Tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai . Tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai . Tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai . Tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai . Tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai . Tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai . Tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai . Tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai . Tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai . Tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai . Tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai . Tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai . Tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai . Tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai . Tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai .
Trang 1ĐỖ THỊ NHÀN
TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ CỦA LAN KHAI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Hà Nội - Năm 2020
Trang 2ĐỖ THỊ NHÀN
TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ CỦA LAN KHAI
Chuyên ngành: LÍ LUẬN VĂN HỌC
Mã số: 9.22.01.20
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS TRẦN MẠNH TIẾN
Hà Nội - Năm 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kếtquả nêu trong luận án là trung thực, đảm bảo độ chính xác Các tài liệutham khảo, trích dẫn có xuất xứ rõ ràng Tôi xin hoàn toàn chịu tráchnhiệm về công trình nghiên cứu của mình
Hà Nội, tháng 09 năm
2020
Tác giả luận án
Đỗ Thị Nhàn
Trang 4Em xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giảng viên của Tổ Bộ môn Líluận văn học, Khoa Ngữ Văn, Phòng Sau đại học Trường Đại học Sưphạm Hà Nội đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứutại trường.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Hội đồng giáo dụctrường THPT Chuyên Trần Phú, Hải Phòng đã tạo điều kiện tốt để tôihọc tập, nghiên cứu nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn gia đình, người thân, bạn bè, nhữngngười đã động viên tôi trong quá trình tôi học tập và hoàn thành luận án
Hà Nội, tháng 09 năm 2020
Tác giả luận án
Đỗ Thị Nhàn
Trang 5MỤC LỤC
Tác giả Nguyễn Văn Dân trong bài viết Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại, một số xu hướng chủ yếu (http://vjol.info.vn) đã trích dẫn ý kiến của nhà TTLS Thái Vũ: “Khi tôi nói tôi viết TTLS sự thật là tôi không viết tiểu
thuyết mà tôi viết lịch sử, trước hết phải trung thực với mọi chi tiết lịch sử” [21] Như vậy, theo Thái Vũ thì trung thực với lịch sử là nguyên tắc sáng tác
và mục tiêu cần hướng tới của nhà văn 10
Để tái hiện chân thực diện mạo của thời kì lịch sử đã “một đi không trở lại”, người sáng tác vừa phải theo sát lịch sử vừa phải tìm tòi các hình thức biểu đạt mới Đồng thời, để tác phẩm trở thành một sinh thể nghệ thuật thì nhà văn phải hư cấu, tưởng tượng để không rơi vào sự sao chép, mô phỏng hiện thực một cách cứng nhắc Trong tác phẩm Ai lên phố Cát, Lan Khai đã phát biểu: “Cho nên sưu tầm nguyên sự thực, nhà làm sử gác bỏ những điều huyền hoặc đã đành Nhà tiểu thuyết, trái lại, có thể tự do biên chép hết cả để thêm hứng thú cho câu chuyện mình kể” [62; tr 12] Bởi thế, TTLS của Lan Khai luôn có sự kết hợp hài hòa giữa hai yếu tố lịch sử và hư cấu nghệ thuật .144
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TTLS: Tiểu thuyết lịch sử
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Lan Khai là nhà văn nổi tiếng trong trào lưu cách tân văn họcgiai đoạn nửa đầu thế kỉ XX Sự nghiệp sáng tác của Lan Khai đa dạng
về thể loại Đương thời trong cuốn Nhà văn hiện đại (1942) nhà nghiên
cứu Vũ Ngọc Phan đã nhận xét: Lan Khai là “lão tướng trong làng tiểuthuyết đang gắng tìm đường mới” Nhiều tác phẩm của Lan Khai đã thuhút sự quan tâm của đông đảo giới nghiên cứu trong nước Thời gian gần
đây thể loại tiểu thuyết và truyện ngắn đường rừng cùng tên tuổi của Lan Khai đã được giới thiệu trên Tạp chí Quốc tế (ISSN 24103918) (tháng 7 năm 2019, tập 5, trang 2) của Học viện Kinh doanh hành chính, Luật và Khoa học xã hội châu Âu Tuy nhiên mảng TTLS của ông vẫn
chưa được nghiên cứu đầy đủ và hệ thống, mặc dù tính tới thời điểm
hiện tại, ông là nhà văn có số lượng tiểu thuyết lịch sử lớn nhất trong các
nhà văn hiện đại Việt Nam (26 tác phẩm) và là cây bút sớm có tinh thầntiên phong đổi mới, có ảnh hưởng lớn tới sáng tác ở các giai đoạn sau Trong giai đoạn 1930-1945 1945 trào lưu cách tân văn học diễn ra
sôi nổi nhưng “trong cái mới vẫn còn rớt lại nhiều cái cũ” (Một thời đại trong thi ca - Hoài Thanh) với những quan niệm nghệ thuật mới, TTLS
của Lan Khai đã làm sôi động thêm không khí phê bình văn học, tạo ranhững cuộc tranh luận xung quanh vấn đề lịch sử và hư cấu nghệ thuật,vấn đề sử dụng ngôn ngữ trong tiểu thuyết v.v… Với những đổi mới táobạo, TTLS của Lan Khai đã có tác động mạnh mẽ đến không khí phêbình văn học đương thời và kích thích sự sáng tạo của các nhà văn về đềtài lịch sử Tuy nhiên, do cái chết đầy bí ẩn của ông suốt thời gian dàichưa được công bố nên từ sau 1945 trở đi còn nhiều di cảo của Lan Khai
và hàng chục TTLS của ông chưa được tái bản, nghiên cứu và giới thiệurộng rãi đến bạn đọc Cho đến nay vẫn chưa có công trình nào có tínhquy mô, toàn diện và hệ thống về thể tài TTLS của Lan Khai Vì vậy
trong công trình nghiên cứu này, chúng tôi sẽ làm sáng tỏ tính tiên phong trong hành trình cách tân thể loại của một cây bút tiểu thuyết giàu
tài năng và tâm huyết nửa đầu thế kỉ XX
Năm 2006, Hội Nhà văn Việt Nam đã tổ chức Lễ Kỷ niệm 100 năm
Trang 8sinh Lan Khai và Hội thảo Khoa học: Lan Khai với văn học Việt Nam hiện đại, Lan Khai được hoàn nguyên, cho thấy di sản văn học của Lan
Khai là rất lớn và các TTLS có vị trí quan trọng trong sự nghiệp sáng táccủa ông và nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại Điều đó đã đặt ra yêu cầucấp thiết cần có một công trình nghiên cứu kịp thời, quy mô và hệ thống,toàn diện các tác phẩm của nhà văn ở thể tài TTLS để thấy được nhữngđóng góp của ông trong giai đoạn 1930 - 1945 và tiến trình phát triển củalịch sử văn học dân tộc, đồng thời làm sáng tỏ thêm những vấn đề lí luận
về thể loại
1.2 Những năm gần đây, TTLS của các nhà văn đất Việt đã vươnmình lớn dậy với sự gia tăng không ngừng về số lượng tác phẩm và quy
mô phản ánh, hình thành nhiều khuynh hướng đa dạng, phong phú nên
đã xuất hiện nhiều quan niệm nghệ thuật khác nhau trong sáng tác vàtiếp nhận TTLS đã và đang trở thành tâm điểm của thời sự văn học.Trước trào lưu hội nhập quốc tế, ngày càng xuất hiện nhiều công trìnhứng dụng lý thuyết hiện đại phương Tây vào nghiên cứu văn học trong
đó có TTLS Tuy nhiên hệ thống lý thuyết về thể tài này còn khá khiêmtốn và việc giới thiệu ở trong nước còn phân tán, quan niệm về thể loạichưa thống nhất, sáng tác ngày càng diễn biến phức tạp lại tiếp tục nảysinh nhiều cuộc tranh luận sôi nổi xung quanh vấn đề lịch sử và hư cấunghệ thuật
Xuất phát từ thực trạng đó đòi hỏi chúng ta cần phải tìm hiểu nhữngsáng tác đã được trải nghiệm và cách tiếp cận thích hợp mới đem lại cáinhìn sáng rõ hơn về sự hình thành phát triển của một thể tài văn họcmang tính đặc thù trong nền văn học Việt Nam hiện đại Do vậy, chúngtôi chủ trương đi sâu nghiên cứu đề tài này nhằm làm sáng tỏ nhữngđiểm mới mẻ, độc đáo trong TTLS của Lan Khai trên phương diện nộidung và hình thức nghệ thuật Qua những thành quả nghiên cứu chúngtôi sẽ làm rõ thêm một số vấn đề lí thuyết về quan niệm sáng tác và thểloại nhằm góp thêm hướng tiếp cận toàn diện và hệ thống TTLS hiệnnay
1.3 Công trình nghiên cứu của chúng tôi còn có ý nghĩa thiết thựctrong việc giảng dạy tích hợp môn Ngữ văn và Lịch sử trong Nhàtrường Kết quả nghiên cứu của công trình sẽ cung cấp thêm các tri thức
Trang 9lý luận và thực tiễn sáng tác đáp ứng nhu cầu mở rộng nhận thức của họcsinh trong nhà trường phổ thông Nghiên cứu TTLS của Lan Khai gópphần làm cho bức tranh văn học sử Việt Nam toàn diện hơn, giúp họcsinh nhận thức lịch sử sâu sắc hơn, khơi dậy những cảm xúc thẩm mĩcho các em về truyền thống vẻ vang của dân tộc.
