Trong phạm vi luận văn này, tác giả chỉ đề cập đến biện pháp chống trợ cấp như là một công cụ hữu hiệu để bảo hộ cho ngành sản xuất nội địa của nước nhập khẩu hàng hóa trong môi trường t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT - -
NGUYỄN THỊ THU HUYỀN
MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ CHỐNG TRỢ CẤP ĐỐI VỚI HÀNG HÓA NHẬP
KHẨU VÀO VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật kinh tế
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Bùi Ngọc Cường
Hà Nội - 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thị Thu Huyền
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 – CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÍA CẠNH PHÁP LÝ CỦA VẤN ĐỀ CHỐNG TRỢ CẤP HÀNG HÓA NHẬP KHẨU 5
1.1 Tự do hóa thương mại và tác động của tự do hóa thương mại đến nền kinh tế Việt Nam 5
1.1.1 Khái niệm và bản chất của tự do hóa thương mại 5
1.1.2 Tính chất hai mặt của tự do hóa thương mại 6
1.1.2.1 Lợi ích của tự do hóa thương mại 6
1.1.2.2 Mặt trái của tự do hóa thương mại 9
1.2 Khái niệm và phân loại trợ cấp hàng hóa nhập khẩu 12
1.2.1 Khái niệm trợ cấp 12
1.2.2 Phân loại trợ cấp hàng hóa nhập khẩu 16
1.3 Khái niệm và các biện pháp chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu 22
1.3.1 Khái niệm chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu 22
1.3.2 Các biện pháp chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu 23
1.3.2.1 Biện pháp chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu trong mối tương quan với các biện pháp phòng vệ thương mại khác 23
1.3.2.2 Các biện pháp chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu 28
1.4 Cơ sở xác định sự cần thiết của việc áp dụng pháp luật chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu tại Việt Nam 32
1.4.1 Dưới góc độ kinh tế 32
1.4.2 Dưới góc độ chính trị 36
1.5 Cơ sở pháp luật quốc tế về chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu 38
1.5.1 Quy định của WTO 38
Trang 41.5.2 Quy định của một số nước về chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu 44
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 49
CHƯƠNG 2 – NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT CHỐNG TRỢ CẤP HÀNG HÓA NHẬP KHẨU VÀO VIỆT NAM 50
2.1 Những quy định về việc xác định hành vi trợ cấp hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam 50
2.1.1 Các dấu hiệu pháp lý của trợ cấp theo quy định của pháp luật Việt Nam 50
2.1.1.1 Định nghĩa trợ cấp hàng hóa nhập khẩu 50
2.1.1.2 Các hình thức trợ cấp hàng hóa nhập khẩu 51
2.1.2 Xác định trợ cấp 53
2.2 Các quy định về việc điều tra hành vi trợ cấp hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam 57
2.2.1 Chủ thể có thẩm quyền điều tra hành vi trợ cấp hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam 57
2.2.2 Thủ tục điều tra hành vi trợ cấp hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam 58
2.2.2.1 Khởi xướng điều tra 58
2.2.2.2 Ra quyết định điều tra và thông báo điều tra 64
2.2.2.3 Tiến hành điều tra 65
2.2.2.4 Đưa ra các kết luận điều tra 67
2.2.2.5 Rà soát giải quyết khiếu nại và tranh chấp về việc áp dụng biện pháp chống trợ cấp 74
2.2.2.6 Khiếu nại và khởi kiện đối với quyết định áp dụng biện pháp chống trợ cấp 75
2.3 Nhóm quy định về việc áp dụng các biện pháp chống trợ cấp 76
2.3.1 Điều kiện áp dụng các biện pháp chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam 76
2.3.2 Nguyên tắc áp dụng các biện pháp chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam 77
Trang 52.3.3 Các biện pháp chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam 79
2.3.3.1 Áp dụng thuế chống trợ cấp tạm thời 80
2.3.3.2 Áp dụng thuế chống trợ cấp 81
2.3.3.3 Áp dụng biện pháp cam kết 85
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 88
CHƯƠNG 3 – TÌNH HÌNH ÁP DỤNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT, NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ CHỐNG TRỢ CẤP HÀNG HÓA NHẬP KHẨU VÀO VIỆT NAM 89
3.1 Tình hình áp dụng pháp luật chống trợ cấp Việt Nam 89
3.2 Tình hình áp dụng pháp luật chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu ở Việt Nam 95
3.3 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam 98
3.4 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam 103
3.4.1 Đối với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền 103
3.4.2 Đối với các doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng sản xuất trong nước 105
KẾT LUẬN 106
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 71
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Khi cạnh tranh trong thương mại trở thành vấn đề toàn cầu thì pháp luật điều tiết cạnh tranh cũng không còn là vấn đề nội bộ của các quốc gia Vì thế, các chế định về phòng vệ thương mại đã trở thành nội dung quan trọng trong khuôn khổ pháp luật về thương mại quốc tế của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Trong đó, chế định pháp luật về chống trợ cấp luôn có vị trí quan trọng và được các nước áp dụng khá phổ biến Tại Việt Nam, pháp luật về chống trợ cấp đã có những bước phát triển nhất định với việc ban hành Pháp lệnh chống trợ cấp đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam
Hiện nay, Việt Nam chưa có vụ điều tra chống trợ cấp nào đối với hàng hóa nhập khẩu Nhưng trong tương lai khi nền kinh tế chúng ta phát triển thì chúng ta sẽ phải đối mặt nhiều vụ kiện chống trợ cấp hơn, hiện tại chúng ta đang phải đối mặt với vấn đề chống bán phá giá và phần thua thiệt đang ở phía Việt Nam Nếu ngay từ bây giờ chúng ta không nhanh chóng nghiên cứu, tìm hiểu kỹ và ban hành các quy định pháp luật về chống trợ cấp trong hoạt động thương mại ở Việt Nam phù hợp với xu thế hội nhập thì sẽ có một ngày chúng ta sẽ bị động và lại thua thiệt trên bàn cờ thế giới về vấn đề chống trợ cấp Mặc dù Việt Nam đã ban hành pháp lệnh về chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam năm 2004 và một số nghị định thông tư khác kèm theo, nhưng với tình hình phức tạp của nền kinh tế thế giới và sự hội nhập ngày càng sâu sắc của nền kinh tế Việt Nam trên thị trường thế giới, thiết nghĩ việc nghiên cứu pháp luật về chống trợ cấp trong hoạt động ở Việt Nam để làm sáng tỏ cơ sở lý luận, thực tiễn và hướng hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này trong quá trình hội nhập là vấn đề vô cùng cần thiết
Việt Nam tiếp cận lĩnh vực pháp luật về trợ cấp và chống trợ cấp trong bối cảnh đặc biệt Các quy định trong Pháp lệnh chống trợ cấp đối với hàng
Trang 82
hóa nhập khẩu vào Việt Nam được xây dựng từ kết quả tiếp thu một cách đơn giản và chưa đầy đủ pháp luật WTO và pháp luật các nước nên các vấn đề lý luận về vấn đề này vẫn còn bỏ ngỏ trong khoa học pháp lý Từ những lý do
trên tác giả đã lựa chọn đề tài “Một số vấn đề pháp lý về chống trợ cấp đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sỹ Việc
nghiên cứu các cơ sở lý luận và các vấn đề đặt ra từ thực tiễn về pháp luật chống trợ cấp không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận và còn có giá trị thực tiễn
sâu sắc
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trên thế giới, vấn đề pháp luật về chống trợ cấp được đề cập từ rất sớm
