nước ngoài không được đề cao và chú trọng, công tác quản lý cư trú đối với người nước ngoài không đạt được hiệu quả sẽ ảnh hưởng theo chiều hướng xấu đối với các chính sách đối ngoại của Nhà nước và nền kinh tế - xã hội của nước ta Trong từng giai đoạn, căn
cứ vào chủ trương, đường lối của Đảng, quan hệ đối ngoại của nước ta đối với thế giới
và các quốc gia khác mà hoạt động quản lý cư trú đối với người nước ngoài sẽ có những thay đổi nhất định nhưng vẫn đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người nước ngoài tại Việt Nam
- Quản lý cư trú đối với người nước ngoài phải tuân theo Hiến pháp, pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
Quản lý cư trú đối với người nước ngoài là hoạt động thực hiện tổng hợp các quy định của Nhà nước đối với người nước ngoài nói chung và cư trú của người nước ngoài nói riêng, được pháp luật Việt Nam quy định cụ thể Trên cơ sở đó, sau khi người nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam, cơ quan chức năng có thẩm quyền phải tiến hành quản lý cư trú đối với họ để đáp ứng yêu cầu quản lý, đảm bảo an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và bình đẳng trong quan hệ quốc tế Tuân thủ chặt chẽ trình
tự, thủ tục mà pháp luật Việt Nam quy định để quản lý cư trú đối với người nước ngoài
là tiền đề để đảm bảo hoạt động quản lý cư trú đối với người nước ngoài nói riêng và quản lý người nước ngoài tại Việt Nam nói chung được diễn ra chính xác, đúng luật, đảm bảo quyền và lợi ích của người nước ngoài tại Việt Nam
Ngoài ra, do người nước ngoài là chủ thể quốc tế, là công dân của một quốc gia khác hoặc là người không có quốc tịch cho nên việc quản lý cư trú đối với người nước
Trang 26ngoài còn phải dựa trên thông lệ quốc tế, các điều ước quốc tế song phương hoặc đa phương mà Việt Nam là thành viên Pháp luật Việt Nam đồng thời phải nội luật hóa những quy chuẩn quốc tế, những thỏa thuận đã ký kết với các quốc gia, các tổ chức trên thế giới thành những điều luật cụ thể
- Quản lý cư trú đối với người nước ngoài là bộ phận của quản lý cư trú, có
những đặc trưng riêng so với quản lý cư trú đối với công dân Việt Nam
Quản lý cư trú đối với người nước ngoài vừa là bộ phận của quản lý người nước ngoài, vừa là bộ phận của quản lý cư trú Do vậy, quản lý cư trú đối với người nước ngoài mang đầy đủ đặc trưng của hoạt động quản lý cư trú như tính quyền lực nhà nước; được tiến hành theo địa giới hành chính; có sự phân công, phân cấp trách nhiệm
và đa dạng về nội dung, đối tượng, hình thức quản lý Tuy nhiên, do đối tượng quản lý trong trường hợp này là người nước ngoài, cho nên quản lý cư trú đối với người nước ngoài mang sự khác biệt hơn so với quản lý cư trú đối với công dân Việt Nam Điểm khác biệt đó là: đối tượng quản lý, chủ thể quản lý và nội dung quản lý
+ Đối tượng quản lý: như đã phân tích, người nước ngoài được hiểu là công
dân nước ngoài hoặc người không có quốc tịch nhập cảnh vào Việt Nam Khi họ cư trú
ở Việt Nam, họ phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam, đồng thời là pháp luật nước họ mang quốc tịch hoặc pháp luật quốc tế mà Việt Nam tham gia và ký kết Quản
lý cư trú đối với người nước ngoài tại Việt Nam không đơn thuần là quản lý chỗ ở, sinh sống tại một nơi nhất định mà nó còn gắn liền với quyền con người được pháp luật quốc tế bảo vệ, thể hiện chính sách đối ngoại và quan hệ đối ngoại giữa nước ta và các quốc gia khác
+ Chủ thể quản lý cư trú đối với người nước ngoài:
Chủ thể quản lý cư trú đối với người nước ngoài là tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao quyền tiến hành tác động, điều chỉnh quá trình cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam, đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật Bộ Công an là cơ quan trực tiếp thực hiện quản lý cư trú của công dân Việt Nam theo quy định của Luật Cư trú Đối với đối tượng cư trú là người nước ngoài, khoản 1 Điều 47 Luật NC, XC, QC, CT