Xuất phát từ nhu cầu cấp thiết trong nghiên cứu và học tập hiện naycũng như góp phần tổng kết các thành tựu tiêu biểu của văn học Việt
Nam thế kỷ XX, chúng tôi chọn đề tài Tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai
nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lí luận và thực tiễn sáng tác cũng nhưnhững đóng góp của Lan Khai trong hành trình đổi mới thể loại và hiệnđại hóa nền văn học nước nhà giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX
2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi tập trung khảo sát 20 TTLS tiêubiểu của Lan Khai đã xuất bản và tái bản từ trước năm 1945 đến nay,
bao gồm: Gái thời loạn, Chiếc ngai vàng, Cái hột mận, Ai lên phố Cát, Chế Bồng Nga, Bóng cờ trắng trong sương mù, Cánh buồm thoát tục, Đỉnh non Thần, Người thù của mặt trời, Gửi cái xuân tàn, Treo bức chiến bào, Chàng áo xanh, Tình ngoài muôn dặm, Trăng nước Hồ Tây, Trong cơn binh lửa, Thành bại với anh hùng, Rỡn sóng Bạch Đằng, Ái tình và sự nghiệp, Chàng đi theo nước, Chàng kỵ sỹ ở cả hai bình diện
nội dung và hình thức Trên cơ sở đó, chúng tôi đưa ra những kiến giải
về sự vận động của TTLS của Lan Khai trong quá trình sáng tác của ông
và trong sự vận động của nền văn học hiện đại Việt Nam
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Công trình của chúng tôi tập trung đi sâu khảo sát 20 TTLS của
Lan Khai (đã nêu trong Đối tượng nghiên cứu), khi cần thiết chúng tôi
có sự đối sánh với một số TTLS tiêu biểu khác Đồng thời chúng tôicũng quan tâm đến một số truyện ngắn, kí về thể tài lịch sử của ông
như: Sóng nước lô Giang, Mũi tên dẹp loạn, 8023; kết hợp liên hệ với
một số TTLS Việt Nam tiêu biểu và TTLS nước ngoài để nhìn nhận vấn
đề nghiên cứu toàn diện hơn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 103.1 Mục đích nghiên cứu:
Công trình nghiên cứu của chúng tôi nhằm làm sáng tỏ ý thức nghệthuật và thành quả đổi mới trong TTLS, những đóng góp quan trọng củaLan Khai đối với sự phát triển của TTLS Việt Nam hiện đại trong tràolưu cách tân văn học 1930 - 1945 Dựa trên lí thuyết về thể loại và thựctiễn sáng tác, chúng tôi chỉ ra quan niệm nghệ thuật, vốn văn hóa, cá tínhsáng tạo của nhà văn, các nguồn ảnh hưởng, phương thức cách tân, cáchình thức kết cấu tác phẩm, các nhân tố tạo nên thành tựu nghệ thuậtmới của Lan Khai, từ đó rút ra nhận định về lí luận và sáng tác
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Công trình nghiên cứu của chúng tôi nhằm làm sáng tỏ những bìnhdiện cơ bản sau:
Khái quát một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về TTLS trên thếgiới và ở Việt Nam để liên hệ tới những sáng tác của Lan Khai Tổnghợp lại những kết quả nghiên cứu tiêu biểu về nhà văn Lan Khai vàTTLS của ông Trên cơ sở đó, chúng tôi khảo sát quan niệm nghệ thuật
và quá trình sáng tác TTLS của Lan Khai trong nền văn học Việt Namthời kì đầu thế kỉ XX
Từ cơ sở lí luận, chúng tôi đi sâu phân tích, lý giải một số đặc trưng TTLS của Lan Khai ở các bình diện cảm hứng sáng tác, các sự kiện lịch
sử và thế giới nhân vật để làm nổi rõ quan niệm nghệ thuật của nhà văn
và những nhân tố chi phối những sáng tác của ông
Khảo sát và chỉ ra một số phương thức và phương tiện biểu hiệnnghệ thuật trong TTLS của Lan Khai ở các bình diện như: nghệ thuật hưcấu, tổ chức kết cấu, việc lựa chọn cốt truyện và sự kiện; kiến tạo chândung nhân vật, vấn đề không gian và thời gian, nghệ thuật trần thuật;ngôn ngữ và giọng điệu trong TTLS của nhà văn Trên cơ sở đó, chúngtôi chỉ ra những thành quả đổi mới về thể loại và những đóng góp củaLan Khai cho sự phát triển rực rỡ của TTLS Việt Nam đương đại cũngnhư những thành công và những hạn chế trong TTLS của ông
4 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý thuyết
Trong điều kiện tồn tại nhiều hệ hình lý thuyết văn học đa dạng vàphong phú hiện nay, chúng tôi chủ trương lấy học thuyết duy vật lịch sử
Trang 11và duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác Lê - nin làm nền tảng, đồngthời kết hợp với những tri thức của lí thuyết phương Tây hiện đại để làmsáng tỏ những giá trị nghệ thuật trong TTLS của Lan Khai Trong đó,chúng tôi chú ý tới đặc trưng của thể loại TTLS, ý thức cách tân nghệthuật của nhà văn, kết cấu cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ, tính chất giaothoa thể loại, vấn đề không gian, thời gian v.v Đồng thời chúng tôicũng liên hệ với những vấn đề lí luận của các trường phái văn học
phương Tây như Trường phái văn hóa lịch sử, Phân tâm học, Chủ nghĩa Siêu thực, Lí thuyết tự sự học, Kí hiệu học đã ảnh hưởng ít nhiều tới
sáng tác của nhà văn, cho thấy sự kế thừa và sáng tạo, đổi mới cách nhìnlịch sử của tác giả trong sự vận động của thể loại; những đột phá củaLan Khai trong việc lựa chọn đề tài, chủ đề, khắc họa nhân vật v.v… tạodấu ấn riêng vừa mang tính dân tộc vừa mang tính hiện đại
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài Tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai, chúng tôi
chủ trương phối hợp đồng thời các phương pháp nghiên cứu sau:
4.2.1 Phương pháp duy vật lịch sử và duy vật biện chứng: Chúng
tôi sẽ đặt các TTLS của Lan Khai vào hoàn cảnh sáng tác cụ thể tronggiai đoạn 1930 - 1945 để khảo sát, đồng thời có liên hệ tới các giai đoạntrước và sau đó, nhằm lí giải những nguyên nhân và kết quả sáng tạo củaông Đây là phương pháp nghiên cứu chủ đạo nhằm khảo sát toàn diện
cả về nội dung và hình thức nghệ thuật TTLS của Lan Khai
4.2.2 Phương pháp hệ thống: Chúng tôi sẽ tập hợp các TTLS của
Lan Khai thành hệ thống và khảo sát để thấy được quan niệm nghệ thuật,
sở trường khám phá lịch sử và những sáng tạo riêng, thể hiện tính tiênphong về nghệ thuật tiểu thuyết của ông
4.2.3 Phương pháp so sánh: Trong quá trình khảo sát, khi cần thiết
chúng tôi có liên hệ, đối chiếu TTLS của Lan Khai với một số TTLS tiêubiểu thời kì trung đại và của các nhà văn cùng thời, với TTLS đương đại
và nước ngoài để thấy rõ những điểm mới, những sáng tạo độc đáo củanhà văn ở thể tài này
4.2.4 Phương pháp phân loại: Chúng tôi sẽ phân loại các kiểu dạng
nhân vật, sự kiện, kết cấu tác phẩm cho thấy các góc nhìn khác nhau vềlịch sử trong tác phẩm của Lan Khai
Trang 124.2.5 Phương pháp liên ngành: Chúng tôi tiến hành phân tích mối
tương đồng và khác biệt giữa lịch sử với văn học trong một nền văn hóanhằm chỉ ra tính đặc thù thẩm mĩ của văn chương và hiện thực trong quákhứ
4.2.6 Phương pháp loại hình: Chúng tôi đặt các TTLS của Lan
Khai trong cùng hệ thống nhằm xác định những đặc trưng về kiểu dạngkết cấu và chức năng với cái nhìn bao quát về mô hình sáng tạo dựa trêncác phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật
Ngoài những phương pháp trên, luận án của chúng tôi còn sử dụng
linh hoạt một số phương pháp tiếp cận khác như: Văn hóa học, Nữ quyền luận, Chủ nghĩa tân lịch sử, Lí thuyết liên văn bản để hoàn thiện
mục tiêu nghiên cứu Đồng thời chúng tôi sẽ chú trọng sử dụng các thaotác phân tích tác phẩm để đi sâu khám phá tư tưởng và bút pháp nghệthuật của nhà văn, vừa soi sáng lí thuyết thể loại vừa khẳng định tinhthần đổi mới mạnh mẽ của Lan Khai ở thể tài này
5 Đóng góp mới của luận án
Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên có tính quy mô và hệ thống vềTTLS của Lan Khai trên các phương diện quan niệm sáng tác, cảm hứng,
sự kiện, nhân vật; đồng thời làm sáng tỏ những đổi mới trong sáng tạomang tính đột phá của ông về các phương thức và biện pháp nghệ thuật,
về tạo dựng cốt truyện, miêu tả nhân vật, sử dụng ngôn ngữ và kết cấuthời gian, không gian nghệ thuật Chúng tôi chỉ ra con đường sáng tạoriêng của Lan Khai, những dấu ấn độc đáo và những cống hiến của ôngtrong công cuộc cách tân văn học giai đoạn 1930 - 1945 ở mảng sáng tácnày
Luận án đã làm nổi bật tư tưởng và các phương thức sáng tạo nghệthuật mới của Lan Khai đã vượt thoát lối mòn truyền thống, tạo nênnhững phẩm chất mới cho nền văn học dân tộc và có ảnh hưởng nhấtđịnh tới TTLS Việt Nam đương đại Từ đó, làm rõ hơn các vấn đề lýthuyết từ cách tiếp cận, lựa chọn sự kiện lịch sử; vấn đề hư cấu khi phảnánh lịch sử; quan niệm về nhân vật lịch sử trong thời đại mới cũng nhưnhững đổi mới về thi pháp nghệ thuật trong TTLS của Lan Khai
6 Cấu trúc luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội
Trang 13dung của luận án bao gồm 4 chương như sau:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2 Từ quan niệm nghệ thuật đến quá trình sáng tác trong
tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai Chương 3 Từ hiện thực lịch sử đến bức tranh nghệ thuật trong tiểu
thuyết lịch sử của Lan Khai Chương 4 Các phương thức và biện pháp biểu hiện nghệ thuật
trong tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử
1.1.1 Khái niệm về tiểu thuyết lịch sử
Tiểu thuyết lịch sử viết về các sự kiện và nhân vật của thời kì quákhứ nhưng không đồng nhất với cách viết của nhà sử học Nếu các sửgia mô tả lịch sử một cách khách quan bằng ngòi bút biên niên sử thì nhàvăn gửi gắm cái nhìn chủ quan và cảm xúc của mình trước hiện thực lịch
sử Người nghệ sĩ nhạy cảm với những chuyển biến lịch sử, nên quá khứlịch sử được tái tạo sống động “thêm da thêm thịt” bởi tính uyển chuyểncủa nghệ thuật văn chương Là kết quả giao thoa giữa văn học và sử học,TTLS thể hiện sự hấp dẫn, độc đáo trong việc nhận thức, phản ánh hiệnthực và khao khát khám phá, lí giải lịch sử của mọi người
TTLS Việt Nam hình thành và phát triển từ thời kì trung đại vàkhông ngừng lớn mạnh từ đầu thế kỉ XX cho đến nay Suốt thời kì vănhọc trung đại, thể tài này có mầm mống từ loại hình văn xuôi và mô hìnhtiểu thuyết cổ điển Trung Hoa, chủ yếu sáng tác theo nguyên tắc môphỏng lịch sử với hình thức chương hồi Đến giai đoạn đầu thế kỉ XX
mặc dù vẫn bị chi phối bởi quan niệm văn - sử - triết bất phân nhưng
TTLS Việt Nam đã có nhiều khởi sắc và có giá trị nhiều hơn về văn hóanghệ thuật Càng về sau các tác giả càng tăng thêm yếu tố hư cấu, tưởngtượng khiến thể loại này có sự chuyển mình mạnh mẽ thích ứng với nhucầu tiếp nhận mới của người đọc Do vậy, lịch sử từ chỗ là những chứngtích trong quá khứ đã trở thành nhân tố cho sự thăng hoa cảm xúc sáng tạocủa người nghệ sĩ Đến thời kì đổi mới, đặc biệt là trong những năm gần
đây, TTLS phát triển rực rỡ đã tạo nên cuộc tranh luận sôi nổi trên các
diễn đàn văn học Như vậy, loại hình nghệ thuật độc đáo này đã phát triểnqua một chặng đường dài và càng ngày càng chứng tỏ sức hấp dẫn đặc biệtcủa nó, đáp ứng nhu cầu khám phá lịch sử của con người đương đại Đángchú ý, trong những năm gần đây sự biến đổi của tình hình văn hóa và thựctiễn sáng tác cùng với sự xuất hiện các hệ thống lí thuyết mới ở phươngTây như chủ nghĩa nữ quyền, chủ nghĩa tân lịch sử, chủ nghĩa hậu thựcdân, chủ nghĩa hậu hiện đại thì không khí tranh luận về thể tài này càng trở
Trang 15nên sôi nổi với nhiều ý kiến khác nhau Song song với sự ra đời các tácphẩm mới thì cũng xuất hiện các quan niệm mới về TTLS.
Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học (1992) của nhóm tác giả Lê
Bá Hán, Trần Đình Sử có nhận định: “TTLS là các tác phẩm viết về đềtài lịch sử, chứa đựng các nhân vật và chi tiết hư cấu, tuy nhiên nhân vậtchính và các sự kiện chính thì được sáng tạo trên các sử liệu xác thựctrong lịch sử, tôn trọng lời ăn tiếng nói, trang phục, phong tục tập quánphù hợp với giai đoạn lịch sử ấy Tác phẩm lịch sử thường mượn chuyệnđời xưa để nói chuyện đời nay, hấp thu những bài học trong quá khứ,bày tỏ sự đồng cảm đối với con người và thời đại đã một đi không trởlại Song không vì thế mà hiện đại hóa người xưa, phá vỡ tính chân thựclịch sử của thể loại này” [40; tr 352] Qua đó, các tác giả đã chỉ ra sựkhác biệt cơ bản về đề tài và cách thức phản ánh lịch sử của thể tài này
so với các hình thức nghệ thuật khác và thừa nhận sự kết hợp giữa lịch
sử và hư cấu là đặc tính tất yếu tạo nên sức sống vượt thời gian củaTTLS
Trong cuốn 150 thuật ngữ văn học (1999) của tác giả Lại Nguyên
Ân có nêu ý kiến: “TTLS là tác phẩm tự sự hư cấu, lấy đề tài lịch sử làmnội dung chính, lịch sử trong ý nghĩa khái quát là quá trình phát triển tựnhiên của xã hội Các Khoa học Xã hội đều nghiên cứu quá khứ loàingười trong tính cụ thể và đa dạng của nó Tuy vậy, những tiêu điểm chú
ý của các sử gia cũng như các nhà văn khi quan tâm đến đề tài lịch sửthường là sự hình thành, hưng thịnh, diệt vong của các quốc gia, dân tộc,những biến cố lớn lao trong đời sống xã hội của cộng đồng, quốc gia,trong các mối quan hệ của quốc gia như chiến tranh, cách mạng, cuộcsống và sự nghiệp của các nhân vật có ảnh hưởng đến tiến trình lịchsử” [5; tr 262] Theo đó, các tác giả cũng thừa nhận hư cấu là yếu tố tiênquyết của hoạt động sáng tạo nhưng vẫn nhấn mạnh nội dung trọng tâm
là phản ánh các sự kiện, biến cố trọng đại hoặc các nhân vật có ảnhhưởng lớn tới sự phát triển của lịch sử
Bên cạnh đó, bản thân những người sáng tác TTLS cũng bày tỏ
những quan điểm khác nhau Trong bài viết Nhà văn Hoàng Quốc Hải:
Tiểu thuyết lịch sử là sự giải mã lịch sử của tác giả Cao Minh, trên báo
Báo Sài Gòn giải phóng.org.vn có nêu ý kiến của nhà văn Hoàng Quốc
Trang 16Hải: “Lịch sử không bày, đặt sẵn mà lịch sử chỉ giữ lại cho ta những tín
hiệu, chẳng khác những mật mã Công việc của nhà văn chính là giải mã
lịch sử Chìa khóa để giải mã chính là sự trung thực của nhà văn vànhững thẩm thấu văn hóa mà nhà văn tiếp nhận được Tiểu thuyết nóichung, kể cả TTLS đều phải lấy hư cấu làm phương tiện nghệ thuật vàTTLS cũng không có ngoại lệ Cũng không có nghĩa là sự bịa tạc, mà là
sự tìm tòi đi đến chân thực Sự thật lịch sử trong TTLS đáng tin cậy hơn
vì nó được giải mã, nó có cuộc sống” [105] Như vậy, tác giả HoàngQuốc Hải cũng coi hư cấu là một thuộc tính nổi bật của thể tài nàynhưng phải trong chừng mực nhất định, không được xuyên tạc lịch sử.Trong cách luận giải này, tác giả vẫn đặt ra yêu cầu đối với người sángtác là phải tôn trọng chân lí lịch sử
Tác giả Nguyễn Văn Dân trong bài viết Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại, một số xu hướng chủ yếu (http://vjol.info.vn) đã trích
dẫn ý kiến của nhà TTLS Thái Vũ: “Khi tôi nói tôi viết TTLS sự thật làtôi không viết tiểu thuyết mà tôi viết lịch sử, trước hết phải trung thựcvới mọi chi tiết lịch sử” [21] Như vậy, theo Thái Vũ thì trung thực vớilịch sử là nguyên tắc sáng tác và mục tiêu cần hướng tới của nhà văn
Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh trong bài viết Vài suy nghĩ về tiểu thuyết lịch sử đã luận giải: “Những TTLS của chúng ta ngày nay đều
chịu ảnh hưởng của phương Tây, tức là viết dưới quan niệm của Aristote.Nghĩa là có sự phân biệt rõ ràng giữa nhà chép sử và nhà TTLS Ðã làtiểu thuyết thì phải hư cấu, dù đó là TTLS, hư cấu là đặc trưng của tiểuthuyết Hư cấu là đặc quyền của nhà văn” [79] Ông cũng chỉ rõ: “TTLSkhông phải là sự kể lại lịch sử, minh họa lại lịch sử mà là phản ánhnhững vấn đề của con người trong biến cố lịch sử Người viết không hẳn
đã dựng lại được lịch sử ngày xưa, điều cốt yếu là thuyết phục ngườiđọc” [79] Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh coi tính hư cấu là một “đặcquyền” của người sáng tác và vì thế tác phẩm không bị lệ thuộc vào sựđộc quyền của tư duy lịch sử
Trong bài viết Tác giả Trường An: Lịch sử ghi chép rất lạnh lùng
của Thu Hiền có nêu ý kiến của cây bút trẻ Trường An: “Lịch sử chỉ ghichép số liệu một cách khô khan, nhiệm vụ của người viết TTLS là phảithêm da thêm thịt cho nhân vật” [50] Theo đó, TTLS đi liền với hoạt
Trang 17động hư cấu, sáng tạo để làm sống dậy các sự kiện và nhân vật lịch sử Như vậy, tất cả các lập luận trên cho dù chưa hoàn toàn thống nhấtnhưng đều dựa trên thực tiễn sáng tác và tính đặc thù của thể loại Xuất
phát từ thực tiễn nghiên cứu, chúng tôi xin đưa ra cách hiểu như sau: TTLS
là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa những đặc trưng cơ bản của tiểu thuyết với những tài liệu của sử học trên cơ sở lấy lịch sử làm đề tài và tôn trọng
sự kiện, nhân vật lịch sử Tác phẩm đưa ra những kiến giải sâu sắc về lịch
sử, về cuộc sống bù lấp vào những khoảng trống của sử học Trong TTLS,
hư cấu nhằm phản ánh lịch sử ở cả bề rộng, bề sâu và làm sống động bức tranh lịch sử, tăng tính chân thực nghệ thuật trong tiểu thuyết.
1.1.2 Một số công trình nghiên cứu về tiểu thuyết lịch sử trên thế giới
TTLS là cầu nối gắn văn học với hiện thực đời sống đã có trong sựvận động xã hội của nhân loại Vì vậy, các sáng tác về đề tài lịch sử nóichung và TTLS nói riêng đã, đang và sẽ có chỗ đứng quan trọng trongvăn học và thực tiễn đời sống của con người Trải qua các thời kì lịch
sử, cách văn học phản ánh lịch sử cũng có nhiều thay đổi Khi “Chủnghĩa tân lịch sử”, “Chủ nghĩa hậu hiện đại” ra đời thì hầu như các thểloại văn học đều có những đổi thay Trong phạm vi lý thuyết các nhànghiên cứu chú ý hơn đến các thể tài tự sự khác, còn những biến đổicủa TTLS vẫn chưa được quan tâm toàn diện và sâu sắc Chúng tôi xinđược trích lược những ý kiến tiêu biểu của một số nhà nghiên cứu lýluận phê bình và nhà văn nước ngoài như sau:
Tiểu thuyết lịch sử (1937) của G Lukacs (Hungari) là công trình nghiên cứu chuyên sâu về TTLS Trong chuyên luận này, G Lukacs cho
rằng “thể tài này ra đời vào đầu thế kỷ XIX (khoảng thời gian Napoléonsụp đổ và chủ nghĩa tư bản ra đời với tư cách là một cấu trúc kinh tế),
đánh dấu bởi tác phẩm Waverley của tiểu thuyết gia người Scotland
Walter Scott (1771 - 1832), góp phần khẳng định cảm thức lịch sử nhưmột tiến trình” Ông kỳ vọng: TTLS phải tái trải nghiệm (re-experience)tâm lý và đạo đức của con người quá khứ như một giai đoạn phát triểncủa nhân loại, có liên quan đến con người đương đại G Lukacs cũngnhấn mạnh vai trò của “sự sai lệch thời gian cần thiết” (necessaryanachronism) hay hư cấu trong TTLS Hư cấu cho phép “các nhân vật
Trang 18diễn đạt tình cảm, tư tưởng về các quan hệ lịch sử có thực rõ nét hơnnhững con người của thời ấy đã từng trải nghiệm” nhưng phải luôn xác
thực về mặt lịch sử, xã hội” (Dẫn theo Nguyễn Nam, Cái chết của tác giả (tiểu thuyết lịch sử)? Những vấn đề nhân đọc Hoàng Việt xuân thu,
Nguồn: vanhoanghean.com.vn) G Lukacs phát triển thêm: “Không chỉ
tiểu thuyết nói chung, mà TTLS phải đạt tới chiều sâu của triết lí lịch sử.TTLS không chỉ bảo đảm việc miêu tả hoàn cảnh duy trì được không khílịch sử, mà quan trọng hơn là miêu tả trung thực bằng nghệ thuật mộtthời kì lịch sử cụ thể” [24; tr 299] Từ đó, G Lukacs lý giải: “Việc mô tảhiện thực của một thời kì lịch sử có thể thành công qua việc mô tả đờithường của nhân dân, nỗi đau và niềm vui sướng của những con ngườibình thường Trong lĩnh vực xây dựng TTLS, tài năng bộc lộ qua việc phảnánh những nguyên nhân dẫn đến sự thật trong trái tim con người, những sựthật mà biến động của chúng đã bị giới sử học bỏ qua Các nhân vật củaTTLS phải sinh động hơn các nhân vật lịch sử, vì các nhân vật của TTLSđược trao cho sự sống còn các cá nhân lịch sử thì đã sống” [24; tr 62] Đó
là do nhà sử học chỉ quan tâm sự kiện hoặc nhân vật bao trùm lịch sử,nhưng chính nhà văn mới quan tâm tới con người cá nhân trong những cơnbiến động lịch sử Những luận điểm sắc bén của G Lukacs có tính mởđường cho việc xác lập những đặc trưng tiêu biểu của loại hình nghệ thuậtnày dựa trên nguyên tắc sáng tác, mục đích nghệ thuật, khác với tiểu thuyếttâm lý, tiểu thuyết kỳ ảo, tiểu thuyết viễn tưởng