Từ những năm 1980, WTO và một số các nước thành viên đã ban hành bộ tiêu chuẩn, thuế về chống trợ cấp và pháp luật về chống trợ cấp Nhưng ở Việt Nam, mãi đến năm 2004 mới ban hành Pháp lệnh về chống trợ cấp chống nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam và một số nghị định, thông tư kèm theo nhưng hầu như chỉ dừng lại ở quy định khung Vì vậy, có thể nói đề tài về chống trợ cấp ở Việt Nam còn khá mới mẻ trong khoa học pháp lý và trong thực tế Ở các phạm vi và mức độ khác nhau, có một số công trình đã được công bố, đề cập đến một vài khía cạnh liên quan đến nội dung của đề tài Đáng chú ý là một số công trình nghiên cứu đề cập đến pháp luật về chống trợ cập của WTO và Việt Nam như: Trợ cấp và biện pháp đối kháng theo quy định của WTO của tác giả Nguyễn Thị Hải Yến đăng trên Website của Ủy ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế, Phân tích thuế quan, ngành và trợ cấp của nhóm tác giả Montague Lord, Malcolm Bosworth, Đỗ Trọng Khanh và Nguyễn Trường Sơn NXB Tài chính 2005, điều chỉnh chính sách thuế và trợ cấp sau khi gia nhập WTO của tác giả Lê Xuân Sáng và Nguyễn Xuân Trình chủ biên NXB Tài chính 2007…Tuy nhiên, trong những công trình này các tác giả mới chỉ dừng lại ở việc phân tích những quy định của
Trang 93 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu chỉ tập trung nghiên cứu về pháp luật chống trợ cấp trong hoạt động thương mại ở Việt Nam nói chúng, không đề cập và giải quyết các khía cạnh pháp lý liên quan đến pháp luật trong lĩnh vực cụ thể
Đề tài nghiên cứu tập trung làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản pháp luật về chống trợ cấp trong hoạt động thương mại ở Việt Nam Nhận diện, phân tích, đánh giá tác động của chống trợ cấp đối với nguyên tắc tự do hóa thương mại, các quy định về chống trợ cấp của WTO, một số nước thành viên của WTO, đi sau phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam về chống trợ cấp Đồng thời, đưa ra một số kiến nghị nhằm đáp ứng tình hình thực tế và giải pháp hoàn thiện pháp luật về chống trợ cấp trong hoạt động thương mại ở Việt Nam để bảo vệ quyền lợi của các doanh nghiệp trong nước, đồng thời phù hợp với luật pháp quốc tế (WTO)
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn được trình bày trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin
về Nhà nước và Pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế Nội dung của luận văn được nêu và phân tích dựa trên cơ sở các văn bản pháp luật của Nhà nước, các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật và các tài liệu pháp lý Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Trang 104
Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp như: tổng hợp, phân tích, so sánh, đối chiếu lịch sử…
5 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Tìm hiểu và làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận cơ bản pháp luật về chống trợ cấp Phân tích đánh giá những nội dung cơ bản của pháp luật về chống trợ cấp trong hoạt động thương mại ở Việt Nam, đồng thời nghiên cứu quan điểm
và cách tiếp cận của WTO, một số nước thành viên WTO về vấn đề trợ cấp,
so sánh với pháp luật Việt Nam về vấn đề này
Trên cơ sở đánh giá tình hình thực tế và thực trạng pháp luật Việt Nam
về chống trợ cấp trong hoạt động thương mại, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về chống trợ cấp trong hoạt động thương mại ở Việt Nam trong xu hướng toàn cầu hóa và nhất là khi Việt Nam tham gia sâu hơn vào thương mại quốc tế
6 Đóng góp mới của đề tài
Đề tài tìm hiểu một cách toàn diện và đầy đủ nhất pháp luật về chống trợ cấp trong hoạt động thương mại ở Việt Nam Thông qua việc phân tích, đánh giá làm sáng tỏ vấn đề pháp luật về chống trợ cấp trong hoạt động thương mại
ở Việt Nam đồng thời so sánh với các quy định của WTO và một số nước thành viên Ngoài ra tác giả cũng đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, một số biện pháp nhằm nâng cao tính khả thi trên thực tế và một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành trong lĩnh vực này để bảo vệ các doanh nghiệp, các ngành sản xuất trong nước, đồng thời phù hợp với luật pháp quốc tế
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của đề tài gồm 3 chương chính chi tiết như sau:
Trang 111.1.1 Khái niệm và bản chất của tự do hóa thương mại
Toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ không chỉ đem đến những bước tăng trưởng kinh tế vượt bậc so với thời kỳ các quốc gia thực hiện chính sách “ đóng cửa” trước đây mà còn mang lại luồng sóng cạnh tranh khốc liệt Để đứng vững trong cuộc cạnh tranh này, các quốc gia thường sử dụng nhiều biện pháp để bảo hộ sản xuất trong nước và hạn chế dòng luân chuyển thương mại Tuy nhiên, đứng trước nhu cầu hợp tác sâu rộng nhằm thúc đẩy thương mại phát triển toàn diện trên cơ sở nguyên tắc “ lợi thế so sánh”, bảo hộ tự do hay tự do hóa thương mại dần trở thành một trong các xu thế chủ đạo hiện nay trên thế giới
Có thể hiểu tự do hoá thương mại là quá trình dỡ bỏ dần dần phân biệt đối xử, các rào cản đối với thương mại chủ yếu là thuế quan và phi thuế quan
và thực hiện các hoạt động thuận lợi hóa thương mại trước hết nhằm đạt được
sự đối xử công bằng giữa hàng hóa, dịch vụ sản xuất trong nước và hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu từ nước ngoài, giữa các nhà sản xuất trong nước và những nhà sản xuất nước ngoài, và sau cùng là đạt được chế độ thương mại tự do Như vậy, bản chất của tự do hóa thương mại là thông qua các biện pháp nhất định làm cho luồng hàng hoá di chuyển từ nước này sang nước khác được thuận lợi hơn trên cơ sở cạnh tranh bình đẳng
Từ thập kỷ 1990 đến nay tự do hoá thương mại và hội nhập kinh tế quốc
tế đã có bước phát triển đột biến mạnh mẽ thể hiện trên các mặt: sự ra đời của
Trang 126
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) bao gồm gần như tất cả các nền kinh tế thế giới (hiện đã có 159 nước tham gia và hầu hết các nước còn tại đều muốn tham gia); các khu thương mại tự do phát triển mạnh mẽ từ EU, NAFTA, AFTA đến các khối kinh tế khác ở hầu khắp các châu lục; các Hiệp nghị thương mại tự do song phương phát triển chưa từng có giữa các quốc gia với nhau như Mỹ - Singapore, Mỹ - Thái Lan…đến các Hiệp nghị thương mại tự
do giữa các khối thương mại tự do với các quốc gia như: ASEAN - Trung Quốc, ASEAN - Nhật Bản… Hàng rào thuế quan giữa các nước phát triển với nhau đã giảm xuống còn 3%, mức thuế quan quân bình của các nước đang phát triển cũng đã được hạ thấp xuống còn khoảng 14% Những cam kết giảm
bỏ hàng rào bảo hộ đang là nội dung chủ yếu của các cuộc đàm phán đa
phương và song phương hiện nay Đặc biệt, ngày 07/12/2013, WTO vừa đạt
được thỏa thuận toàn cầu đầu tiên trong gần hai thập kỷ, nhằm đẩy mạnh giao thương trên thế giới Thỏa thuận vừa được ký tại Bali bao gồm những cam kết tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại bằng việc đơn giản hóa các thủ tục hải quan và dỡ bỏ các rào cản thương mại Thỏa thuận này sẽ giúp giảm bớt rào cản xuất khẩu đối với các nước nghèo, đồng thời cho phép các nước đang phát triển được mở rộng quy mô chương trình trợ giá để đảm bảo nguồn cung cấp lương thực Một số nhà kinh tế nhận định thỏa thuận này có thể mang lại 1.000 tỷ USD để thúc đẩy nền kinh tế thế giới
1.1.2 Tính chất hai mặt của tự do hóa thương mại
1.1.2.1 Lợi ích của tự do hóa thương mại
Có một thực tế không thể phủ nhận được là những nền kinh tế thị trường tham gia vào quá trình tự do hoá thương mại và hội nhập kinh tế quốc tế nói chung đã có những tiến bộ và phát triển nổi bật Ở châu Á, những nền kinh tế thị trường phát triển nhất là những nền kinh tế thị trường tham gia sâu rộng nhất vào quá trình tự do hoá thương mại và hội nhập kinh tế quốc tế, nổi trội