Trang 27cũng giao trách nhiệm Bộ Công an là cơ quan trực tiếp thực hiện quản lý cư trú đối với người nước ngoài tại Việt Nam Như vậy, Bộ Công an là cơ quan nòng cốt, đi đầu trong quản lý nhà nước về cư trú đối với cả công dân Việt Nam và người nước ngoài tại Việt Nam, có trách nhiệm phối hợp với các Bộ, ngành hữu quan để đảm bảo thực hiện tốt công tác quản lý cư trú
Bộ Công an chịu trách nhiệm trước Chính phủ, chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ liên quan thực hiện quản lý nhà nước về nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam11 Theo quy định tại Luật NC, XC,
QC, CT, Bộ Công an là chủ thể thực hiện quản lý cư trú đối với người nước ngoài thông qua các nội dung sau: chủ trì xây dựng trình cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật về cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam; tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam; cấp giấy tờ cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam; thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam; ban hành các loại mẫu, giấy tờ về cư trú của người ngước ngoài tại Việt Nam; thống kê nhà nước về cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam; thực hiện hợp tác quốc tế theo thẩm quyền, đề xuất cơ quan có thẩm quyền việc ký kết, gia nhập điều ước quốc tế về cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam Để thực hiện nhiệm vụ Luật giao, Bộ Công an phân công trách nhiệm cho các đơn vị trực thuộc khác nhau theo cơ cấu tổ chức và quản lý, trong đó, chủ thể trực tiếp quản lý cư trú đối với người nước ngoài tại Việt Nam được giao cho lực lượng Quản lý xuất nhập cảnh – Bộ Công an, các đơn vị khác thuộc Bộ Công an có chức năng, nhiệm
vụ phối hợp với lực lượng Quản lý xuất nhập cảnh để thực hiện quyền hạn, nhiệm vụ Luật giao Lực lượng Quản lý xuất nhập cảnh là một lực lượng của ngành Công an, vừa thực hiện chức năng nghiệp vụ, vừa thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất nhập cảnh của công dân Việt Nam, xuất nhập cảnh và cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam12 Lực lượng Quản lý xuất nhập cảnh bao gồm Cục Quản lý
11 Khoản 1 Điều 47 Luật NC, XC, QC, CT
12 http://www.xuatnhapcanh.gov.vn/vi/gioi-thieu-chung-ve-luc-luong-quan-ly-xuat-nhap-canh
Trang 28xuất nhập cảnh, Cục An ninh cửa khẩu và các Phòng Quản lý xuất nhập cảnh thuộc Công an 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương13
Bên cạnh đó, Luật NC, XC, QC, CT cũng quy định trách nhiệm của Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc phòng, cụ thể trong quản lý cư trú đối với người nước ngoài tại Việt Nam, Bộ Ngoại giao có thẩm quyền cấp, hủy bỏ thẻ tạm trú, gia hạn tạm trú cho người nước ngoài; Bộ Quốc phòng có thẩm quyền cấp chứng nhận tạm trú cho người nước ngoài Thẩm quyền của các chủ thể quản lý cư trú người nước ngoài sẽ được phân tích đầy đủ, rõ ràng tại Chương II Luận văn này
Các bộ, cơ quan ngang bộ là chủ thể trong phạm vi, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Công an thực hiện quản lý cư trú đối với người nước ngoài Ủy ban nhân dân các cấp là chủ thể tiến hành tổ chức thực hiện, phổ biến, giáo dục pháp luật về cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam; tổ chức thực hiện việc nắm tình hình hoạt động của các cơ sở lưu trú và quản lý việc cư trú, hoạt động của người nước ngoài tại địa phương
Tóm lại, hoạt động quản lý cư trú đối với người nước ngoài tại Việt Nam được
thực hiện bởi những chủ thể khác nhau, có trách nhiệm quản lý, phối hợp, hỗ trợ nhau Trong đó, Bộ Công an, đặc biệt là lực lượng Quản lý xuất nhập cảnh trực tiếp chủ trì, chịu trách nhiệm chính Vì thế, trong phạm vi của Luận văn này, tác giả sẽ đi sâu nghiên cứu công tác quản lý cư trú đối với người nước ngoài tại Việt Nam thông qua công tác quản lý của lực lượng Quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an – lực lượng giữ vai trò chủ chốt và trực tiếp quản lý cư trú đối với người nước ngoài tại Việt Nam