Nhà lí luận Nga G Lenobl trong công trình Lịch sử và văn học
(1960) nêu ra ba tiêu chí của TTLS: “Một là nhân vật và sự kiện lịch sử.Hai là nguyên tắc hay chủ nghĩa lịch sử, tức là cho thấy sự xung đột cácthời đại, sự quá độ các giá trị Ba là nội dung của tiểu thuyết phải là hiệnthực đã qua, mà tác giả và người đọc không phải là người đương thờicủa hiện thực đó Người đọc luôn cảm thấy có một sự khác thời” (Dẫn
theo Trần Đình Sử, Về tiểu thuyết lịch sử, nguồn:
http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn) Như vậy, quan niệm nổi bật của G Lenobl là coi tínhxác thực của sự kiện và nhân vật phù hợp với sách sử là tiêu chí căn bảntrong nguyên tắc sáng tác Vi phạm điều này coi như thủ tiêu tính chấtcăn cốt của thể loại Tuy nhiên ý kiến của ông còn khá “cứng nhắc” bởitrong thực tế sáng tác luôn có sự mở rộng và xê dịch cách nhìn về con
Trang 19người và sự kiện lịch sử, nếu không, tác phẩm khó tránh khỏi sự phỏngchép lịch sử một cách khiên cưỡng, vụng về và thiếu đi tính uyển chuyểncủa nghệ thuật văn chương
Hai tác giả Drothy Brewster và John Angus Burrell trong cuốn sách
Tiểu thuyết hiện đại (1971) cũng đã thể hiện quan niệm riêng về TTLS:
“TTLS có thể thoát thai từ ao ước của một tác giả muốn đào thoát khỏihiện tại, đồng thời thỏa mãn ước ao tương tự của độc giả Nhưng TTLScòn có nhiều tác dụng nữa Nó có thể soi sáng những thời kì quá khứ conngười đã qua, với những mục đích rõ ràng là gạn lọc những tình trạngtiến thoái lưỡng nan của hiện tại Nó giúp ta làm bảng so sánh, đối chiếuthời đại nọ với thời đại kia” [12; tr 213] Như vậy, TTLS vừa là kết quảsáng tạo của nhà văn vừa là tư liệu khai sáng quá khứ
Hayden White, một trong những nhà lí luận của chủ nghĩa Tân duy
sử bàn về “siêu lịch sử” (metahistory) đã thể hiện cảm quan hậu hiện đại
khá rõ nét Từ luận điểm nền tảng đó ông triển khai toàn bộ tư tưởng củamình: “Lịch sử như là tự sự” [130; tr 38] Hayden White khẳng định:
“Để cho câu chuyện lịch sử hoàn chỉnh, có logic sử học cũng phải hưcấu, và có bốn phương thức tu từ của tự sự lịch sử: lãng mạn khi kết thúctốt đẹp; bi kịch khi thất bại bi đát, hài kịch, khi nhân vật lịch sử đóng vai
hề, và châm biếm, khi một kẻ ngu dốt đóng vai vĩ nhân” [130; tr 117].Với mô hình đó, cách thể hiện lịch sử có nhiều mặt tương đồng với diễnngôn về lịch sử Lí thuyết lịch sử này được gọi là “thi pháp học vănhóa” Quan niệm trên khác với ý kiến của Aristote, rằng ông chỉ nói đến
“sự thật xảy ra” mà chưa thấy việc diễn ngôn về lịch sử Muốn biểu hiệncác tiềm năng của lịch sử trong tính chân thực đã làm cho lịch sử và tiểuthuyết gần nhau Tuy nhiên không có nghĩa là sử học và tiểu thuyết sẽđồng nhất Câu hỏi thứ ba của Hayden White: “Lịch sử nằm ở vị trí nàotrong hệ thống tri thức của nhân loại? Câu trả lời là “lịch sử nằm giữakhoa học và nghệ thuật, và vì vậy nó mang bản chất hư cấu và tràn đầyđịnh kiến” [130; tr 48] Quan niệm mới của Hayden White về lịch sửkích ứng trào lưu đối thoại lịch sử, tìm lại lịch sử và thúc đẩy sự pháttriển mạnh mẽ của thể tài TTLS
Tác giả Karl Popper (1902 - 1994), một trong những triết gia có ảnh
hưởng nhất thế kỉ XX, trong cuốn Sự nghèo nàn của thuyết sử luận
Trang 20(2012, Chu Lan Đình dịch, Nxb Tri thức, Hà Nội) đã nhận ra: “Sự nghèonàn của thuyết sử luận” bởi “họ” (các nhà sử luận) không nhìn ra sự cầnthiết của tính đa dạng trong những cách diễn giải (lịch sử) về cơ bảntương đương nhau (cho dù một số trong những cách diễn giải ấy có thểnổi bật lên nhờ vào tính phong phú của chúng - một điều ít nhiều có ýnghĩa)” [125; tr 257] Như vậy, những lập luận của Karl Popper nhấnmạnh tới tính đa dạng của cách diễn giải lịch sử trong các thời đại có vaitrò quan trọng làm phong phú bức tranh lịch sử
Khi bàn về diễn ngôn qua các thời đại cụ thể trong lịch sử, MichelFoucault cũng trình bày một số kiến giải mới về lịch sử có ý nghĩa làm
phong phú thêm lí thuyết thể loại Trong tác phẩm Triết học và mỹ học phương Tây hiện nay (1992, Nxb Văn hóa, Hà Nội) có trích dẫn quan
điểm của Michel Foucault: “Lịch sử là một sự đứt đoạn” [116; tr 216].Nghĩa là khi đề cập đến sự diễn giải lịch sử, ông tán thành quan điểm coi
“lịch sử như là một diễn ngôn” của Hayden White và bổ sung thêm luậnđiểm rất độc đáo Do vậy sẽ không có một sự trần thuật liền mạch màchúng ta giải mã trong dòng chảy lịch sử Đây là đóng góp quan trọngcủa Michel Foucault thúc đẩy tinh thần khám phá lịch sử, khai thác vàkết nối những chỗ “đứt gãy” của lịch sử, thúc đẩy sự sáng tạo của nhàvăn khi tiếp cận các đề tài lịch sử
Ngay từ những năm đầu thế kỉ XX các nhà tư tưởng như P Valery,
M Heidegger cho đến J-P Sartre, C Levis Strauss và Michael Foucault
đã bày tỏ sự hoài nghi lịch sử như một khoa học khách quan Khi TTLSchưa phát triển thì không phải chỉ có lịch sử tồn tại trong các ghi chépcủa sử gia mà đã được phản ánh dưới nhiều hình thức khác như hìnhthức dã sử bổ sung hoặc đính ngọa chính sử Mặt khác, khi đã khởi sắcrực rỡ cả về số lượng và chất lượng thì tiềm năng khai thác lịch sử của
nó còn rộng và sâu hơn chính sử thậm chí còn xác lập những quan niệmmới về lịch sử Do vậy, nếu coi thể tài này chỉ là minh họa hoặc vănchương hoá lịch sử thì đồng nghĩa với việc chưa đánh giá đầy đủ chứcnăng của TTLS, còn phiến diện trong cách nhìn nhận quy luật vận động
và phát triển bên trong của thể loại văn học Đó cũng là lí do khiến Iu
Lotman trong bài Về bản chất của nghệ thuật phát biểu: “Sự thật lịch sử
là sự thực hiện một trong vô vàn khả năng của hiện thực quá khứ, sự thật
Trang 21đó đã làm cho vô vàn các khả năng lịch sử khác mất cơ hội được thựchiện, mà thiếu chúng, ta khó mà hiểu hết hiện thực” [94; tr 108]
Trong cuốn Nghệ thuật thi ca thời cổ đại Hi Lạp, Aritstote cho rằng:
“Nhà sử học nói về những điều xảy ra thực sự, còn nhà thơ thì nói vềnhững điều có thể xảy ra” [Dẫn theo Trần Đình Sử; 133] Còn nhà văn
Nga M Gorki (Nghệ thuật thi ca) nhấn mạnh: “Lịch sử đích thực của
con người phải do nhà văn viết chứ không phải do nhà sử học viết”
(Tiềm năng giáo dục nhân văn của tiểu thuyết lịch sử - Zolina E N, Tạp
chí của IEGU, tập 1, năm 2006, tr 1) [133] Hoặc tác giả trích dẫn quanđiểm của nhà mĩ học Đức F W Schelling: “Xem quá khứ là một nghệ
thuật lịch sử” (Triết học nghệ thuật của Schelling - Nguyễn Huy Hoàng dịch, Tạp chí Triết học, số 9, ngày 15 tháng 2 năm 2009) [135] Còn nhà triết học Ý Benedetto Croce (Lý thuyết và lịch sử của khoa ký sử, 1912)
có nhận định: “Khái niệm lịch sử phù hợp với khái niệm chung về nghệ
thuật” [134] Còn F Engels trong cuốn Triết học lịch sử (1939) lập luận:
“Lịch sử thế giới là một nàng thơ vĩ đại, mở đầu là bi kịch, kết thúc làhài kịch” [133] Các ý kiến trên đều nhấn mạnh tiềm năng của thể tài nàytrong việc tái tạo tính cách, tâm lí con người vốn mờ nhạt trong sử học.Nhà văn, viện sĩ André Maurois (1885-1967), Viện Hàn lâm Pháp có viết
trong cuốn Lịch sử nước Pháp (1940): “May nhờ có Alexandre Dumas,
cả thế giới bao gồm cả người Pháp mới hiểu về lịch sử nước Pháp, cho
dù lịch sử ấy chưa hẳn là chính xác tường tận nhưng ít ra cũng không
phải là vô căn cứ” (Dẫn theo Hiền Thương, Khi bạn chọn đọc ngôn tình
để hiểu thêm về lịch sử, http://tuoitre.vn) Theo đó, lịch sử được xem là
yếu tố tồn tại khách quan, là cơ sở để nhà văn sáng tạo
Cùng quan điểm trên, tác giả Milan Kundera trong công trình Nghệ thuật tiểu thuyết (1998) đã chỉ ra sự khác biệt giữa nhà văn và nhà sử
học: “Nhà sử học kể lại các sự kiện đã xảy ra, còn nhà tiểu thuyết nắmbắt một khả năng của cuộc sống, khả năng của con người và thế giới.Nhà TTLS ghi nhận những kinh nghiệm nhân loại mà sử gia không quantâm hoặc không thấy giá trị Chính điều đó làm ngã bổ những định kiếnchắc chắn, chính thống, làm sụp đổ những khái niệm vĩnh hằng của thếgiới vững tin đã định hình yên chí, nhất thành bất biến và thám hiểmnhững mặt khác của vạn vật” [80; tr 135] Ông nhấn mạnh quyền năng
Trang 22của người sáng tác: “Nhà tiểu thuyết không phải là nhà sử học cũngchẳng phải nhà tiên tri: anh ta là người thám hiểm cuộc sống” [80; tr.51] Như vậy kiến giải của Milan Kundera thống nhất với các quan điểmtrên khi nhấn mạnh hư cấu là một thuộc tính tất yếu của TTLS.