Trang 137
nhất như Hồng Kông và Singapore; Các nền kinh tế Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc cũng là những nền kinh tế có mức tự do hoá thượng mại và hội nhập quốc tế cao hơn Ở châu Mỹ La tinh, Chi Lê là một ví dụ nổi bật Các nước OECD là những nền kinh tế thị trường phát triển nhất, thì đồng thời cũng là những nền kinh tế có mức độ tự do hoá thương mại cao nhất Thực tế phát triển của thế giới cũng cho thấy không có một nền kinh tế thị trường nào không tham gia tự do hoá thương mại và hội nhập kinh tế quốc tế mà lại đạt được những tiến bộ, tăng trưởng và phát triển nổi bật cả Châu Phi phát triển rất trì trệ trong một thời gian dài, có thể do xung đột và mất ổn định, nhưng có một lý do rất cơ bản cho sự trì trệ và kém phát triển là các quan hệ thị trường
ở đây kém phát triển và những nền kinh tế châu Phi hội nhập kinh tế quốc tế thấp
Tự do thương mại mang lại những lợi ích chung, tạo ra sự tiến bộ và phát triển của toàn nhân loại Dưới tác động của tự do hoá thương mại và hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là dưới tác động của WTO, tình hình kinh tế thế giới đã có những thay đổi to lớn
(i) Thuế quan đã liên tục giảm từ mức thuế trung bình của toàn thế giới hơn 40% (thời kỳ đầu sau chiến tranh) xuống còn khoảng 3% ở các nước phát triển và 14% ở các nước đang phát triển hiện nay Thực tế cho thấy việc giảm thuế quan, bỏ hàng rào phi thuế quan liên tục đã thúc đẩy việc giảm giá hàng hoá phổ biến, giữ lạm phát ở mức thấp kể từ thập kỷ 1980 đến nay, tăng cường sức cạnh tranh, nâng cao chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế (ii) Mức tăng trưởng hàng năm của thương mại thế giới liên tục cao hơn mức tăng trưởng hàng năm của giá trị sản xuất thế giới từ 1,5 đến 2 lần kể từ sau những năm 1950 đến nay Năm 1950, giá trị thương mại thế giới chiếm 7% tổng giá trị sản xuất toàn thế giới, đến năm 1997 đã tăng lên là 23% và nay vào khoảng 27%
Trang 14cơ bản và thiết yếu để xây dựng, vận hành và hiện đại hóa nền kinh tế Thành công của các nước NIC là một bằng chứng rất thuyết phục cho thấy hiệu quả của việc khai thác các nguồn lực này đã giúp một số nước thế giới thứ ba phát triển
Tự do thương mại thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình cải cách chính trị - xã hội Việc hàng hoá, dịch vụ, tiền vốn và thậm chí cả con người lưu chuyển dễ dàng, nhanh chóng và với quy mô lớn trên thị trường toàn cầu không chỉ mang lại lợi ích kinh tế lớn lao mà còn thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình phát triển chính trị - xã hội của mọi cộng đồng, đặc biệt là các nước thế giới thứ ba Thông qua lợi ích kinh tế, tự do thương mại ảnh hưởng đến mọi khía cạnh của cuộc sống như truyền thống, gia đình và dân chủ xã hội Cùng với tự do thương mại, dân chủ lan truyền tới các miền đất mới, thúc đẩy cải cách chính trị, văn hoá, làm tăng vai trò của các tổ chức phi chính phủ Tự do thương mại tạo nguồn động lực kinh tế thúc đẩy khuynh hướng cải cách triệt để hệ thống nhà nước, hệ thống chính trị và thậm chí là cả hệ thống nhận thức Tự do thương mại tạo ra sức ép xã hội để người dân được hưởng những quyền tự do khác, làm đổi mới bầu không khí chính trị, văn hóa - xã hội mà kết quả là các quốc gia đang phát triển ngày càng có tiếng nói quan trọng hơn trên trường quốc tế
Trang 159
Cuối cùng, tự do thương mại khuyến khích phát triển một nền văn hóa mới Tự do thương mại thúc đẩy xu thế toàn cầu hóa về văn hoá, góp phần khắc phục những yếu tố lạc hậu trong văn hóa của thế giới thứ ba Đặc trưng lớn nhất của quá trình toàn cầu hóa về văn hóa là sự hình thành đặc tính văn hóa mới của thời đại, văn hóa công dân thế giới Đó là nền văn hóa mở, thu nhận mọi giá trị phù hợp với tự nhiên và phát triển Con người không chỉ ý thức về quyền lợi và nghĩa vụ bó hẹp trong cộng đồng mình mà còn trước toàn thể nhân loại Trong môi trường văn hóa mở, người dân của thế giới thứ
ba dễ dàng tham gia vào các hoạt động kinh doanh, giao lưu và đối thoại quốc
tế Trong xã hội văn minh, họ trở nên bình đẳng với các đối tác khác trong việc tìm kiếm sự hợp tác, đồng thuận cho tiến trình phát triển toàn cầu
1.1.2.2 Mặt trái của tự do hóa thương mại
Tự do thương mại đem lại những cơ hội và lợi ích nhưng rủi ro không phải là không có Tự do hóa thương mại có thể làm đảo lộn nhiều lĩnh vực, thậm chí dẫn đến những nhiễu loạn xã hội tại nhiều nước nghèo Do hoàn cảnh kinh tế xã hội của mình, các nước đang phát triển thường có nhược điểm chung là kém phát triển về kinh tế và khoa học công nghệ, lạc hậu về thể chế chính trị và văn hoá Chính do những nhược điểm này, các quốc gia đang phát triển sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức
Những khó khăn, thách thức về kinh tế
Trong môi trường thương mại quốc tế đang đi theo xu hướng tự do hóa thương mại ngày càng mạnh mẽ, các quốc gia thành viên của WTO buộc phải cam kết cắt giảm và tiến tới xóa bỏ hoàn toàn rào cản thuế quan đánh lên hàng hóa nhập khẩu Các nước đang phát triển thiếu tiền vốn đầu tư, công nghệ lạc hậu và chậm đổi mới, sản phẩm công nghiệp càng khó có thể cạnh tranh về chất lượng và số lượng với sản phẩm từ các nước phát triển có nhiều ưu thế hơn về mọi mặt
Trang 16Nền kinh tế toàn cầu hiện đang hình thành với các quan hệ thương mại chiếm tới khoảng 27% GDP toàn cầu, các dòng tiền tệ, vốn lưu thông mạnh
mẽ, các công ty xuyên và đa quốc gia đã hoạt động rộng khắp… Nhưng cho đến nay chưa có một tổ chức kinh tế toàn cầu có đủ quyền lực điều tiết các quan hệ kinh tế toàn cầu WTO, IMF, WB mới chỉ là những định chế quốc tế
có trách nhiệm điều tiết từng mảng quan hệ kinh tế quốc tế theo các thoả thuận tự nguyện Ngay cả sự ra đời của các tổ chức quốc tế này và các nguyên tắc của chúng cũng đã được hình thành một cách thiếu dân chủ Thế giới đang thiếu một hệ thống thể chế kinh tế, một bộ máy điều hành có đủ quyền lực, hình thành một cách dân chủ Do vậy, các quan hệ kinh tế, thương mại đang phát triển tự do thiếu sự điều tiết cần thiết
Khó khăn về chính trị - xã hội
Cơ chế tự do thương mại không chỉ tác động tới cộng đồng kinh doanh mà còn ảnh hưởng mạnh mẽ đến toàn bộ xã hội Quá trình phát triển tự do thương mại đã hình thành cơ chế tự do thương mại bao gồm các luật lệ quy định ràng buộc các bên phải tuân thủ khi tiến hành hoạt động thương mại Do nhiều nguyên nhân kinh tế - xã hội, các nước đang phát triển dù muốn cũng rất khó đáp ứng quy chế tự do thương mại hiện hành Quy tắc tự do thương mại không cho phép các Chính phủ hỗ trợ tài chính cho các tổ chức và cá nhân
Trang 1711
kinh doanh trong nước dưới bất kỳ một hình thức trợ cấp, ưu đãi nào Quy tắc này đặt các doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh của thế giới thứ ba vào tình thế nghiêm trọng hơn, do phải đối mặt với cạnh tranh thực sự Ngoài ra, các quy định như không được sử dụng lao động trẻ em, quy định bảo vệ môi trường là các tiêu chuẩn mà các nước đang phát triển không dễ gì đáp ứng.Bên cạnh đó, các chủ thể có thái độ khác nhau khi tham gia vào quá trình
tự do thương mại Đối với chủ thể nhà nước mà đại diện là Chính phủ, tự do thương mại không phải bao giờ cũng mang lại lợi ích Hoạt động tự do thương mại đe doạ phá vỡ những đặc quyền và độc quyền nhà nước dưới danh nghĩa chủ quyền quốc gia hoặc độc lập chính trị Chính vì nguyên nhân này, các Chính phủ thường có thái độ bảo thủ hơn trong quá trình tự do thương mại Thay vì đưa ra chính sách mở cửa để hợp tác với các lực lượng bên ngoài, các chính phủ có thể đưa ra những quyết định cản trở quá trình tự