- Nội dung hoạt động quản lý cư trú đối với người nước ngoài rất đa dạng
Quản lý cư trú đối với người nước ngoài là một bộ phận trong quản lý về nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam, được quy định
cụ thể tại Luật NC, XC, QC, CT Vì vậy, nội dung quản lý cư trú đối với người nước ngoài tại Việt Nam cũng bao gồm những nội dung cơ bản trong quản lý về nhập cảnh,
13 http://www.xuatnhapcanh.gov.vn/vi/gioi-thieu-chung-ve-luc-luong-quan-ly-xuat-nhap-canh
Trang 29xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam Cụ thể bao gồm những nội dung sau:
+ Xây dựng, ban hành văn bản quản lý nhà nước về cư trú đối với người nước ngoài: đây là nội dung quan trọng mà chủ thể quản lý cư trú đối với người nước ngoài
sử dụng nhằm tạo ra cơ sở pháp lý để tiến hành quản lý Chủ thể quản lý căn cứ vào thẩm quyền được giao để ban hành các văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản nội
bộ điều chỉnh quản lý cư trú đối với người nước ngoài theo đúng quy trình, thủ tục luật định Nội dung của các văn bản được ban hành phải tập trung tác động, điều chỉnh đến những quan hệ xã hội phát sinh liên quan giữa Nhà nước và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam, đảm bảo lợi ích của Nhà nước, bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn
xã hội và quyền, lợi ích hợp pháp của người nước ngoài Xây dựng và ban hành văn bản là bước quan trọng nhất bởi lẽ đây là hành lang pháp lý cho việc tổ chức bộ máy, phân công nhiệm vụ, bố trí nhân sự, thực hiện quản lý, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm pháp luật về cư trú của người nước ngoài
+ Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về cư trú của người nước ngoài: để thực hiện những quy định về cư trú đối với người nước ngoài cần phải có bộ máy với cơ cấu hợp lý, được tổ chức, phân công và phối hợp hiệu quả Vì thế các chủ thể quản lý
cư trú phải được tổ chức hợp lý, phân công, phân cấp thống nhất, vận hành và phối hợp hiệu quả Đặc biệt lĩnh vực quản lý cư trú đối với người nước ngoài đòi hỏi phải
có sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các cơ quan hữu quan các cấp, các địa phương và các lực lượng với nhau, thống nhất từ Trung ương đến địa phương trong quản lý
+ Tổ chức thực hiện văn bản quản lý nhà nước về cư trú đối với người nước ngoài: Khi cơ sở pháp lý được ban hành và có hiệu lực, chủ thể quản lý cư trú đối với người nước ngoài tiến hành triển khai thực hiện, tuyên truyền và hướng dẫn nhằm đưa các quy định của văn bản quản lý nhà nước vào thực tiễn Việc tổ chức thực hiện thể hiện thông qua các hoạt động cụ thể của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong quản lý cư trú đối với người nước ngoài bao gồm: quản lý tạm trú, quản lý cư trú
Trang 30đối với người nước ngoài tại Việt Nam; tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn thực hiện các văn bản quản lý nhà nước về cư trú của người nước ngoài
+ Kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về cư trú của người nước ngoài: đây là một trong những bước thể hiện mạnh mẽ quyền lực nhà nước, là phương pháp bảo đảm cho công tác quản lý được thực hiện, bảo đảm tính pháp chế, tăng cường kỷ cương và mang lại hiệu quả Quy trình kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về cư trú của người nước ngoài phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, có hiệu quả nhằm đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, lợi ích của Nhà nước, bảo đảm an ninh quốc gia, trật
tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của người nước ngoài tại Việt Nam
+ Thống kê nhà nước về cư trú của người nước ngoài: việc thống kê này mang lại hiệu quả lớn, tạo tiền đề để cơ quan có thẩm quyền sử dụng để đánh giá và ban hành chính sách quản lý cũng như chính sách đối ngoại, quan hệ giữa nước ta với các nước trên thế giới
1.2 Nguyên tắc quản lý cư trú đối với người nước ngoài