Trong công trình Mỹ học của F Heghen (1999, tập 2, Nxb Văn học,
Hà Nội) có nêu ý kiến của nhà phê bình Biêlinxki: “Chúng ta hỏi vàchúng ta chất vấn về cái đã qua để chúng ta giải thích hiện tại và chỉ ratương lai cho chúng ta” [44; tr 58] Như vậy, lịch sử là căn nguyên nhậnthức khám phá hiện thực Hay như chính trị gia kiêm nhà văn của nước
Anh là George Otto Trevelyan (1838-1928) trong cuốn Lịch sử xã hội Anh (1922) cũng bày tỏ sự hoài nghi về quá khứ: “Lịch sử không có giá
trị khoa học thực sự, mục đích duy nhất của lịch sử là giáo dục conngười” [Dẫn theo Trần Đình Sử; 135] Cả hai ý kiến này lại thiên vềviệc nhấn mạnh vai trò nhận thức, giải mã lịch sử và chức năng giáohuấn của TTLS Các quan niệm đó cho thấy lịch sử và tiểu thuyết cónhiều điểm giao thoa Cả hai đều tồn tại như là truyện kể, đều là ý thức
xã hội Cả hai đều dùng tư liệu và tưởng tượng để tái hiện quá khứ và bùđắp vào chỗ đứt gẫy, chỗ trống vắng trong sử học Song thực tế cho thấy,không có căn nguyên hiện thực từ quá khứ, cũng không thể có hư cấu vàtưởng tượng
Còn Fredric Fukuyama lại thể hiện cảm quan hoài nghi lịch sử với
tuyên bố: “Lịch sử đã cáo chung” (Sự chấm dứt của lịch sử, 1989) [Dẫn
theo Trần Đình Sử; 133] Ý kiến này đã từng tạo ra “cơn địa chấn” gaygắt trong giới nghiên cứu về bản chất lịch sử Tuy nhiên, với sự ra đờicủa các trường phái lí thuyết như: chủ nghĩa tân lịch sử, chủ nghĩa hậuthực dân, nữ quyền luận và nhiều hệ hình lý thuyết hiện đại khác thì conngười phải thừa nhận một sự thật hiển nhiên là lịch sử đang được nhìnnhận một cách cởi mở hơn Thực chất lịch sử không phải đã “cáochung” mà được đặt ở nhiều góc nhìn, nhiều hướng đối thoại và bổsung nhau Tiểu tự sự bổ sung cho đại tự sự và tiểu lịch sử sẽ bồi đắp
đại lịch sử Khi Lí thuyết Hậu thực dân ra đời thì một số quốc gia trên
thế giới nhìn nhận lịch sử càng cởi mở Như vậy, điều thú vị là khi tồntại những quan điểm chưa thống nhất về lịch sử cũng là cơ hội mở rộngđường biên cho sáng tạo của nhà tiểu thuyết và cách tiếp nhận mới ở
Trang 23người đọc
Bên cạnh những quan điểm của các nhà nghiên cứu, bản thân cácnhà văn lớn trên thế giới cũng bày tỏ những kiến giải về TTLS qua thựctiễn sáng tác, góp phần làm đầy đặn thêm lý thuyết về thể tài này Tiêubiểu là ý kiến của nhà TTLS vĩ đại người Pháp Alexandre Dumas (cha)
thì lịch sử giống như một cái đinh để mọi người có thể tự do treo bức tranh của mình vào đó Theo ông, lịch sử là điểm tựa để người nghệ sĩ thỏa sức sáng tạo Trái lại, trong bài Bàn về tiểu thuyết lịch sử (2012) của Hải Thanh trên Tạp chí Văn hóa Nghệ An đã trích dẫn ý kiến của nhà
văn lớn nước Nga A Tônxtôi: “TTLS phải chính xác như một nghiên
cứu lịch sử” [154] Hay trong bài Lịch sử và tiểu thuyết lịch sử (2012) của tác giả Trần Đình Sử trên Báo điện tử Quân đội nhân dân cũng nêu
quan điểm của nhà văn Nhật Bản Kikuchi Kan (1888 - 1948): “Lịch sử
trong tiểu thuyết phải là các sự kiện và nhân vật nổi tiếng đã được ghi trong sách sử” [Dẫn theo Trần Đình Sử; 133] Trong công trình Tiểu thuyết lịch sử - một khuynh hướng nổi bật trong văn xuôi quốc ngữ Nam
Bộ đầu thế kỷ XX (2012) của Phan Mạnh Hùng cũng trích dẫn những
kiến giải của nhà văn Goncourt (Pháp): “Lịch sử là tiểu thuyết đã thànhhiện thực, còn tiểu thuyết là lịch sử có khả năng thành hiện thực TTLSkết hợp hai yếu tố đối lập, nhà văn tùy theo cảm hứng mà kéo mạnh vềcực này hay cực kia Người viết TTLS là một thầy lang bốc hai vị thuốc
kỵ nhau, nhưng liều lượng phải tính thế nào để chúng bổ sung cho nhau,
để thuốc có hiệu quả - tác phẩm phải hay: vừa có vị tiểu thuyết vừa có vịlịch sử” [54; tr 32] Như vậy, tác giả nhấn mạnh tới tài năng của ngườiviết đồng hành trong việc xử lí chất liệu lịch sử và kĩ thuật tiểu thuyết Nhà TTLS nổi tiếng Hella S Haasse (Hà Lan) khẳng định: “Mặcdầu những cuốn tiểu thuyết của tôi là TTLS nhưng chủ định của tôikhông bao giờ lấy việc tái hiện quá khứ làm nhiệm vụ hàng đầu Trongvăn học, đề tài lịch sử là một phương tiện chứ không phải là một cứucánh… Viết TTLS chẳng khác nào một trò chơi ú tim trong bóng tối vànếu trong trò chơi này ta chộp được một bàn tay hay một khuôn mặt, thì
đã là may mắn lắm rồi” [Dẫn theo Nguyễn Thị Tuyết Minh, 106; tr 31].Qua đó cho thấy phần lớn các nhà văn kiên quyết phản đối sự sao chéplại những gì xảy ra trong quá khứ và nhấn mạnh vai trò của hư cấu sáng
Trang 24tạo đối với người sáng tác khi đứng trước sự phức tạp của sử liệu
Qua một số bài viết, công trình nghiên cứu tiêu biểu trên cho thấycác góc nhìn phong phú khác nhau tạo tiền đề để chúng ta khám pháTTLS một cách toàn diện và sâu sắc hơn trong trào lưu vận động và pháttriển của văn học thế giới và trong nước Tuy nhiên, thực tiễn sáng tác ởcác giai đoạn sau đã thể hiện khả năng tiềm tàng của thể tài này trongviệc nhìn nhận và phản ánh lịch sử Do đó chỉ có những cách diễn giải
về lịch sử khác nhau còn bản thân lịch sử là những biến cố xã hội có thờigian và không gian xác định chứ không phải là kết quả diễn ngôn chủquan của người cầm bút
1.1.3 Các bài viết và công trình nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử ở Việt Nam
Nền văn học Việt Nam hiện đại đã cho thấy sự phát triển của TTLStrong từng giai đoạn lịch sử nhất định, đặc biệt là những thập niên cuốicủa thế kỉ XX cho đến nay Tuy nhiên thực tiễn hoạt động nghiên cứuphê bình về TTLS còn khá hạn chế Từ đầu thế kỉ XX đến những năm
1930 tình nghiên cứu TTLS mới bắt đầu nhen nhóm Đương thời cáchọc giả nổi tiếng như: Trương Tửu, Trương Chính, Vũ Ngọc Phan đãtheo sát sự vận động của TTLS và trình bày những quan niệm về TTLS.Giữa nhà văn và nhà lí luận phê bình đã có những “đụng độ” quan niệm
về thể loại nhưng chưa có lời giải đáp toàn diện và triệt để Để phác họabức tranh nghiên cứu TTLS ở Việt Nam, chúng tôi khảo sát qua 3 giaiđoạn sau đây dựa trên một số bài viết và công trình tiêu biểu
1.1.3.1 Giai đoạn 1930 - 1945
Trong công trình Nhà văn hiện đại (1942), tác giả Vũ Ngọc Phan đã
trình bày một số nhận định về thể tài lịch sử qua thực tiễn nghiên cứunhững gương mặt tiêu biểu đương thời như: Nguyễn Tử Siêu, Phan TrầnChúc, Nguyễn Triệu Luật, Lan Khai Từ những thành tựu cụ thể, ông đãbày tỏ những nhận xét có ý nghĩa thiết thực trong việc bổ khuyết, đốisánh về sáng tác của các nhà văn để độc giả có cái nhìn toàn diện hơn.Khi nhận xét về sáng tác của Phan Trần Chúc, ông viết: “Một lối vănmạnh và cứng, nhưng không bao giờ tránh được những cái ngây ngô,gần như dịch không thoát một câu tiếng Pháp làm cho người ta phảilấy làm lạ rằng ở miệng cổ nhân mà sao lắm khi lại có những lời quá
Trang 25mới, ngây ngô như thế” [126; tr 510] Về tác phẩm Chúa Trịnh Khải của
Nguyễn Triệu Luật, Vũ Ngọc Phan cũng phê bình thẳng thắn: “Nếu ôngbiết loại bớt những cái rườm rà đi, như những lời bàn, những lời so sánh
vô lý, những sự giảng giải không đâu thì những thiên lịch sử kí sự củaông sẽ được nhẹ nhàng biết bao!” [126; tr 547] Vũ Ngọc Phan nhấnmạnh: “Khi viết một quyển lịch sử, nhà chép sử không lưu tâm đếnnhững việc cá nhân không ảnh hưởng đến xã hội; nhưng khi viết nhữngbài lịch sử ký sự, nhà văn có thể viết một cách tỉ mỉ những việc cá nhânkhông ảnh hưởng gì đến dân chúng, chỉ có cái thi vị riêng của nó thôi.Không những thế, khi viết một quyển lịch sử ký sự, nhà văn lại cần phảilưu tâm đến những việc tư lắm lối ấy cũng gần như lối chép dã sử vậy.Còn như viết lịch sử tiểu thuyết, nhà văn chỉ phải căn cứ vào vài việccon con đã qua, rồi vẽ vời cho ra một chuyện lớn, cốt cho mọi việc đừngtrái với thời đại, còn không cần phải toàn sự thật.” [126; tr 541] Có thểthấy, đương thời Vũ Ngọc Phan tuy có phê phán việc sử dụng ngôn ngữnhân vật chưa hợp thời đại của một số cây bút đương thời nhưng về cơbản ông tán thành việc nhà văn có thể hư cấu, sáng tạo khi phản ánh lịchsử
Bên cạnh một số quan điểm của nhà nghiên cứu, xin điểm quanhững ý kiến tiêu biểu của những người trực tiếp sáng tác đương thời
Trong Ai lên phố Cát (1937), nhà văn Lan Khai nêu rõ: “Cho nên sưu