do thương mại, tạo ra những rào cản khác nhau để hạn chế những thất thiệt
mà chính phủ cho rằng nhà nước, các doanh nhân và dân chúng trong nước có thể gặp phải trong quá trình tự do thương mại Cách tiếp cận này đi ngược với
xu thế của tự do thương mại
Ngoài ra,tự do hoá thương mại gia tăng dẫn tới tăng trưởng cao hơn; sử dụng tài nguyên nhiều hơn với các công nghệ truyền thống sẽ dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường nặng nề hơn; giao lưu kinh tế phát triển sẽ tạo điều kiện để các tổ chức tội phạm quốc tế liên kết với nhau gia tăng hoạt động; và giao lưu quốc tế phát triển cũng là một điều kiện dẫn đến sự lây lan ngày càng tăng các căn bệnh nguy hiểm
Nói tóm lại, vấn đề đặt ra cho các quốc gia là phải tìm kiếm những giải pháp gì để thúc đẩy tự do hoá thương mại và hội nhập quốc tế phát triển theo hướng có lợi cho sự tiến bộ và phát triển kinh tế - xã hội toàn cầu, mang lại
Trang 1812
những lợi ích cho mọi quốc gia, dân tộc và các tầng lớp xã hội, hạn chế tới mức thấp nhất những cái giá phải trả, những tác động tiêu cực, những ảnh hưởng xấu tới an ninh và ổn định Trong phạm vi luận văn này, tác giả chỉ đề cập đến biện pháp chống trợ cấp như là một công cụ hữu hiệu để bảo hộ cho ngành sản xuất nội địa của nước nhập khẩu hàng hóa trong môi trường thương mại quốc tế đang đi theo xu hướng tự do hóa thương mại ngày càng mạnh mẽ
1.2 Khái niệm và phân loại trợ cấp hàng hóa nhập khẩu
1.2.1 Khái niệm trợ cấp
Trong thương mại quốc tế, tranh chấp là một hiện tượng song hành với
sự gia tăng các luồng giao thương trên phạm vi toàn cầu Tranh chấp diễn ra khi một nước cho rằng một nước khác vi phạm thỏa thuận đã cam kết gây thiệt hại cho nước mình Các tranh chấp thương mại đưa ra giải quyết tại WTO thông thường xoay quanh ba nội dung chính là các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ
Trong đời sống thường ngày, trợ cấp được hiểu đơn giản là hành vi mà một chủ thể có năng lực tài chính hỗ trợ cho chủ thể khác một khoản giá trị vật chất nhất định nhằm giúp bên được trợ cấp khắc phục những khó khăn về tài chính
Thực tế đời sống xã hội hiện nay đã tồn tại nhiều trường hợp trợ cấp với những mục đích khác nhau, chẳng hạn như trợ cấp y tế, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp giáo dục… Trong các trợ cấp nói trên, có thể thấy rằng người được trợ cấp thường là người cần có tiền để trang trải các chi phí y tế, giáo dục, ổn định đời sống… và người trợ cấp thường là Nhà nước hoặc các tổ chức, cá nhân có năng lực tài chính
Không chỉ xuất hiện trong đời sống thường ngày mà hiện tượng trợ cấp cũng xuất hiện trong trong thực tiễn thương mại quốc tế, đó là hành vi trợ cấp
Trang 1913
mà các Chính phủ thực hiện nhằm bảo hộ ngành sản xuất trong nước Trợ cấp
là một công cụ chính sách được sử dụng rộng rãi và phổ biến ở hầu hết các nước nhằm đạt các mục tiêu của Chính phủ về kinh tế-xã hội-chính trị, v.v Hiện có rất nhiều khái niệm về “trợ cấp” và việc đi đến một khái niệm tương đối chính xác và thống nhất về “trợ cấp” là một chủ đề gây tranh cãi không chỉ giữa các quốc gia mà còn giữa các học giả Theo Hiệp định về Trợ cấp và
các biện pháp đối kháng của WTO (SCM), một biện pháp được coi là trợ cấp nếu thỏa mãn đủ hai điều kiện: là một khoản đóng góp về tài chính do chính phủ hoặc một tổ chức nhà nước/công cung cấp; hoặc là một khoản hỗ trợ thu nhập hoặc hỗ trợ giá; và mang lại lợi ích cho đối tượng nhận trợ cấp
Trong khái niệm này, có một số nội dung cần làm rõ như sau:
(i) Chủ thể cung cấp trợ cấp có thể là cơ quan Nhà nước (ví dụ các Bộ
ngành, chính quyền địa phương) hoặc tổ chức công (ví dụ các Trung tâm nghiên cứu, các Trường Viện, các Quỹ ) của Nhà nước nhưng cũng có thể là các chủ thể tư nhưng hành động như tổ chức công trong trường hợp cấp trợ cấp dưới sự chỉ đạo của Nhà nước (ví dụ các ngân hàng tư nhân được Nhà nước cấp vốn để cho doanh nghiệp vay với lãi suất ưu đãi hoặc thực hiện chỉ đạo của nhà nước trong việc cho vay ưu đãi như vậy) Cách gọi “Nhà nước”
là cách gọi chung cho các trường hợp này nhưng không có nghĩa là chỉ bao gồm các cơ quan Nhà nước thuần túy;
(ii) Lợi ích: Các khoản hỗ trợ này được hiểu là mang lại lợi ích cho đối
tượng được hưởng hỗ trợ nếu nó được thực hiện theo cách mà một nhà đầu tư
tư nhân, một ngân hàng thương mại…bình thường sẽ không khi nào làm như vậy (vì đi ngược lại những tính toán thương mại thông thường) Ví dụ một Quỹ tín dụng cho doanh nghiệp sản xuất mặt hàng A vay vốn sản xuất với mức lãi suất 10% trong khi trên thị trường mức lãi suất trung bình cho một
Trang 20 Về yếu tố hành vi
Các hành vi trợ cấp gồm hai loại:
Thứ nhất, hành vi hỗ trợ về tài chính của chính phủ hoặc của một cơ
quan công quyền (Trung ương hoặc địa phương) đối với doanh nghiệp hoặc ngành sản xuất dưới một trong những hình thức nhất định như:
(i) Chuyển trực tiếp các khoản vốn (ví dụ như cấp phát, cho vay hoặc góp cổ phần);
(iii) Bỏ qua hoặc không thu các khoản phải nộp cho Chính phủ (ví dụ các
ưu đãi tài chính như miễn thuế);
(iii) Cung cấp hàng hóa hay dịch vụ khác ngoài các hàng hóa, dịch vụ thuộc cơ sở hạ tầng chung (đường xá, điện, nước, xử lý rác thải…) hoặc mua hàng hóa;
(iv) Góp tiền vao một cơ chế tài trợ hoặc ra lệnh cho một tổ chức tư nhân thực thi một hay nhiều chức năng nếu ở mục (i) và (ii)
Trang 2115
Thứ hai, theo Khoản 1 Điểm A Điều XVI Hiệp định GATT 1994 quy
định bất kỳ hành vi hỗ trợ thu nhập hoặc trợ giá khác ngoài các hành vi nêu trên, một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, do Chính phủ thục hiện nhằm thúc đẩy xuất khẩu ra thị trường nước ngoài hoặc làm giảm nhập khẩu vào thị trường nội địa
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng các hành vi trợ cấp nói trên chỉ có thể gây ra hậu quả bóp méo thương mại và chịu chế tài (bị áp dụng các biện pháp chống trợ cấp) khi các hành vi này mang tính riêng biệt Theo Điều 2, SCM thì tính riêng biệt của hành vi trợ cấp được xác định khác nhau trong hai trường hợp sau đây:
Một là, đối với trợ cấp là trợ cấp bị cấm (bao gồm trợ cấp xuất khẩu và
trợ cấp ưu tiên dùng hàng nội địa) thì mọi trường hợp trợ cấp đều có tính riêng biệt
Hai là, đối với trợ cấp không phải trợ cấp bị cấm, tính riêng biệt có thể là
một hoặc toàn bộ ba loại sau: riêng biệt đối với doanh nghiệp (Chính phủ nhắm đến một công ty hoặc một số công ty nhất định để trợ cấp); riêng biệt đối với ngành (Chính phủ nhắm đến một lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực nhất định để trợ cấp); riêng biệt đối với vùng (Chính phủ nhắm đến một khu vực địa lý hoặc một số khu vực địa lý nhất định để trợ cấp)
Trang 2216
cấp nhập khẩu hàng hóa còn có một cách gọi khác là trợ cấp xuất khẩu Theo Điều XVI GATT 1994, Điểm (a) Khoản 3.1 Điều 3 SCM, Khoản (e) Điều 1 AOA, các quy định về trợ cấp xuất khẩu đều định nghĩa trợ cấp xuất khẩu là
“trợ cấp dựa trên kết quả thực hiện xuất khẩu ” Từ định nghĩa này và kết hợp với khái niệm trợ cấp của WTO đã phân tích ở trên, ta có thể đưa ra định nghĩa trợ cấp hàng hóa nhập khẩu như sau:
Trợ cấp hàng hóa nhập khẩu là sự hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp của Chính phủ quốc gia xuất khẩu hàng hóa đó cho các doanh nghiệp hoặc ngành sản xuất hàng xuất khẩu của nước mình mà sự hỗ trợ này giúp cho các doanh nghiệp hoặc ngành sản xuất hàng xuất khẩu đó được hưởng một khoản lợi ích tài chính nhất định để tạo ra lợi thế cạnh tranh trên thị trường nước nhập khẩu