Nguyên tắc quản lý cư trú đối với người nước ngoài là tổng thể các tư tưởng, quan điểm chỉ đạo, chi phối toàn bộ quá trình xây dựng, tổ chức và tiến hành các hoạt động quản lý cư trú đối với người nước ngoài Vừa là một bộ phận cấu thành quản lý nhà nước, vừa là một bộ phận quản lý cư trú có tính chất đặc thù nên hoạt động quản
lý cư trú đối với người nước ngoài không chỉ phải tuân thủ các nguyên tắc, tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung mà còn phải tuân thủ một số nguyên tắc riêng của hoạt động quản lý cư trú người nước ngoài được quy định cụ thể tại Điều 4 Luật NC, XC, QC, CT
Theo đó, Luật NC, XC, QC, CT tiếp tục kế thừa các quy định về nguyên tắc quản lý nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam của Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2000; đồng thời bổ sung thêm các nguyên tắc mới, đổi mới kỹ thuật lập pháp để đảm bảo kỹ thuật trình bày văn bản quy phạm pháp luật được khoa học, phù hợp với tên của Điều luật, cụ thể như sau:
Trang 31Một là, tuân thủ quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
Ở nước ta, hoạt động của mọi cá nhân, tổ chức đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Quản lý cư trú đối với người nước ngoài là một trong những hoạt động quản
lý nhà nước, được thực hiện bởi các cơ quan chức năng có thẩm quyền do Nhà nước quy định và giao quyền thực thi pháp luật và bảo vệ sự nghiêm minh của pháp luật Do
đó, hoạt động quản lý cư trú đối với người nước ngoài tại Việt Nam phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Việt Nam Đây là một trong các nguyên tắc cơ bản làm cơ sở để các nhà làm luật căn cứ xây dựng hệ thống các văn bản điều chỉnh hoạt động quản lý cư trú đối với người nước ngoài tại Việt Nam, tránh tình trạng chủ quan, tùy tiện trong soạn thảo và áp dụng quy định trên thực tiễn Nguyên tắc này đòi hỏi công tác quản lý
cư trú đối với người nước ngoài tại Việt Nam phải tuân thủ và thực hiện đúng theo quy định của Hiến pháp, Luật NC, XC, QC, CT và các văn bản pháp luật có liên quan, đồng thời cũng phải tuân thủ các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có điều chỉnh các vấn đề liên quan đến cư trú của người nước ngoài
Hai là, tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo đảm
an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bình đẳng trong quan hệ quốc tế
Tổ quốc là thiêng liêng, bất khả xâm phạm Hiến pháp năm 2013 đã ghi rõ, mọi hành vi chống lại độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, chống lại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều bị nghiêm trị14 Do vậy tất cả các hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam đều phải tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội Người nước ngoài khi hiện diện trên lãnh thổ Việt Nam bằng việc nhập cảnh, quá cảnh, cư trú hay thậm chí là xuất cảnh đều trực tiếp liên quan và ảnh hưởng đến độc lập, chủ quyền quốc gia Bởi
lẽ đó, hoạt động quản lý cư trú đối với người nước ngoài cũng phải tuân thủ nguyên tắc trên Bên cạnh đó, khi thực hiện quản lý cư trú đối với người nước ngoài, Việt Nam
14 Điều 11 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013
Trang 32phải bảo đảm thực thi chính sách bình đẳng trong quan hệ quốc tế, đây cũng là một nguyên tắc chung trong quan hệ quốc tế
Ba là, bảo đảm công khai, minh bạch, thuận lợi cho người nước ngoài; chặt chẽ, thống nhất trong quản lý
Trong bối cảnh nước ta đang tích cực, chủ động hội nhập quốc tế về nhiều mặt, đặc biệt là thu hút đầu tư nước ngoài và đẩy mạnh ngành du lịch thì việc tập trung bảo đảm thuận lợi cho người nước ngoài khi đến Việt Nam là một trong những nguyên tắc