tầm nguyên sự thực, nhà làm sử gác bỏ những điều huyền hoặc đã đành.Nhà tiểu thuyết trái lại, có thể tự do biên chép hết cả để thêm hứng thúcho câu chuyện mình kể” [63; tr 6] Theo đó, ý thức phản ánh chân thựcchính xác hiện thực thuộc về nhà sử học, còn ý thức về tính sinh động lànhu cầu phản ánh nghệ thuật của nhà văn Không đồng tình với quan
điểm trên, tác giả Nguyễn Triệu Luật trong bài tựa của tác phẩm Bà Chúa Chè (1938) bày tỏ: “Tôi chỉ là người thợ vụng, có thế nào làm nên
thế, gốc tre già cứ để là gốc tre già, chứ không thể hun khói lấy màu, vẽvân cho thành gốc trúc hóa long” [73; Phụ lục TTLS Việt Nam tiêu
biểu] Còn trong lời tựa cuốn Ngược đường trường thi (1939), Nguyễn
Triệu Luật có viết: “Người viết TTLS giống như nhà kim hoàn trộn lẫnvàng với bạc, với đồng Vàng thuần thì dễ mòn, đồng thuần tuy cứngnhưng rẻ quá, không có giá, nay đem trộn lẫn với nhau - một sự hóa hợp
Trang 26chứ không phải hỗn hợp thì vẫn có giá Có giá vì không lừa ai, có giá vìkhông ai thấy nổi vết hàn gắn Chín phần vàng không bị hạ giá bởi mộtphần đồng cho nên vẫn chân giá, tạo ra một giá trị mới” [74; Phụ lục].Như vậy, Nguyễn Triệu Luật quan niệm TTLS phải tôn trọng sự kiện vànhân vật lịch sử nhưng không phải là sự “nệ sử” máy móc mà phải “tạo
ra giá trị mới” trên nền lịch sử Mặc dù những ý kiến đó còn thể hiệntính chủ quan nhưng là những quan niệm bắt nguồn từ nhu cầu của đờisống văn học Đó là những ý kiến cho thấy sự khác nhau về quan điểmsáng tác và tiếp nhận lịch sử trong trào lưu cách tân văn học
Như vậy, việc nghiên cứu TTLS Việt Nam ở giai đoạn này còn khá
sơ lược Các ý kiến hoặc một số công trình nghiên cứu mới dừng lại ởmột vài nhận định khái quát, chưa có sự khảo sát toàn diện, công phu vềTTLS Đồng thời, có nhiều TTLS của giai đoạn văn học này vẫn cònvắng bóng trong các bài nghiên cứu, phê bình về TTLS
1.1.3.2 Giai đoạn từ sau 1945 đến hết thế kỉ XX
TTLS từ sau 1945 đến hết thế kỉ XX được đánh giá ở nhiều góc
độ, mức độ, quy mô khác nhau; được đặt trong nhiều hệ hình lý thuyếtkhác nhau Hầu hết các công trình nghiên cứu đều tập trung vào mốiquan hệ giữa lịch sử và hư cấu, giữa văn và sử Sau đây, chúng tôi xinđiểm qua một số bài viết và các công trình tiêu biểu:
Sau 1954, ở miền Bắc, trong công trình nghiên cứu Lịch sử văn học Việt Nam tập III của nhóm Lê Quý Đôn có giới thiệu một phần về
Nguyễn Tử Siêu với tư cách là một nhà văn viết TTLS Còn ở Nam Bộ
có cuốn Văn học thời thuộc Pháp của Lê Văn Siêu và cuốn Văn học Việt Nam giản ước tân biên của Phạm Thế Ngũ đề cập đến TTLS giai
đoạn 1900 - 1945 nhưng mới chỉ dừng ở mức độ giới thiệu sơ lược
Trong cuốn Nguyễn Huy Tưởng (1966) của Hà Minh Đức có nhận
định: “Việc nghiên cứu lịch sử là vô cùng cần thiết đối với nghệ sĩ.Nhưng sự nghiên cứu ấy không thể thay thế sự sáng tạo Có khi ngườinghệ sĩ chỉ cần vài khoảnh khắc trong đời sống của nhân vật lịch sử, cókhi nghệ sĩ đưa vào tác phẩm những điều phi lịch sử không quan trọng,thậm chí trong một chừng mực nào đó có quyền vi phạm sự đúng đắn vềmặt sự kiện lịch sử Bởi vì tác giả chỉ cần đúng đắn lý tưởng mà thôi”[35; tr 132] Có thể thấy tác giả bài viết tán thành quan điểm coi lịch sử
Trang 27là chất liệu sáng tác và đánh giá cao sự sáng tạo của nhà văn Quan điểmnày phù hợp với cách tiếp cận và phản ánh lịch sử linh hoạt của nhiềucây bút đương đại.
Công trình Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (tập 1) (1974) của Phan
Cự Đệ đã vận dụng phương pháp phê bình Mác - xít phân tích và nhậnđịnh những thành công và hạn chế của tiểu thuyết Việt Nam qua các thời
kì trước 1930, 1930-1945, 1945-1975 Đặc biệt, trong công trình này,
ông còn phân loại một số kiểu tiểu thuyết Việt Nam hiện đại: tiểu thuyết luận đề, tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết phiêu lưu, tiểu thuyết tâm lý… và
nêu bật những vấn đề thời sự được phản ánh trong TTLS: “Trong thời kỳ
1900 - 1930, TTLS là một hình thái mới của văn học yêu nước và cáchmạng TTLS tuy viết về quá khứ nhưng lại mang một ý nghĩa rất hiệnđại… đó là nhiệm vụ của các nhà văn khi họ khai thác những đề tài lịchsử” [31; tr 37] Trong tập 1 của cuốn sách, tác giả Phan Cự Đệ đánh giá:
“Trùng Quang tâm sử của Phan Bội Châu là truyện khởi nghĩa chống
Minh đầu thế kỷ XV của một số anh hùng hào kiệt ở miền Nghệ An, lấydanh nghĩa nhà Trần để mưu khôi phục đất nước Nhưng tác phẩm nàyđồng thời lại là một TTLS có luận đề, luận đề về cách mạng Việt Nam.Người viết luôn hướng về hiện đại, kêu gọi đồng bào trong nước nổi dậylàm cách mạng” [31; tr 38]
Cũng nhìn nhận về Trùng Quang tâm sử của Phan Bội Châu, bài viết Tìm hiểu quan niệm anh hùng của Phan Bội Châu của Nguyễn Đình Chú đăng trên Tạp chí Văn học, số 12/1967 khẳng định: “Lần đầu tiên
trong văn học nước nhà có một tác phẩm viết về một tập thể anh hùng…Phan Bội Châu đã dựng lên mấy nhân vật phụ nữ cũng anh hùng tuyệtđẹp như ai” [18; tr 19] Như vậy tác giả đã chỉ ra những đóng góp mớicủa Phan Bội Châu khi xây dựng những nhân vật anh hùng, làm phongphú thêm hình tượng người anh hùng trong văn chương truyền thống
Tác giả Nguyễn Phương Chi trong bài Từ tiểu thuyết Trùng Quang tâm sử nghĩ về đề tài lịch sử chống Trung Quốc xâm lược qua một số sáng tác hiện nay in trên Tạp chí Văn học, số 4/1980 đã nghiên cứu Trùng Quang tâm sử từ góc nhìn thể loại và từ đề tài lịch sử Từ đó, tác
giả chỉ ra được những đóng góp của Phan Bội Châu trên phương diệnnội dung và hình thức nghệ thuật
Trang 28Trong công trình Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900 - 1930
(1983) của Trần Đình Hượu, Lê Chí Dũng đã đề cập đến hai TTLS giai
đoạn này là Ngọn cờ vàng của Đinh Gia Thuyết và Hai Bà đánh giặc của
Nguyễn Tử Siêu với những nhận xét tinh tế, sắc sảo Hai nhà phê bìnhdành nhiều trang viết cho Nguyễn Tử Siêu nhưng nhận định còn khá dèdặt: “Nguyễn Tử Siêu đã viết nhiều TTLS hơn cả Ý nguyện của ông rất
rõ ràng: bồi đắp được chút đỉnh về cái quan niệm đối với đất nước…;cũng như Đinh Gia Thuyết, Nguyễn Tử Siêu có ý thức dùng lịch sử đểkêu gọi lòng yêu nước, tình đồng bào” [57; tr 334]
Trong Lời giới thiệu cuốn Tuyển tập Nguyễn Huy Tưởng (1984), qua việc đề cập tới hai cuốn tiểu thuyết Đêm hội Long Trì và An Tư của
Nguyễn Huy Tưởng, nhà nghiên cứu Hà Minh Đức nêu nhận xét:
“Những sự kiện lịch sử lớn lao đã được làm sống dậy chân thực, hàohùng trong tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng Có thể nói chất sử thi đãnảy nở trong cảm hứng lịch sử sâu sắc về đất nước trong những phúttrọng đại với những trang viết nhiều khói lửa về một dân tộc anh hùng”[35; tr 22]
Tác giả Bùi Văn Lợi trong phần Tổng quan về tình hình nghiên cứu của luận án Tiến sĩ Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ những năm đầu thế
kỷ XX đến năm 1945 (Diện mạo và đặc điểm) (1998) đã khảo cứu khá
công phu tình hình nghiên cứu TTLS Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến
1945 qua việc trích dẫn nhiều công trình có giá trị Đó là cuốn sách Ngô Tất Tố tác phẩm (1961, Tập 1, Nxb Văn học, Hà Nội) của Phan Cự Đệ
và Hà Minh Đức đã đề cập tới một số TTLS của Ngô Tất Tố như: Lịch
sử Đề Thám (1935), Vua Hàm Nghi và việc kinh thành thất thủ (1935), Gia đình Tổng trấn quân Lê Văn Duyệt (1937) Tiếp theo là cuốn sách viết bằng tiếng Pháp của Nguyễn Khắc Viện Apercu sur la littérature Vietnamienne (Tổng quan về văn học Việt Nam, in tại Hà Nội năm 1976) Công trình Văn hóa dân gian những lĩnh vực nghiên cứu (1989) của
Kiều Thu Hoạch dựa trên việc nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học dângian với TTLS đã khẳng định vị trí tiêu biểu của Phan Bội Châu,Nguyễn Tử Siêu, Đinh Gia Thuyết trong số các nhà TTLS đương thời và
Các thế hệ nhà văn trong ngót một trăm năm nối tiếp nhau soi lại lịch sử
(1981) của Nguyễn Đình Chú đều nhắc tới Nguyễn Tử Siêu với những
Trang 29nhận định trân trọng Đặc biệt Bùi Văn Lợi đã trích dẫn những bài
nghiên cứu chuyên sâu về Nguyễn Tử Siêu trong Hội thảo khoa học Nhà văn - Lương y Nguyễn Tử Siêu, 1888-1965 do Sở Thông tin tỉnh Hà Tây
(cũ) tổ chức vào tháng 12/1995 như bài viết của Nguyễn Đình Chú,Nguyễn Đăng Na, Nguyễn Huệ Chi… Việc sưu tầm, hệ thống của tác giả
đã góp phần khái quát khá trọn vẹn tình hình nghiên cứu một thể tài vănhọc trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động