1.2.2 Phân loại trợ cấp hàng hóa nhập khẩu
Về khía cạnh lý thuyết, việc phân loại trợ cấp hàng hóa nhập khẩu được thực hiện dựa trên những tiêu chí cơ bản được phân tích dưới đây:
Trong hệ thống các quy định của WTO, Điều XVI của GATT quy định
về trợ cấp nói chung và quy định này được làm rõ và nêu chi tiết tại SCM Đối với các sản phẩm nông nghiệp thì phải áp dụng các quy định của AOA Nói cách khác, các điều khoản của SCM áp dụng cho các sản phẩm phi nông nghiệp; còn các điều khoản của AOA áp dụng cho các sản phẩm nông nghiệp Đối với trợ cấp hàng hóa nhập khẩu là sản phẩm phi nông nghiệp, Phụ lục I của SCM không có quy định phân chia rõ ràng các hình thức trợ cấp xuất khẩu mà chỉ đưa ra những trường hợp minh họa cho trợ cấp xuất khẩu sau đây:
A1 Chính phủ trợ cấp trực tiếp cho một hãng hoặc một ngành sản xuất trong nước tính theo kết quả xuất khẩu;
B1 Các biện pháp giữ lại ngoại tệ hoặc biện pháp tương tự để thưởng
Trang 2317
khuyến khích xuất khẩu Các biện pháp giữ lại ngoại tệ là những biện pháp cho phép các doanh nghiệp xuất khẩu giữ lại toàn bộ khoản thu ngoại tệ của
họ trong tài khoản ngân hàng trong nước;
C1 Chính phủ cung cấp những điều kiện thuận lợi hơn trong vận chuyển
và cước phí vận chuyển hàng xuất khẩu so với hàng nội địa;
D1 Chính phủ hoặc cơ quan Chính phủ cung cấp những điều kiện ưu đãi hơn cho hàng hóa hoặc dịch vụ nhằm phục vụ cho việc sản xuất hàng xuất khẩu so với những điều kiện dành cho các sản phẩm cùng loại hoặc có tính cạnh tranh trực tiếp được tiêu thụ trong nước, nếu những điều kiện điều thuận lợi hơn điều kiện thương mại thông thường sẵn có trên thị trường thế giới dành cho nhà xuất khẩu của nước mình;
E1 Miễn, hay tạm ngừng thu toàn bộ hoặc một phần các khoản thuế trực thu hay các khoản đóng góp cho phúc lợi xã hội mà các khoản đóng góp này chỉ áp dụng cho xuất khẩu;
F1 Cho phép miễn giảm trực tiếp liên quan tới xuất khẩu hoặc kết quả xuất khẩu, vượt quá hay cao hơn những miễn giảm dành cho sản xuất để tiêu thụ trong nước, trong cách tính toán cơ sở để thu thuế trực tiếp;
G1 Miễn hay hoàn thuế gián thu cao hơn mức áp dụng đối với sản xuất hay lưu thông một sản phẩm tương tự tiêu thụ trên thị trường nội địa, đối với sản xuất hay lưu thông xuất khẩu hàng hoá;
H1 Miễn, hoàn hay hoãn nộp thuế gián thu thuộc diện thu gộp cho cả các công khoản trước đây với hàng hoá hay dịch vụ được sử dụng trong sản xuất hàng xuất khẩu, vượt quá mức được miễn, giảm hay hoãn thu cho hàng hóa được tiêu thụ trong nước tương tự; tuy nhiên với điều kiện là, các khoản thuế gián thu gộp được miễn, hoàn hay hoãn có thể áp dụng đối với hàng xuất khẩu mà không áp dụng với sản phẩm tương tự được tiêu thụ trong nước, khi
Trang 24từ quy định này khi các hoạt động nhập khẩu và xuất khẩu tương ứng được thực hiện trong một thời kỳ hợp lý nhưng không quá hai năm;
K1 Chính phủ bảo đảm tín dụng xuất khẩu và các chương trình bảo lãnh chống lại sự tăng giá sản phẩm xuất khẩu hay các chương trình về rủi ro ngoại hối, với phí thu thấp không hợp lý, không đủ để chi trả cho chi phí hoạt động dài hạn hoặc thâm hụt của các chương trình đó;
L1 Chính phủ cấp các khoản tín dụng xuất khẩu với lãi suất thấp hơn mức mà doanh nghiệp xuất khẩu thực tế phải trả để có được tiền thực hiện việc này (hay lẽ ra phải trả nếu vay trên thị trường vốn quốc tế để có được tiền với cùng thời hạn và các điều kiện tín dụng, và được tính bằng cùng một đồng tiền của tín dụng xuất khẩu), hoặc các cơ sở đó trả cho toàn bộ hay một phần chi phí phát sinh với nhà sản xuất hay với cơ quan tài chính để có được tín dụng, trong chừng mực các khoản tín dụng đó được sử dụng để bảo đảm dành cho nhà xuất khẩu những lợi thế đáng kể trong lĩnh vực tín dụng xuất khẩu; M1 Bất kỳ khoản thu nào từ ngân sách nhà nước tạo thành trợ cấp theo nội dung quy định tại Điều XVI, GATT 1994
Đối với hàng hóa nhập khẩu là sản phẩm nông nghiệp, tương tự như đối với sản phẩm phi nông nghiệp, Khoản 1 Điều 9 AOA cũng không phân chia các hình thức trợ cấp hàng hóa nông nghiệp nhập khẩu mà chỉ nêu ra một số
Trang 2519
trường hợp cụ thể được xác định là trợ cấp xuất khẩu:
A1 Trợ cấp trực tiếp của chính phủ hoặc các cơ quan chính phủ, kể cả trợ cấp bằng hiện vật, cho một hãng, một ngành, cho các nhà sản xuất sản, phẩm nông nghiệp cho một hợp tác xã hoặc hiệp hội của các nhà sản xuất, hoặc cho một cơ quan tiếp thị, tuỳ thuộc vào việc thực hiện xuất khẩu;
B2 Việc bán hoặc thanh lý xuất khẩu của chính phủ hoặc các cơ quan chính phủ dự trữ sản phẩm phi thương mại với giá thấp hơn giá so sánh của sản phẩm cùng loại trên thị trường nội địa;
C2 Các khoản thanh toán xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp hoàn toàn do chính phủ thực hiện, dù có tính vào tài khoản công hay không, kể cả các khoản thanh toán lấy từ khoản thu thuế từ sản phẩm nông nghiệp có liên quan hoặc từ sản phẩm xuất khẩu được làm ra;
D2 Trợ cấp nhằm giảm chi phí tiếp thị xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp (ngoài các trợ cấp dịch vụ xúc tiến xuất khẩu và dịch vụ tư vấn ), bao gồm chi phí vận chuyển, nâng phẩm cấp và các chi phí chế biến khác, và chi phí vận tải quốc tế và cước phí;
E2 Phí vận tải nội địa và cước phí của các chuyến hàng xuất khẩu, do chính phủ cung cấp hoặc uỷ quyền, với điều kiện thuận lợi hơn so với các chuyến hàng nội địa;
F2 Trợ cấp cho sản phẩm nông nghiệp tuỳ thuộc vào hình thành của sản phẩm xuất khẩu
Mặc dù SCM và AOA không phân chia các hình thức trợ cấp xuất khẩu nhưng dựa trên các trường hợp trợ cấp nêu trên thì trợ cấp xuất khẩu có thể gồm các hình thức, tương ứng với các loại hành vi trợ cấp nói chung sau đây:
Trang 2620
Một là, Chính phủ nước xuất khẩu chuyển trực tiếp các khoản vốn cho
doanh nghiệp, ngành sản xuất hàng hóa xuất khẩu theo các hình thức cấp vốn, chuyển giao cổ phần, cho vay với lãi suất ưu đãi hoặc bảo lãnh để được vay với lãi suất thấp hơn khi không có thông báo bảo lãnh này Ví dụ điển hình cho hình thức trợ cấp xuất khẩu này là các trường hợp A1, K1, L1, M1 (đối với sản phẩm phi nông nghiệp) và các trường hợp A2, C2, D2, F2 ( đối với sản phẩm nông nghiệp)
Hai là, Chính phủ nước xuất khẩu bỏ qua hoặc không thu các khoản phải
nộp cho Chính phủ của các doanh nghiệp, ngành sản xuất hàng hóa xuất khẩu Các ví dụ cho hình thức trợ cấp xuất khẩu nay là các trường hợp E1, F1, G1, H1, I1 ( đối với sản phẩm phi nông nghiệp)
Ba là, Chính phủ nước xuất khẩu mua hàng với giá cao hơn giá thị
trường, hoặc cung cấp hàng hóa hay dịch vụ không phải là cơ sở hạ tầng chung với giá thấp hơn giá thị trường cho doanh nghiệp, ngành sản xuất hàng hóa xuất khẩu Ví dụ như các trường hợp C1, D1 (đối với sản phẩm phi nông nghiệp) và các trường hợp B2, E2 ( đối với sản phẩm nông nghiệp)
Bốn là, Chính phủ nước xuất khẩu góp tiền vào một cơ chế tài trợ hoặc
ra lệnh cho một tổ chức tư nhân thực thi một hay nhiều chức năng nêu ở ba hình thức nêu trên
Phân loại trợ cấp hàng hóa nhập khẩu theo một số tiêu chí khác
Ngoài cách phân loại theo tiêu chí cơ bản trên, trợ cấp hàng hóa nhập khẩu còn có thể được phân loại dựa vào một số tiêu chí khác như sau:
(i) Phân loại trợ cấp hàng hóa nhập khẩu theo đối tượng được trợ cấp
Theo cách phân loại này, đối tượng được trợ cấp trong trợ cấp hàng hóa nhập khẩu chính là các sản phẩm nhập khẩu Trong thương mại quốc tế, có nhiều loại hàng hóa khác nhau nhưng có thể nhóm thành hai loại hàng hóa