cơ bản, cốt yếu cần được chú trọng và đảm bảo thực hiện Để làm được điều đó đòi hỏi công tác quản lý cư trú người nước ngoài phải công khai, minh bạch đến người nước ngoài và cả công dân Việt Nam Quyền và lợi ích hợp pháp của người nước ngoài tại Việt Nam cần phải được quy định rõ ràng, cụ thể và được đảm bảo thực thi bởi quy định của pháp luật và cơ quan có thẩm quyền Song song với đó, cơ cấu quản lý cư trú đối với người nước ngoài phải đảm bảo tính nguyên tắc khác là chặt chẽ, thống nhất trong quản lý Nguyên tắc này đặt ra yêu cầu cho các chủ thể quản lý phải chú trọng đổi mới mạnh mẽ các phương pháp quản lý sao cho thống nhất, chặt chẽ từ cấp Trung ương đến địa phương, hoạt động hiệu quả, công khai, minh bạch và thuận lợi cho người nước ngoài
Bốn là, người nước ngoài chỉ được sử dụng một hộ chiếu để cư trú tại Việt Nam
Đây là nguyên tắc mang tính đặc thù của pháp luật Việt Nam Theo quy định của Luật NC, XC, QC, CT, hộ chiếu là giấy tờ xác định quốc tịch nước ngoài Do xuất phát từ những quy định khác nhau trong vấn đề liên quan đến quốc tịch và quản lý của các quốc gia khác nhau nên người nước ngoài tại Việt Nam có thể thuộc một trong hai trường hợp sau: có 01 hộ chiếu hoặc 02 hộ chiếu trở lên Vì vậy, để thống nhất trong quản lý, pháp luật nước ta chỉ chấp nhận cho người nước ngoài sử dụng một hộ chiếu
để cư trú tại Việt Nam Theo đó, cơ quan có thẩm quyền chỉ dựa vào hộ chiếu mà người nước ngoài đăng ký hoặc xuất trình ngay từ khi nhập cảnh vào Việt Nam để theo dõi, thống kê và quản lý nhằm đảm bảo tính thống nhất, kịp thời và hiệu quả Đây
Trang 33cũng là nguyên tắc quan trọng làm cơ sở trong giải quyết các vấn đề liên quan đến quan hệ đối ngoại nhằm đảm bảo bình đẳng trong quan hệ quốc tế của nước ta với các quốc gia khác
1.3 Những yếu tố tác động đến hoạt động quản lý cư trú đối với người nước ngoài
Hoạt động quản lý cư trú đối với người nước ngoài là một trong những hoạt động quản lý nhà nước do cơ quan có thẩm quyền thực hiện các trình tự, thủ tục luật định nhằm tác động, điều chỉnh, theo dõi hoạt động cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam Hoạt động này bị tác động bởi nhiều yếu tố, cả bên trong lẫn bên ngoài
1.3.1 Các yếu tố bên ngoài
- Biến động của tình hình thế giới và khu vực
Tình hình thế giới nói chung và khu vực nói riêng trong từng giai đoạn cụ thể
có tác động đến chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, từ đó ảnh hưởng đến các chính sách quản lý người nước ngoài tại Việt Nam, đặc biệt là quản lý cư trú đối với người nước ngoài tại Việt Nam Trong giai đoạn hiện nay, xu thế hòa bình, hợp tác
và phát triển vẫn là xu thế chung trên toàn thế giới Các quốc gia cùng nhau đẩy mạnh giao thương, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Mối quan hệ giữa các nước trong khu vực Đông Nam Á thông qua tổ chức khu vực ASEAN vẫn đang tiếp tục phát triển bền vững, lâu dài, tăng cường về mọi mặt Vì lẽ đó, số lượng người nước ngoài đến Việt Nam với nhiều mục đích sẽ ngày càng tăng, đặc biệt là với nhiều thỏa thuận hợp tác song phương, đa phương đã mang lại những chính sách đặc thù, ưu đãi đối với các quốc gia đối tác thì công dân của các quốc gia đó vào Việt Nam càng dễ dàng hơn Song song với đó, toàn cầu đã, đang và sẽ đối mặt với nhiều vấn nạn ngày càng gia tăng cả về số lượng lẫn tính chất nguy hiểm, đặt ra yêu cầu đòi hỏi mỗi quốc gia phải
cố gắng hơn nữa trong giải quyết các vấn nạn như khủng bố; xung đột tôn giáo, dân tộc; xung đột vũ trang; tội phạm ma túy và các loại tội phạm xuyên quốc gia khác Bởi những lẽ đó, tình hình thế giới và khu vực vừa là thuận lợi, vừa là khó khăn, thách thức đối với quản lý cư trú đối với người nước ngoài tại Việt Nam
Trang 34- Xu thế toàn cầu hóa
Toàn cầu hóa là tương lai của thế giới, đây là xu thế dẫn đến những biến đổi khách quan trong chính sách, kinh tế, văn hóa xã hội của mỗi quốc gia Toàn cầu hóa mang lại những lợi ích to lớn, thúc đẩy sự phát triển, giao lưu giữa các nước Toàn cầu hóa đòi hỏi Chính phủ của mỗi quốc gia phải thay đổi chính sách và cách thức nhằm mang lại hiệu quả cao trong quản lý và lợi ích tốt nhất cho người dân Toàn cầu hóa vừa là đòi hỏi vừa là động lực thúc đẩy chính phủ ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin, đẩy mạnh xây dựng một Chính phủ điện tử trong quản lý nhà nước nói chung và quản lý cư trú đối với người nước ngoài nói riêng