Trong luận án của mình, Bùi Văn Lợi cũng nêu nhận định: “ỞTTLS, nhà văn có quyền hư cấu, do đặc trưng mang tính chất thể loạicủa TTLS quy định Trong khi đó bút pháp của chính sử chỉ có một conđường duy nhất là trung thành chính xác với sự thật Nói cách khác phận
sự của nhà sử học là “truyền tin”, quý ở cái “chân” còn phận sự của nhàtiểu thuyết là “truyền kỳ”, quý ở “truyền” Ngòi bút của nhà sử học là
“thực lục” còn ngòi bút của nhà tiểu thuyết là “hư bút” Ở tiểu thuyết,nhà văn thường hư hóa cái thực, thực hóa cái hư Nó khêu gợi trí tưởngtượng và tăng cường tính mĩ cảm văn học” [92; tr 30] Điều đó cho thấyvai trò độc lập của từng loại hình ý thức xã hội khác nhau trong đờisống Đồng thời trên cơ sở so sánh, tác giả nhấn mạnh: Chính yếu tố hưcấu tạo nên diện mạo, sức sống của TTLS
Bên cạnh các công trình nghiên cứu thì giai đoạn này cũng xuất
hiện nhiều bài viết chuyên sâu về TTLS Trong bài Vài ý kiến về sự thật lịch sử và hư cấu nghệ thuật trong tiểu thuyết lịch sử phục vụ các em (Tạp chí Văn học số 3/1979), tác giả Hà Ân đã đặt ra câu hỏi: “Gia giảm,
chế biến thêm nếu cần, cách đó có nên có trong hư cấu nghệ thuậtchăng? Mặt hư cấu về một nhân vật là cuộc sống đời thường của nhânvật đó Xưa nay sử học chép về một nhân vật qua các sự kiện lịch sửchính yếu Nhưng trong một sáng tác văn học, một nhà văn cần phải gần
gũi người đời hơn” [Dẫn theo Trần Mạnh Tiến, Tiểu thuyết lịch sử và người đầu tiên mở hướng cách tân; 149] Điều đó cho thấy nhu cầu hư
cấu nghệ thuật là tất yếu để hình tượng nhân vật lịch sử “gần đời thiếtthực” (Vũ Bằng)
Năm 1988, khi bộ ba truyện lịch sử Vàng lửa - Phẩm tiết - Kiếm sắc của Nguyễn Huy Thiệp đăng trên báo Văn nghệ số ra ngày 26/5 và ngày 16/7/1988 đã như một tâm bão làm “khuấy đảo” không khí phê bình văn
Trang 30học và kích ứng sự tranh luận sôi nổi về truyện lịch sử Không khí tranhluận xung quanh hiện tượng văn học Nguyễn Huy Thiệp được tác giả
Phạm Xuân Nguyên tổng hợp trong cuốn Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp
(2001) (Nxb Văn hóa Thông tin ấn hành) đã tạo tiền đề cho cuộc tranhluận chưa có hồi kết về tính chân thực lịch sử và tính hư cấu của các tác
phẩm viết về đề tài lịch sử Tiêu biểu là bài viết của Tạ Ngọc Liễn Về truyện ngắn Vàng lửa của Nguyễn Huy Thiệp đăng trên báo Văn nghệ số
26 ngày 26/6/1988 cho rằng: “Vàng lửa là một truyện chứa không ít sai
lầm và lệch lạc” [113; tr 170] Thậm chí Đỗ Văn Khang còn thể hiện thái
độ phê phán gay gắt và phủ nhận giá trị của Vàng lửa qua bài viết Có một cách đọc Vàng lửa trên báo Văn nghệ số 36 - 37 ngày 3/9/1988 hay Nguyễn Thúy Ái với bài Viết như thế cũng là một cách bắn súng lục vào quá khứ v.v Trái lại, có nhiều nhà nghiên cứu lại khẳng định những sáng tạo táo bạo, độc đáo của Nguyễn Huy Thiệp như: Đọc văn phải khác với đọc sử của Lại Nguyên Ân, Bàn thêm về truyện ngắn Vàng lửa của Nguyễn Huy Thiệp của Ngô Văn Giá, Về một lối cảm thụ và phê bình bắt vít của Nguyễn Hữu Sơn và Trịnh Bá Đĩnh
Nhà nghiên cứu Trương Đăng Dung trong bài viết Tiểu thuyết lịch
sử trong quan niệm của G Lucacs in trên Tạp chí Văn học, số 5 năm
1994 cũng nêu ý kiến: “Phải dựa trên cơ sở sự thật lịch sử, hư cấu có mức
độ, không cho phép quá đà và sự hư cấu này có khả năng đạt tới một sựchân thật, chân thật hơn cả sự thật ngoài đời hay sự thật đã diễn ra trongchính sử” [23; tr 64] Theo đó, Trương Đăng Dung tán thành việc hư cấu
của nhà văn khi sáng tác TTLS nhưng sự hư cấu đó phải ở một ngưỡng
nhất định nhằm làm sống động lịch sử chứ không thể là sự hư cấu tùytiện
Năm 1998, Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác được Nxb Văn
học tái bản lần đầu trong nước đã gây tiếng vang lớn trong đời sống vănhọc Việt Nam, cuốn hút sự say mê của đông đảo công chúng, sau đó đãđược Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh mua bản quyền để dựngthành phim truyền hình dài tập Trên cơ sở đó, nhiều nhà nghiên cứu, phêbình văn học cũng đã bày tỏ những quan điểm khác nhau về tác phẩmcũng như về thể tài TTLS Tiêu biểu là ý kiến của Phan Cự Đệ đánh giá
sự thành công của Sông Côn mùa lũ là do người viết “thiên về tiểu thuyết
Trang 31hơn là về lịch sử” [32; tr 66] Như vậy, yếu tố nghệ thuật sẽ định hìnhsáng tạo của nhà văn tạo ra sự khác biệt giữa tác phẩm văn học với công
trình lịch sử Còn nhà văn Nguyễn Mộng Giác trong bài Thảo luận về tiểu thuyết lịch sử đăng trên nguyenmonggiac.com lý giải: “Nhiệm vụ của
người viết tiểu thuyết nếu có là phức tạp hóa những điều tưởng là đơngiản để người ta nhớ rằng con người, đời sống là cái gì mong manh, dễ
vỡ, phải cố gắng thông cảm với những tế vi phức tạp của nó, nhẹ tay vớiđồng loại những lúc bất đồng, kiên nhẫn với những yếu đuối khó hiểu”[19]
Tiếp đó, trong Lời ngỏ của tiểu thuyết Gió lửa (1999), nhà văn Nam
Dao đã khẳng định: “Tiểu thuyết là cách tác giả đối thoại với lịch sử Tấtnhiên đối thoại đó chỉ một chiều và chủ quan Thậm chí tác giả khôngcâu nệ bất cứ điều gì, kể cả đôi khi phải cưỡng bức lịch sử để thai nghén
ra tiểu thuyết” [16; tr 3; Phụ lục]
Có thể thấy không khí tranh luận sôi nổi về TTLS trong giai đoạnnày đã góp phần khuấy động ý thức truy tìm chân lí nghệ thuật của nhàvăn và bạn đọc trên diễn đàn văn học, góp phần gợi mở nhiều hướng tiếpcận mới về TTLS
1.1.3.3 Giai đoạn từ thế kỉ XXI cho đến nay
Bước sang những năm đầu thế kỷ XXI xuất hiện nhiều TTLS cỡ lớnvới việc đa dạng hóa quy mô phản ánh hơn các giai đoạn trước, làm nảysinh các quan niệm tiếp nhận khác nhau Nhiều cây bút tỏa sáng trên văn
đàn như: Hoàng Quốc Hải với hai bộ TTLS đồ sộ là Bão táp triều Trần (2009; 6 tập) và Tám triều vua Lý (2010; 4 tập) và hàng loạt TTLS cỡ lớn khác như: Hồ Quý Ly (2000), Mẫu thượng ngàn (2006) của Nguyễn Xuân Khánh, Giàn thiêu (2005) của Võ Thị Hảo khi vừa ra đời đã
được công chúng quan tâm sâu sắc Đó là chưa kể đến các yêu cầu khắtkhe của độc giả như kì vọng về sự trùng khít giữa lịch sử và văn học Dovậy xung quanh các buổi tọa đàm, hội thảo và các công trình, các bàinghiên cứu đã diễn ra những cuộc tranh luận sôi nổi về vấn đề sự thậtlịch sử và quyền năng sáng tạo của người viết Từ đó gợi mở những góc
độ mới về lý luận và thực tiễn sáng tác TTLS
Tiêu biểu là ý kiến của tác giả Trần Vũ trong Tiểu luận Lịch sử trong tiểu thuyết, một tùy tiện ý thức (2003) qua việc đặt ra những câu hỏi khá
Trang 32bức xúc: “Tại sao tiểu thuyết phải y chang như thật vậy? Nhà văn, anh tìmthấy gì? Và có gì để trình bày với nhân loại?” [171] Trần Vũ cũng bày tỏ
quan niệm trong cách viết về những nhân vật lịch sử: “Trong hình học
không gian, đường cong khi cắt ra làm trăm triệu đoạn nhỏ, mỗi đoạn sẽ
là một đường thẳng, và trên đường thẳng đó các giá trị không ứng nghiệmtrên các mặt phẳng khác, sẽ có nghiệm số ở mặt phẳng tí teo này Định lýtoán học trên cũng có thể hỗ trợ cho các nhà văn đem nhân vật lịch sử ra
cắt làm trăm triệu khúc và khảo sát phần nhỏ nhất” [171] Khi “khảo sát phần nhỏ nhất” ấy, Trần Vũ cho mình quyền “hư cấu tùy tiện” và (cả quyền) “phóng đại” tới mức “tiểu thuyết” Quan niệm và cách viết của
Trần Vũ gây ra những ý kiến trái chiều nhưng đã nêu bật được cách phánánh lịch sử táo bạo, thoát khỏi tư duy “nệ sử” và gợi mở những hướngtiếp cận mới với cả người sáng tác và người thưởng thức văn học
Trong công trình Văn học Việt Nam thế kỷ XX - những vấn đề lịch
sử và lí luận (2004), mục Tiểu thuyết lịch sử, tác giả Phan Cự Đệ đã giới
thiệu một số quan niệm của các học giả lớn như P Louis - Rey, G.Lukacs, M Kundera ; đồng thời ông viện dẫn những đặc trưng cơ bảncủa thể loại này vừa bám vào lịch sử nhưng vừa hư cấu nghệ thuật,không chỉ trong văn học Việt Nam mà cả trong văn học thế giới Ông coi
kĩ thuật tiểu thuyết là yếu tố quan trọng tạo nên sự độc đáo và sức sống
được nêu trong cuốn Từ điển bách khoa toàn thư (Encyclopedia Britannica, 1995):“TTLS là tiểu thuyết lấy một giai đoạn
lịch sử làm khung cảnh và mong muốn truyền bá cái tinh thần, kiểucách, và các điều kiện xã hội của một thời kỳ quá khứ với những chi tiếthiện thực và trung thành với sự thật lịch sử (tuy nhiên trong một số
Trang 33trường hợp sự trung thành này chỉ là giả tạo) Công trình sáng tạo đó cóthể đề cập đến những nhân vật lịch sử có thật hoặc có thể bao hàm một