Trang 2721
này đều thường được trợ cấp trong quá trình tham gia thị trường quốc tế Để
xử lý các vấn đề trợ cấp đối với hai loại hàng hóa phổ biến này, trong khuôn khổ của WTO có hai hiệp định là SCM và AOA SCM quy định điều chỉnh về vấn đề trợ cấp cho cả hai loại hàng hóa trong đó phần lớn các quy định điều chỉnh vấn đề trợ cấp đối với hàng hóa nông nghiệp, một loại hàng hóa có tính chất đặc thù trong thương mại quốc tế
(ii) Phân loại trợ cấp hàng hóa nhập khẩu theo mức độ vi phạm
Để xác định giới hạn mức độ trợ cấp cũng như tính pháp lý của các hành
vi trợ cấp trong thương mại quốc tế, Hiệp định SCM chia trợ cấp thành 3 dạng dựa trên mức độ ảnh hưởng đến thương mại của chúng: Trợ cấp đèn đỏ, trợ cấp đèn vàng và trợ cấp đèn xanh
(a) Trợ cấp bị cấm (trợ cấp đèn đỏ) bao gồm trợ cấp xuất khẩu và trợ
cấp khuyến khích sử dụng hàng nội địa thay thế hàng nhập khẩu Hai dạng trợ cấp này bị cấm sử dụng vì tác động tiêu cực tới thương mại và ảnh hưởng bất lợi đến lợi ích của các nước thành viên WTO khác
(b) Trợ cấp không bị cấm nhưng có thể bị khiếu kiện (trợ cấp đèn vàng)
là trợ cấp có khả năng bị khiếu kiện ra cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO hoặc có thể bị đánh thuế chống trợ cấp nếu trợ cấp đó gây thiệt hại đối với nước thành viên WTO khác
(c) Trợ cấp không bị khiếu kiện (trợ cấp đèn xanh) là trợ cấp không bị
khiếu kiện ra cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO hay bị đánh thuế chống trợ cấp Bao gồm các trợ cấp chung theo cách hiểu của Điều 2 và các trợ cấp thỏa mãn một số điều kiện và tiêu chí nhất định đối với: chương trình hỗ trợ của nhà nước cho hoạt động nghiên cứu công nghiệp và phát triển tiền cạnh tranh; hỗ trợ của nhà nước cho phát triển vùng; hỗ trợ của nhà nước nhằm giúp các doanh nghiệp đáp ứng những yêu cầu mới về môi trường
Trang 2822
Cũng tương tự như vậy, đối với các hàng hóa là sản phẩm nông nghiệp thì Hiệp định Nông nghiệp cũng phân thành ba loại trợ cấp Bao gồm: Trợ cấp hộp xanh lá cây (green box), trợ cấp hộp xanh lơ (blue box) và trợ cấp hộp hổ phách (amber box) Theo đó, trợ cấp hộp xanh lá cây là trợ cấp được duy trì
mà không phải cắt giảm; trợ cấp hộp xanh lơ và trợ cấp được duy trì nhưng phải kiểm soát một cách chặt chẽ; trợ cấp hộp hổ phách là loại trợ cấp phải cắt giảm trên cơ sở cam kết của các nước thành viên
(iii) Phân loại trợ cấp theo phạm vi trợ cấp
Trên cơ sở phạm vi trợ cấp, trợ cấp có thể phân thành trợ cấp xuất khẩu
và trợ cấp trong nước Cả hai trường hợp này đều dẫn đến một hệ quả bóp méo bản chất thương mại, tạo ra môi trường cạnh tranh không bình đẳng Tuy nhiên, trong thực tiễn của hoạt động thương mại quốc tế thì các quy định về trợ cấp chủ yếu áp dụng đối với hàng hóa được lưu thông trên thị trường quốc tế
1.3 Khái niệm và các biện pháp chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu 1.3.1 Khái niệm chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu
Trợ cấp hàng hóa nhập khẩu, dù dưới bất kỳ hình thức nào cũng luôn có tác động tiêu cực tới thị trường của nước nhập khẩu vì nó phá vỡ môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa sản phẩm nhập khẩu và sản phẩm nội địa Kết quả
là, loại trợ cấp này sẽ gây thiệt hại cho doanh nghiệp, ngành sản xuất sản phẩm tương tự trong nước với sản phẩm tương tự được trợ cấp xuất khẩu
Do vậy, WTO cho phép nước nhập khẩu có thể áp dụng các biện pháp để chống lại việc trợ cấp hàng hóa nhập khẩu nhằm hạn chế và khắc phục thiệt hại do trợ cấp hàng hóa nhập khẩu gây ra Các biện pháp mà nước nhập khẩu dùng để chống lại hành vi trợ cấp đối với hàng hóa nhập khẩu được gọi là các biện pháp chống trợ cấp (còn được gọi là các biện pháp đối kháng- countervailing measures)
Trang 29Chống trợ cấp là một biện pháp bảo hộ hợp pháp đối với hàng hóa sản xuất trong nước trước các hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh của hàng hóa nhập khẩu có sự trợ cấp của chính phủ nước ngoài Nó nhằm vào các nhà sản xuất xuất khẩu nước ngoài được trợ cấp (thông qua thủ tục điều tra chống trợ cấp do nước nhập khẩu tiến hành) chứ không nhằm vào Chính phủ nước ngoài đã thực hiện việc trợ cấp (WTO quy định các cơ chế xử lý khác mang tính đa phương cho trường hợp này) Mục đích của biện pháp chống trợ cấp được áp dụng để loại bỏ tác động tiêu cực gây ra cho ngành sản xuất hàng hóa trong nước xuất phát từ các chính sách trợ cấp của chính phủ nước xuất khẩu
1.3.2 Các biện pháp chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu
1.3.2.1 Biện pháp chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu trong mối tương quan với các biện pháp phòng vệ thương mại khác
Tại quốc gia nào cũng vậy, nhà nước mà đại diện là Chính phủ quốc gia
đó luôn có trách nhiệm phát triển nền kinh tế đất nước, đồng nghĩa với việc phải thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển Để làm được điều này trong xu thế tự do hóa thương mại của thế giới, Chính phủ của mỗi quốc gia cần có những công cụ khác ngoài công cụ thuế quan đang ngày càng suy yếu (do cam kết cắt giảm thuế quan với WTO) để bảo hộ cho ngành sản xuất trong nước có thể phát triển an toàn và bền vững Pháp luật WTO đã ghi nhận một
số công cụ bảo hộ sản xuất nội địa mà các Chính phủ được áp dụng nhưng với
Trang 30số lượng Các biện pháp này khác nhau về bản chất, điều kiện áp dụng, phạm
vi áp dụng, thời gian và hệ quả của việc áp dụng Bảng tóm tắt và so sánh dưới đây sẽ làm rõ hơn mối tương quan giữa biện pháp chống trợ cấp với hai biện pháp còn lại:
Biện pháp chống trợ cấp
Biện pháp chống bán phá giá
Biện pháp tự vệ
Mục đích
áp dụng
Chống lại tác động tiêu cực của hành
vi trợ cấp (Chính phủ nước xuất khẩu hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp sản xuất hàng hóa xuất khẩu sang nước nhập khẩu)
Chống lại tác động tiêu cực của hành vi bán phá giá (bán hàng hóa nhập khẩu với giá thấp hơn giá bán hàng hóa đó tại nước xuất khẩu nhằm thôn tính thị trường và tiến tới loại bỏ dần các đối
Chống lại tác động tiêu cực của sự gia tăng bất thường của hàng hóa nhập khẩu trong trường hợp khẩn cấp)
Trang 3125
thủ cạnh tranh kinh doanh các sản phẩm tương tự tại nước nhập khẩu)
Điều kiện
áp dụng
Cơ quan điều tra chống trợ cấp của nước nhập khẩu chứng minh được:
Có hành vi trợ cấp;
Hành vi trợ cấp
đó gây thiệt hại đáng kể hoặc đe dọa gây thiệt hại đáng kể hoặc ngăn cản sự hình thành ngành sản xuất trong nước
Cơ quan điều tra chống bán phá giá của nước nhập khẩu chứng minh được:
Có hành vi bán phá giá;
Hành vi bán phá giá đó gây thiệt hại đáng kể hoặc đe dọa gây thiệt hại đáng kể hoặc ngăn cản sự hình thành ngành sản xuất trong nước
Cơ quan điều tra của nước nhập khẩu chứng minh được:
Số lượng hàng hóa nhập khẩu tăng đột biến mà nước nhập khẩu không lường trước được khi đưa
ra các cam kết trong khuôn khổ WTO;
Sự gia tăng đột biến số lượng hàng hóa nhập khẩu nói trên gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc
đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất sản phẩm tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp với hàng hóa nhập khẩu đó
Trang 32 Trong trường hợp
áp dụng đúng sẽ không phải bồi
không bị trả đũa bởi nước xuất khẩu
Ít ảnh hưởng đến quan hệ ngoại giao, chính trị của nước nhập khẩu do không liên quan đến Chính phủ nước ngoài mà chỉ
doanh nghiệp nước ngoài;
Trong trường hợp
áp dụng đúng sẽ không phải bồi thường hoặc không