- Hoạt động của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam và tội phạm xuyên quốc gia
Hiện nay, tình hình an ninh chính trị vẫn diễn ra rất phức tạp, các thế lực thù địch chưa bao giờ từ bỏ âm mưu chống phá nền hòa bình của nước ta bằng nhiều phương thức, thủ đoạn Một trong những cách mà các thế lực này lợi dụng chính là tìm cách nhập cảnh, cư trú công khai hợp pháp để xây dựng lực lượng, xâm nhập vào hệ thống quản lý của Nhà nước, từ đó thực hiện các hành vi phá hoại xâm hại tới an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích của Nhà nước cũng như người dân Mội số tổ chức, cá nhân nước ngoài lợi dụng sự lỏng lẻo trong quản lý cư trú đối với người nước ngoài để thực hiện các hành vi phạm tội xuyên quốc gia với tính chất, mức
độ nguy hiểm ngày càng cao Những yếu tố này đòi hỏi Nhà nước phải quy định chặt chẽ, thống nhất trình tự, thủ tục quản lý cư trú đối với người nước ngoài để tăng cường hơn nữa công tác phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh và ngăn chặn hoạt động của các thế lực thù địch, tội phạm
1.3.2 Các yếu tố bên trong
- Mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật trong quản lý cư trú đối với người nước ngoài tại Việt Nam
Hệ thống pháp luật chặt chẽ, thống nhất là cơ sở để công tác quản lý được thực hiện có hiệu lực và hiệu quả Để một văn bản quy phạm pháp luật được thông qua và
Trang 35có hiệu lực thì cần trải qua một quy trình xây dựng kỹ lưỡng, trên cơ sở kế thừa những quy định có hiệu quả và sửa đổi, bổ sung những quy định gây khó khăn, vướng mắc đồng thời phải đảm bảo tính chặt chẽ, thống nhất của hệ thống pháp luật Do đó, các văn bản quy phạm pháp luật mới ra đời đều phải đảm bảo tính khoa học, chặt chẽ và phù hợp với yêu cầu của thực tiễn đời sống xã hội, đảm bảo quyền và lợi ích của Nhà nước và người dân cũng như hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý Lĩnh vực quản lý cư trú đối với người nước ngoài cũng không nằm ngoài quy luật này Chính vì những lẽ đó, việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý cư trú đối với người nước ngoài là một trong các yếu tố bên trong ảnh hưởng trực tiếp đến công tác quản lý cư trú Nếu thực hiện tốt việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đảm bảo tính chặt chẽ, khoa học, thống nhất trong hệ thống pháp luật thì công tác quản lý sẽ mang lại kết quả tích cực và ngược lại
- Mức độ hoàn thiện, thống nhất, tập trung, chuyên sâu từ Trung ương đến cơ
sở của bộ máy quản lý
Bên cạnh mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật thì hoạt động quản lý cư trú đối với người nước ngoài tại Việt Nam còn bị tác động bởi bộ máy quản lý và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan trong bộ máy quản lý
Bộ máy quản lý là một trong những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến công tác quản lý cư trú đối với người nước ngoài Bộ máy quản lý tốt, thống nhất từ Trung ương đến địa phương sẽ đảm bảo các quy định về điều kiện, trình tự, thủ tục luật định được triển khai có hiệu quả, chất lượng và tiết kiệm thời gian, chi phí Trong bộ máy này phải có sự phân công cụ thể cơ quan chuyên trách, đảm nhận chức năng tham mưu, quản lý, tổ chức hướng dẫn thực hiện công tác quản lý cư trú đối với người nước ngoài và các cơ quan phối hợp quản lý, thống nhất quản lý theo ngành dọc và ngành ngang
Trang 36- Cơ sở vật chất, phương tiện, trang thiết bị quản lý cư trú đối với người nước ngoài tại Việt Nam
Nhà nước đảm bảo ngân sách cho hoạt động quản lý cư trú đối với người nước ngoài tại Việt Nam Cơ sở vật chất, phương tiện, trang thiết bị là một trong những yếu
tố tác động không nhỏ đến hoạt động quản lý cư trú đối với người nước ngoài Trong