bị trả đũa bởi nước xuất khẩu
Ảnh hưởng rất lớn đến quan hệ ngoại giao, chính trị của nước nhập khẩu,
do đối tượng bị điều tra là toàn bộ các nước xuất khẩu chứ không phải chỉ một nước xuất khẩu duy nhất
Do bản chất đi ngược lại nguyên tắc công bằng thương mại (biện pháp màu được áp dụng với cả những hành vi thương mại bình thường) nên mọi trường hợp áp dụng chắc chắn phải “bồi
mại” (đưa ra các nhượng bộ thương mại ở lĩnh vực khác, ví dụ như
Trang 3327
giảm thuế nhập khẩu với nhóm hàng hóa nhập khẩu khác)
Mức thuế
áp dụng
Không được vượt quá khoản trợ cấp cho mỗi đơn vị sản phẩm
Không được vượt quá biên độ phá giá
Chỉ được áp dụng trong phạm vi để khắc phục những thiệt hại vật chất nghiêm trọng
Hiệu lực
của thuế
Đánh thuế chống trợ cấp trong vòng
5 năm phải rà soát lại
Đánh thuế chống bán phá giá trong vòng 5 năm phải rà soát lại
Thực hiện trong vòng 4 năm phải loại bỏ dần
Như vậy, trong mối tương quan giữa ba biện pháp nói trên, biện pháp chống trợ cấp được đánh giá là có một số đặc trưng sau:
Một là, biện pháp chống trợ cấp tương đối nhạy cảm về yếu tố quan hệ
ngoại giao, chính trị (nhạy cảm hơn so với biện pháp chống bán phá giá nhưng không bằng biện pháp tự vệ);
Hai là, việc điều tra chứng minh hành vi trợ cấp khó khăn hơn nhiều so
với việc điều tra chứng minh hành vi bán phá giá;
Ba là, tuy có rủi ro bị kiện và bị trả đũa khi áp dụng sai biện pháp chống
trợ cấp (giống như với biện pháp chống bán phá giá) nhưng không đương nhiên phải chịu trách nhiệm bồi thường như biện pháp tự vệ Biện pháp tự vệ thương mại được áp dụng ngay kể cả đối với hành vi thương mại hoàn toàn bình thường, không có tình trạng bán phá giá hay được trợ cấp của Chính phủ…; biện pháp tự vệ thương mại được áp dụng tương đối linh hoạt…;
Trang 3428
không có quy định ràng buộc một cách chi tiết Do vậy, tác động ngăn chặn tạm thời luồng nhập khẩu của biện pháp tự vệ thương mại thường cao hơn biện pháp chống bán phá giá và biện pháp chống trợ cấp Vì các lý do trên, biện pháp tự vệ thương mại thường được xem như là một công cụ “phải trả tiền” Tức là nước áp dụng biện pháp tự vệ thương mại thường phải tiến hành
“bồi thường thương mại” cho các nước bị ảnh hưởng bằng cách đưa ra nhượng bộ thương mại ở những lĩnh vực khác nhằm mục đích cân bằng cam kết thương mại với các nước bị ảnh hưởng
Trong thực tiễn, biện pháp chống trợ cấp được các quốc gia nhập khẩu
áp dụng ít hơn nhiều so với biện pháp chống bán phá giá và nhiều hơn so với biện pháp tự vệ
1.3.2.2 Các biện pháp chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu
Ở Việt Nam, khi áp dụng biện pháp chống trợ cấp người ta hay gọi là “
vụ kiện” chống trợ cấp Đây thực chất là một quy trình Kiện - Điều tra – Kết luận - Áp dụng biện pháp chống trợ cấp ( còn gọi là biện pháp đối kháng) mà nước nhập khẩu tiến hành đối với một loại hàng hóa nhập khẩu từ một nước nhất định khi có những nghi ngờ rằng hàng hóa được trợ cấp (trừ trợ cấp đèn xanh) và gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất sản phẩm tương tự của nước nhập khẩu Trên thực tế, đây không phải thủ tục tố tụng tại Tòa án mà là một thủ tục hành chính và do cơ quan hành chính nước nhập khẩu thực hiện Thủ tục này liên quan đến một bên là ngành sản xuất nội địa và một bên là các nhà sản xuất, xuất khẩu nước ngoài Khác với thủ tục kiện chống bán phá giá, kiện chống trợ cấp liên quan đến cả Chính phủ nước xuất khẩu (vì liên quan đến khoản trợ cấp) Thủ tục, trình tự kiện chống trợ cấp gần tương tự với thủ tục, trình tự kiện chống bán phá giá Thủ tục này được quy định gần giống thủ tục tố tụng tại Tòa án (nên thường được gọi là “vụ kiện”) Khi cơ quan hành chính ra quyết định cuối cùng về việc áp dụng hay không áp dụng biện pháp
Trang 3529
chống trợ cấp, các bên không đồng ý với quyết định này có thể kiện cơ quan này ra Tòa án có thẩm quyền của nước nhập khẩu hoặc khởi kiện tại cơ quan
có thẩm quyền của WTO
Theo quy định của WTO, để chống lại viêc trợ cấp hàng hóa nhập khẩu, các nước nhập khẩu có thể sử dụng ba nhóm biện pháp: các biện pháp tạm thời, đánh thuế đối kháng chống trợ cấp và biện pháp cam kết
Các biện pháp tạm thời
Theo Khoản 2 Điều 17 SCM, các biện pháp tạm thời được thể hiện dưới hình thức thuế đối kháng tạm thời thông qua việc bảo đảm bằng việc đặt cọc tiền mặt tương đương với giá trị trợ cấp được tạm tính Theo đó, chủ thể kinh doanh có hàng bị nghi là được trợ cấp phải đóng một khoản tiền mặt tương đương giá trị tạm tính đối với lô hàng hóa bị nghi là được trợ cấp
Ngoài ra, Điều 17 SCM còn quy định một số nguyên tắc áp dụng các biện pháp tạm thời như sau:
(i) Các biện pháp tạm thời chỉ được áp dụng khi: Việc điều tra được bắt đầu tiến hành phù hợp với các quy định của Điều 11, đã có thông báo công khai về việc điều tra này và các Thành viên và các bên quan tâm đã được tạo
cơ hội thích đáng dể cung cấp thông tin và nhận xét; đã xác định sơ bộ rằng
có tồn tại trợ cấp và việc nhập khẩu được trợ cấp đã gây tổn hại cho ngành sản xuất trong nước; và cơ quan có thẩm quyền liên quan cho rằng các biện pháp đó là cần thiết để ngăn chặn thiệt hại xảy ra trong quá trình điều tra (ii) Các biện pháp tạm thời không được áp dụng trước quá 60 ngày, kể từ ngày bắt đầu điều tra và chỉ được giới hạn trong thời gian ngắn nhất có thể, không vượt quá bốn tháng;
(iii) Việc áp dụng các biện pháp tạm thời phải được tuân thủ các quy định về áp dụng thuế đối kháng (thuế chống trợ cấp)
Trang 3630
Biện pháp cam kết
Theo Điều 18 SCM, Cam kết là việc Chính phủ của nước xuất khẩu chấp nhận xóa bỏ hay hạn chế trợ cấp hoặc có những biện pháp khác có cùng kết quả; hoặc doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu chấp nhận xóa bỏ hay hạn chế trợ cấp hoặc có những biện pháp khác có cùng kết quả; hoặc doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu hàng hóa đồng ý tăng giá sản phẩm nhập khẩu sao cho Cơ quan điều tra của nước nhập khẩu thấy rằng biện pháp trợ cấp không còn gây
ra thiệt hại Theo đó, quá trình điều tra có thể bị đình chỉ hay chấm dứt mà không áp dụng các biện pháp tạm thời hay thuế đối kháng khi cơ quan điều tra nhận được cam kết này
Mặc dù cam kết được đưa ra từ phía Chính phủ hoặc nhà sản xuất của nước xuất khẩu nhưng cam kết đó chỉ được thực hiện khi Chính phủ nước nhập khẩu chấp thuận Như vậy, việc áp dụng cam kết là theo ý chí của các bên nên thực tiễn cho thấy đây là một biện pháp rất đáng được chú trọng áp dụng vì nó dung hòa được lợi ích cho các bên tham gia vào vụ kiện chống trợ cấp
Đánh thuế đối kháng chống trợ cấp
Từ định nghĩa về trợ cấp, WTO đưa ra định nghĩa về thuế chống trợ cấp
(hay còn gọi là thuế đối kháng) “là một khoản thuế đặc biệt nhằm mục đích bồi hoàn cho khoản trợ cấp đã được cung cấp một cách trực tiếp hoặc gián tiếp trong quá trình chế tác, sản xuất hoặc xuất khẩu của bất kỳ loại hàng hoá nào” Đây là định nghĩa chặt chẽ về mặt luật pháp và thường được các nước
chấp nhận
Thuế chống trợ cấp là khoản thuế bổ sung (ngoài thuế nhập khẩu thông thường) đánh vào sản phẩm nước ngoài được trợ cấp vào nước nhập khẩu Đây là biện pháp chống trợ cấp (còn gọi là biện pháp đối kháng) nhằm vào các nhà sản xuất xuất khẩu nước ngoài được trợ cấp (thông qua thủ tục điều
Trang 3731
tra chống trợ cấp do nước nhập khẩu tiến hành) chứ không nhằm vào chính phủ nước ngoài đã thực hiện việc trợ cấp Nếu nước nhập khẩu chứng minh là lượng hàng hoá vào thị trường của họ tăng nhanh do được trợ cấp từ nước xuất khẩu, thì họ sẽ áp đặt một mức thuế đủ để làm mất sức cạnh tranh của hàng nhập khẩu, giúp loại bỏ đối thủ cạnh tranh mạnh đối với các nhà sản xuất kinh doanh trong nước Thuế chống trợ cấp thường tập trung trong một
số ngành nhất định: ngành có công nghệ thấp; ngành sản xuất những sản phẩm có lợi thế cạnh tranh (hàng nông sản, hàng dệt may, sản phẩm của ngành công nghiệp dựa trên lợi thế tự nhiên ); sản phẩm sắt thép Các sản phẩm phức tạp, có công nghệ cao, mặc dù được trợ cấp khá nhiều, nhưng hầu như không bị đánh thuế chống trợ cấp
Các khoản từ 3 đến 6 của Điều VI Hiệp định GATT 1947, quy định một
số nguyên tắc áp dụng thuế đối kháng như sau:
(i) Mức thuế đối kháng bị đánh đối với hàng hóa nhập khẩu không được cao hơn mức tương ứng với khoản trợ cấp;
(ii) Thuế đối kháng không được áp dụng đối với sản phẩm hàng hóa đã được miễn thuế;
(iii) Không một sản phẩm nào cùng một lúc phải chịu thuế bán phá giá
và thuế đối kháng cho cùng một hoàn cảnh bán phá giá hay trợ cấp xuất khẩu Việc đánh thuế chống trợ cấp vừa có tác động tích cực, vừa có tác động tiêu cực Tác động tích cực thể hiện ở việc hạn chế hàng nhập khẩu, bảo vệ lợi ích cho các nhà sản xuất trong nước, đồng thời có tác động răn đe đối với chính phủ khi trợ cấp và với doanh nghiệp nước ngoài khi định giá vì một khi biết chắc chắn hàng hoá được trợ cấp sẽ bị đánh thuế chống trợ cấp thì nước xuất khẩu có thể sẽ không tiến hành trợ cấp nữa và doanh nghiệp được trợ cấp
sẽ tự động nâng giá bán hàng hoá lên ngang bằng với mức giá chưa có trợ cấp
Trang 3832
Tác động tiêu cực của việc đánh thuế chống trợ cấp được thể hiện ở việc người tiêu dùng trong nước bị thiệt vì không được hưởng khoản trợ cấp của chính phủ nước ngoài khi được mua sản phẩm với giá rẻ; việc đánh thuế chống trợ cấp tiêu tốn khoản kinh phí, ngân sách không nhỏ của Chính phủ trong khi nguồn thu từ việc đánh thuế thường không lớn và chỉ có vai trò thứ yếu Bên cạnh đó, thuế chống trợ cấp là loại thuế đánh vào biện pháp trợ cấp được một chính phủ nước ngoài thực hiện rất dễ gây phản ứng tiêu cực từ nước áp dụng trợ cấp
1.4 Cơ sở xác định sự cần thiết của việc áp dụng pháp luật chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu tại Việt Nam
1.4.1 Dưới góc độ kinh tế
Chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu chính là một trong những công cụ phòng vệ hữu hiệu cho hàng hóa nội địa trong môi trường thương mại tự do Quá trình toàn cầu hoá kinh tế với sự ra đời của nhiều tổ chức kinh tế quốc tế
và hình thành nên nhiều vùng thị trường khu vực và quốc tế rộng lớn thông qua việc xoá bỏ các rào cản thuế quan và phi thuế quan Tiến trình cắt giảm thuế quan và xóa bỏ các hàng rào phi thuế quan trong các cam kết thương mại quốc tế, các rào cản từ chi phí vận chuyển ngày càng bị xóa mờ; sự phát triển của thông tin liên lạc đã làm cho sự cạnh tranh giữa sản phẩm nội địa và sản phẩm nhập khẩu, giữa các sản phẩm nhập khẩu với nhau ngày càng gay gắt Cạnh tranh quốc tế được xem như động lực quan trọng cho sự phát triển của các dòng thương mại Tuy nhiên, cạnh tranh sẽ chỉ trở thành động lực phát triển khi các nguyên lý vận hành của thương mại tự do được Nhà nước và doanh nghiệp của các quốc gia tôn trọng Nhà nước không chỉ giảm thiểu đến mức thấp nhất sự can thiệp vào các dòng thương mại mà còn không được dùng các biện pháp kinh tế như tài trợ bất chính để làm méo mó tương quan
cạnh tranh trên thị trường quốc tế
Trang 3933
Khi môi trường cạnh tranh được hình thành và sự can thiệp của nhà nước giảm đi, tất yếu sẽ xuất hiện khuynh hướng lạm dụng tự do để cạnh tranh không lành mạnh hoặc hạn chế cạnh tranh Sự thúc giục của lợi nhuận, của nhu cầu bành trướng thị phần và bằng khả năng sáng tạo, các doanh nghiệp luôn có xu hướng thực hiện những hành vi cạnh tranh bất chính nhằm loại bỏ đối thủ hoặc chiếm đoạt thị phần
Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới đã sử dụng các biện pháp chống trợ cấp như là một công cụ hữu hiệu để bảo hộ cho ngành sản xuất nội địa của nước mình Các nước phát triển, với thị trường hàng hoá lớn là những nước
áp dụng biện pháp thuế chống trợ cấp nhiều nhất, để bảo vệ cho ngành công nghiệp sản xuất nội địa trước sức cạnh tranh ngày càng lớn và gay gắt của hàng hoá nhập khẩu trong bối cảnh tự do hoá thương mại Mỹ là một trong quốc gia điển hình trong việc áp dụng luật thuế này để bảo vệ các Doanh nghiệp trong nước và người lao động.Dù chưa từng áp dụng tại Việt Nam, song từ kinh nghiệm của các nước cho thấy việc áp dụng pháp luật chống trợ cấp có tác dụng duy trì trật tự cạnh tranh trên thị trường tự do, bảo vệ ngành sản xuất trong nước trước khả năng gây thiệt hại của hàng hóa nhập khẩu Thực tiễn cũng cho thấy, xu hướng sử dụng thuế chống trợ cấp đang lan toả sang các nước đang phát triển Việc Việt Nam ngày càng chủ động tích cực tham gia sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, đặc biệt sự kiện trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng tạo ra nhiều thách thức cho nền kinh tế đang phát triển ở trình độ thấp như Việt Nam Từ đây, các hàng rào thuế quan và phi thuế quan truyền thống dần được cắt giảm đáng kể hoặc bị dỡ bỏ khiến cho hàng hoá các nước tiếp cận thị trường Việt Nam dễ dàng hơn và do đó sẽ gây sức ép cạnh tranh gay gắt với hàng hóa cùng loại hoặc tương tự trong nước Thực tế đang cho thấy, khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam còn
Trang 4034
kém, chi phí kinh doanh cao, chất lượng và hiệu quả còn thấp Mặc dù chúng
ta đã có đội ngũ các doanh nghiệp đông đảo, song quy mô và mức đầu tư không lớn, hơn 90% là doanh nghiệp vừa và nhỏ Điều này cho thấy thị trường Việt Nam đang trong tình trạng phân tán nguồn vốn đầu tư, khả năng đầu tư vào phát triển khoa học kỹ thuật, đầu tư mở rộng thị trường ra nước ngoài… bị hạn chế Sức cạnh tranh yếu sẽ là bất lợi lớn trong các cuộc ganh đua trên thị trường chung và nếu không được khắc phục thì doanh nghiệp Việt Nam khó có thể tận dụng triệt để những cơ hội mà toàn cầu hóa đem lại cho phát triển kinh tế Sẽ là thiệt thòi cho các doanh nghiệp nếu như các biện pháp chống trợ cấp không được quan tâm và áp dụng một cách thích đáng để chống lại hành vi được coi là “bóp méo thương mại” của hàng hoá nước ngoài Để bảo vệ các ngành sản xuất trong nước, việc tìm hiểu và vận dụng các biện pháp tự vệ nói chung trong WTO và biện pháp thuế chống trợ cấp nói riêng là một điều hết sức cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh trợ cấp ở các nước ngày càng tăng, đa dạng và tinh vi như hiện nay gây ra sự cạnh tranh không lành mạnh và không công bằng cho hàng hoá trong nước Duy trì biện pháp chống trợ cấp ở Việt Nam một mặt sẽ giúp các doanh nghiệp trong nước yên tâm sản xuất kinh doanh khi bên cạnh họ có thêm một công cụ bảo vệ hữu hiệu, mặt khác cũng nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế
Thực tế, thuế chống trợ cấp cũng là công cụ bảo vệ trong thương mại được hình thành sớm nhất Thuế chống trợ cấp đã xuất hiện trên thế giới từ những năm 1890, trước cả thuế chống bán phá giá (năm 1904) và các biện pháp tự vệ Điều này cho thấy các biện pháp chống trợ cấp là một công cụ rất cần thiết trong thương mại quốc tế và cũng được các nước công nhận Các biện pháp chống trợ cấp đặc biệt cần thiết trong các bối cảnh sau:
- Nền kinh tế hội nhập càng sâu càng cần các biện pháp chống trợ cấp: Khi nền kinh tế hội nhập sâu cũng có nghĩa là sản xuất trong nước “nhạy