xu thế hội nhập và phát triển khoa học kỹ thuật thì cơ sở vật chất, phương tiện, trang thiết bị phục vụ quản lý cư trú đối với người nước ngoài cần phải được đầu tư, trang bị đầy đủ, hiện đại hơn nữa nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý, tiết kiệm nguồn nhân lực và chi phí, đặc biệt phải chú trọng ưu tiên trang bị cho những địa bàn trọng yếu về an ninh hoặc về thu hút đầu tư, du lịch
- Năng lực, đạo đức của đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện công tác quản lý
cư trú đối với người nước ngoài
Bên cạnh hệ thống pháp luật chặt chẽ, bộ máy nhà nước thống nhất, cơ sở vật chất, trang thiết bị được chú trọng thì năng lực, đạo đức của đội ngũ trực tiếp thực hiện công tác quản lý cư trú đối với người nước ngoài là yếu tố cực kỳ quan trọng tác động đến hoạt động quản lý cư trú đối với người nước ngoài tại Việt Nam Yếu tố con người tác động đến mọi mặt trong hoạt động quản lý nhà nước, bao gồm cả quản lý cư trú nói chung và quản lý cư trú đối với người nước ngoài nói riêng Để phát huy hiệu quả đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức triển khai thực hiện quản lý cư trú đối với người nước ngoài phải có trình độ, năng lực và phẩm chất đạo đức phù hợp Nếu không đáp ứng được yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ mà lại phụ trách vị trí quản lý thì sẽ không mang lại hiệu quả, dễ dẫn đến các sai phạm, thiếu sót, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của Nhà nước cũng như người nước ngoài Nếu có chuyên môn, trình độ nhưng phẩm chất đạo đức không phù hợp sẽ gây ra những tắc trách không đáng có trong quản lý, ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan quản lý cũng như uy tín của Đảng và Nhà nước
Tóm tắt Chương 1: Tác giả đã làm rõ những nhận thức cơ bản về người nước
ngoài và cư trú của người nước ngoài; phân tích, trình bày những vấn đề lý luận về quản lý cư trú đối với người nước ngoài bao gồm khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc và
Trang 37những yếu tố tác động đến quản lý cư trú đối với người nước ngoài Qua đó xây dựng căn cứ khoa học cho việc phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành về quản lý cư trú đối với người nước ngoài và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Ninh Thuận trong các Chương tiếp theo
Trang 38CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ QUẢN LÝ CƯ TRÚ ĐỐI VỚI
NGƯỜI NƯỚC NGOÀI VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
TẠI TỈNH NINH THUẬN 2.1 Quy định pháp luật về quản lý tạm trú đối với người nước ngoài và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Ninh Thuận
Các quy định về tạm trú đối với người nước ngoài tại Việt Nam được đề cập từ Điều 31 đến Điều 38 Mục 1 Chương VI Luật NC, XC, QC, CT Người nước ngoài khi nhập cảnh vào Việt Nam nếu không thuộc diện được giải quyết thường trú thì phải làm các thủ tục liên quan đến tạm trú theo quy định của Luật NC, XC, QC, CT và các văn bản hướng dẫn thi hành Pháp luật thực định quy định tạm trú đối với người nước ngoài tại Việt Nam chia làm 02 hình thức đó là: chứng nhận tạm trú và cấp thẻ tạm trú
2.1.1 Quy định về chứng nhận tạm trú đối với người nước ngoài
Chứng nhận tạm trú là việc cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam xác định thời hạn người nước ngoài được phép tạm trú tại Việt Nam15
- Về chủ thể được chứng nhận tạm trú:
Khoản 1 Điều 31 Luật NC, XC, QC, CT quy định đơn vị kiểm soát nhập cảnh cấp chứng nhận tạm trú cho người nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam Tức, người nước ngoài khi nhập cảnh hợp pháp vào Việt Nam là chủ thể được chứng nhận tạm trú (trừ trường hợp có thẻ tạm trú hoặc thẻ thường trú còn giá trị sử dụng theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 31 Luật NC, XC, QC, CT) Người nước ngoài ở đây được hiểu là người mang giấy tờ xác định quốc tịch nước ngoài và người không có quốc tịch16 Ngoại trừ trường hợp có thẻ tạm trú hoặc thẻ thường trú còn giá trị sử dụng thì người nước ngoài khi nhập cảnh vào Việt Nam được xác định như sau:
15 Khoản 12 Điều 3 Luật NC, XC, QC, CT
16 Khoản 1 Điều 3 Luật NC, XC, QC, CT
Trang 39Thứ nhất, người mang giấy tờ xác định quốc tịch nước ngoài Đối với trường hợp này, khi người nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam, họ phải xuất trình hộ chiếu còn hiệu lực với đơn vị kiểm soát nhập cảnh để được cơ quan chức năng có thẩm quyền của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xác nhận và thực hiện quản
lý giai đoạn kế tiếp theo quy định của pháp luật Hộ chiếu còn hiệu lực của người nước ngoài khi nhập cảnh vào Việt Nam phải có thị thực đối với người nước ngoài không được miễn thị thực hoặc không cần thị thực đối với người được miễn thị thực theo quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên Nếu người nước ngoài không xuất trình hộ chiếu thì phải xuất trình thị thực rời Theo quy định tại Điều 11 Luật NC, XC, QC, CT, thị thực rời được cấp trong các trường hợp: hộ chiếu đã hết trang cấp thị thực; hộ chiếu của nước chưa có quan hệ ngoại giao với Việt Nam; giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế; vì lý do ngoại giao, quốc phòng, an ninh
Thứ hai, người không quốc tịch xuất trình hộ chiếu còn hiệu lực hoặc thị thực rời Tương tự như đối với trường hợp trên, người không quốc tịch khi nhập cảnh vào Việt Nam phải xuất trình hộ chiếu còn hiệu lực đã được cấp thị thực, nếu hộ chiếu không còn hiệu lực và không được cấp thị thực vào hộ chiếu đó thì người không quốc tịch phải đảm bảo thực hiện các thủ tục để được cấp thị thực rời Như đã phân tích, điều kiện để được cấp thị thực rời là phải có giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế Theo quy định của khoản 3 Điều 3 Luật NC, XC, QC, CT, giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế là loại giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của một nước cấp cho người không quốc tịch đang
cư trú tại nước đó và được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam chấp thuận Vì vậy, người không có quốc tịch sẽ sử dụng giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế để làm các thủ tục xin cấp thị thực rời vào Việt Nam và sử dụng thị thực rời đó để nhập cảnh, cư trú tại Việt Nam
- Về thẩm quyền chứng nhận tạm trú:
Luật NC, XC, QC, CT quy định cơ quan có thẩm quyền chứng nhận tạm trú là đơn vị kiểm soát xuất nhập cảnh Đơn vị kiểm soát xuất nhập cảnh là cơ quan chuyên
Trang 40trách làm nhiệm vụ kiểm soát nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh của người nước ngoài tại cửa khẩu17
Căn cứ Điều 47 Luật này quy định về trách nhiệm của Bộ Công an, Điều 49 Luật này quy định về trách nhiệm của Bộ Quốc phòng thì công tác kiểm soát xuất nhập cảnh thuộc quyền hạn của Bộ Công an và Bộ Quốc phòng Cụ thể hơn, theo
Thông tư liên tịch số 03/2016/TTLT-BCA-BQP ngày 24/6/2016 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng về hướng dẫn việc nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài và kiểm tra, kiểm soát, giám sát phương tiện vận tải hàng hóa nước ngoài vào, ra khu kinh tế cửa khẩu và cảng biển thuộc khu kinh tế, thì đơn vị kiểm soát xuất nhập cảnh
được xác định là lực lượng Quản lý xuất nhập cảnh (thuộc Bộ Công an) và lực lượng
Bộ đội biên phòng (thuộc Bộ Quốc phòng) Hai lực lượng này tùy theo các trường hợp
cụ thể có thẩm quyền chứng nhận tạm trú vào hộ chiếu hoặc thị thực rời của người nước ngoài nhập cảnh hợp pháp vào Việt Nam
- Về hình thức chứng nhận tạm trú:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 31 Luật NC, XC, QC, CT, người nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam sẽ được đơn vị kiểm soát nhập cảnh cấp chứng nhận tạm trú bằng hình thức đóng dấu vào hộ chiếu hoặc đóng dấu vào thị thực rời Dấu chứng nhận tạm trú chỉ được đóng bởi đơn vị kiểm soát nhập cảnh, là cơ sở để chứng nhận một người có giấy tờ xác định quốc tịch nước ngoài hoặc người không quốc tịch đã nhập cảnh vào Việt Nam và thực hiện giai đoạn tiếp theo của nhập cảnh đó chính là cư trú
17 Khoản 16 Điều 3 Luật NC, XC, QC, CT