sự pha trộn nhân vật lịch sử với nhân vật hư cấu” [21]
Công trình Bão táp triều Trần, tác phẩm và dư luận (2006, Nhiều
tác giả) do Nhà xuất bản Phụ nữ ấn hành đã tập hợp nhiều bài viết củacác nhà văn, nhà nghiên cứu và các sử gia như nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủtịch Hội Nhà văn Việt Nam, nhà thơ Bằng Việt - Chủ tịch Hội Liên hiệpVăn học nghệ thuật Hà Nội, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, Phó Chủ tịchHội Nhà văn Việt Nam, nhà văn Phùng Văn Khai, nhà văn Hoàng CôngKhanh, Tiến sĩ Sử học Đinh Công Vỹ về TTLS của Hoàng Quốc Hải.Tiêu biểu như ý kiến của nhà thơ Hữu Thỉnh: “Đây là một sự kiện quantrọng trong đời sống văn học Tôi biết nhà văn Hoàng Quốc Hải có khivắng nhà đến một năm liền để đi điền dã, tập hợp tư liệu và cho ra đờihai bộ tiểu thuyết vô cùng đồ sộ và có chất lượng” [122; tr 34] Nhà thơNguyễn Quang Thiều nhấn mạnh: “Tác giả đã chọn những sự kiện quantrọng nhất, chứa đựng tất cả các vấn đề văn hóa, lịch sử của đất nước vớicách viết khúc chiết, không dàn trải” [122; tr 42] Tiến sĩ Sử học ĐinhCông Vỹ khẳng định: “Hoàng Quốc Hải không viết theo lối thông sử màcắt ngang, chọn những thời điểm gay cấn nhất để làm nền cho cốttruyện” [122; tr 47] v.v Những kết quả đánh giá đã khẳng định phongcách độc đáo của Hoàng Quốc Hải cũng như sự thành công của tác phẩmnày trong việc tôn trọng tính khách quan, tái hiện chân thực bức tranhquá khứ để từ chân lí lịch sử thăng hoa thành sự thực nghệ thuật
Có thể thấy sau khi những TTLS có dung lượng lớn ra mắt độc giả
đã xuất hiện hàng loạt các cuộc hội thảo, các bài viết trên các tờ báo uytín tranh luận về thể tài này Không khí phê bình văn học diễn ra hết sứcsôi nổi, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Bên cạnh cácbuổi tọa đàm, hội thảo được tổ chức quy mô, còn có các bài viết, bàinghiên cứu công phu của nhiều tác giả như: Trần Đình Sử, Nguyễn VănDân, Lại Nguyên Ân, Phan Cự Đệ, Trần Mạnh Tiến, Nguyễn Thị TuyếtMinh với nhiều kiến giải sâu sắc
Trong bài viết Tiểu thuyết lịch sử và người đầu tiên mở hướng cách tân (2011) (Tạp chí Nhà văn, số 1, tr 78 - 84), tác giả Trần Mạnh Tiến đã điểm qua ý kiến của nhiều tác giả xoay quanh vấn đề nguyên mẫu lịch sử
Trang 34và việc hư cấu nghệ thuật Theo Trần Mạnh tiến: Lan Khai là một trong
những nhà văn tiên phong đổi mới về tiểu thuyết lịch sử Trong các ýkiến tiêu biểu phải kể đến quan niệm của Vương Trí Nhàn: “Có muônvàn cách thức của người viết văn làm cho trang sách của mình khác đi sovới quá khứ, và ở đây không ai có quyền tuyên bố mình có trong tay cái
chìa khóa duy nhất” (Đề tài lịch sử cảm hứng sáng tạo từ sự suy ngẫm
về hai cuốn tiểu thuyết Chốn xưa và Ngân thành cố của nhà văn Trung Quốc Lý Nhuệ, Báo Văn Nghệ, số 16, ngày 21 tháng 4 năm 2007) Theo
Vương Trí Nhàn thì nhà văn phải là chủ thể sáng tạo chân dung lịch sử.Việc nhận thức lại lịch sử của nhà tiểu thuyết là điều tất yếu khi quá khứ
đã khép lại, kể cả độ tin cậy từ các tài liệu sử học còn hạn chế, hoặc sự
chi phối của các thể chế chính trị Bài viết Về nhân vật lịch sử trong văn chương hiện đại (Báo Văn Nghệ, số 36, 6/9/2008), Phạm Quý Bính lại
cho rằng: “Nhân vật lịch sử trong văn chương trước hết là một hìnhảnh… đây không phải là một hình ảnh bịa đặt tự do, vì nhân vật lịch sửbao giờ cũng có nguyên mẫu trong trí tưởng tượng của bạn đọc, dù cácnguyên mẫu ấy đậm hay nhạt Nếu nhà văn bất chấp cái nguyên mẫu đó,
nhân vật có nguy cơ không được độc giả chấp nhận” Trong bài viết Xin đừng nhầm lẫn giữa tiểu thuyết và lịch sử (Báo Văn nghệ, số 45,
8/1/2008) gửi nhà văn Cao Duy Thảo, tác giả Đình Kính nhấn mạnh:
“Đừng biến các nhà văn thành các nhà báo, lẽo đẽo chạy theo các sựkiện như kiểu: đã viết về chiến tranh nhất thiết phải có “bóng dáng lính
Mĩ và chư hầu” để đúng với lịch sử, “chưa thay đổi tư duy chúng ta chưathể nâng cao tính chuyên nghiệp của văn chương” Như vậy, cả hai tácgiả trên đều coi lịch sử là yếu tố cốt lõi nhưng không vì thế mà đòi hỏi
sự trùng khớp giữa tính chân thực nghệ thuật với lịch sử của sử học Mặc
dù còn tồn tại một số ý kiến chưa thống nhất nhưng các nhà nghiên cứuđều coi tác phẩm văn học là kết quả của hoạt động sáng tạo của nhà văn
nên cần tránh các lối mòn, khuôn mẫu khi sáng tác Đến bài viết Đề tài lịch sử không bao giờ xưa (Văn Nghệ trẻ số 44, 26/10/2008), tác giả Hà
Ân quan niệm: “Nhân vật trong TTLS cho phép sai biệt với nhân vật
trong chính sử: Có thể có những sai biệt cho phép Như nhân vật trongchính sử có khi chỉ là một cái tên Ví dụ: Thái hậu Dương Vân Nga haycông chúa An Tư hay các anh hùng, dũng sĩ…” Các bài viết trên được
Trang 35tác giả Trần Mạnh Tiến tán thành về sự linh hoạt, tinh tế của người cầmbút khi sáng tạo tiểu thuyết trên nền lịch sử.
Trong bài Bàn về tiểu thuyết lịch sử (2012), tác giả Hải Thanh cũng
bày tỏ: “TTLS là sự sáng tạo, hư cấu trên cái nền đã ổn định của sự kiệnlịch sử và nhân vật lịch sử Nhà TTLS có thể tha hồ bay lượn trongkhông gian tưởng tượng sáng tạo nhưng phải nhằm mục đích làm sáng tỏhơn lịch sử, đem đến những cảm hứng, làm giàu thêm vốn thẩm mỹ mớicho bạn đọc về lịch sử Nghĩa là qua sáng tạo mới, nhà tiểu thuyết phảilàm cho bạn đọc thêm hiểu, thêm yêu, thêm quý trọng nhân vật lịch sử,nếu đó là nhân vật tích cực, chính diện và ngược lại” [154; tr 6] Nhưvậy, quan điểm của Hải Thanh lại nghiêng về việc đề cao tính chân thựclịch sử trong TTLS Cho dù nhà văn được quyền hư cấu, sáng tạo nhưngkhông được phép làm sai lệch chân dung nhân vật hoặc làm mất đi tínhxác thực của sự kiện lịch sử
Trên báo Văn hóa Nghệ An ngày 17/3/2012, tác giả Ngô Thời Tân
có bài viết: “Tứ đại kì thư” của tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc: tên gọi văn bản - tác giả đã lược thuật về thành tựu to lớn của bốn tiểu thuyết cổ điển Trung Hoa (Tam quốc diễn nghĩa, Thủy Hử, Tây Du Ký, Kim Bình Mai) Tác giả đã điểm qua tình hình nghiên cứu ở Trung Hoa và ảnh
-hưởng của những kiệt tác này với nền văn học hiện đại Trung Hoa, trong
đó có đề cập tới tác phẩm Tam quốc diễn nghĩa thể hiện mối liên hệ
khăng khít giữa lịch sử và văn học Công trình này gợi cho chúng tôinhiều ý kiến quý báu trong việc tiếp cận, khám phá TTLS
Sau các TTLS Hồ Quý Ly (2000), Mẫu thượng ngàn (2008) của
Nguyễn Xuân Khánh ra mắt bạn đọc đã thu hút sự quan tâm của nhiềunhà nghiên cứu, phê bình Ngày 15/10/2012 Viện Văn học tổ chức Hộithảo đánh giá thành công cũng như hạn chế trong TTLS của NguyễnXuân Khánh và của văn học Việt Nam những năm gần đây Trong đó có
rất nhiều bài viết đáng chú ý như: Một cách luận giải lịch sử dân tộc của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh nhân đọc tiểu thuyết Hồ Quý Ly của Đỗ Ngọc Yên, Mẫu thượng ngàn - con đường tìm về cội nguồn văn hóa và sức sống dân tộc của Nguyễn Văn Long, Nguyễn Xuân Khánh và sự va chạm với cái vảy ngược trên ngực của những con rồng của Phan Tuấn Anh, Tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh, sự đan bện giữa lịch sử và văn
Trang 36hóa - phong tục của Nguyễn Hoài Nam… Các tham luận trong buổi Hội thảo được tập hợp trong công trình Lịch sử và văn hóa, cái nhìn nghệ thuật Nguyễn Xuân Khánh (2012) của Nguyễn Đăng Điệp (Chủ biên)
góp phần làm sống động bức tranh thể loại và gợi mở nhiều giá trị nhânsinh khác của đời sống văn hóa dân tộc mà nhà văn cần sáng tạo Tiêu
biểu là ý kiến của nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Điệp (tiểu luận Đề dẫn Hội thảo) đã nêu ra nhiều luận điểm sắc bén về TTLS: “Khác với truyền thống coi lịch sử là đại lịch sử (đã xong xuôi), lý thuyết hiện đại, hậu
hiện đại khẳng định lịch sử là quá trình chưa hoàn tất mà đang được cấu
tạo lại với sự xuất hiện của các tiểu lịch sử Do đó, lịch sử được hình
dung như những mảnh vỡ… Có người khẳng định, nhà văn có quyềntưởng tượng đến vô hạn và tác phẩm của họ thực chất là cách cấu tạolịch sử theo quan điểm cá nhân Tại đó, có một thứ lịch sử khác (ngoạivi) so với lịch sử được thừa nhận (trung tâm), và lịch sử, khi đi vào lãnhđịa tiểu thuyết, phải được tổ chức trên cơ sở hư cấu vốn là một đặc trưngcủa nghệ thuật” [29; tr 8]
Cuối năm 2012, Hội đồng Lí luận phê bình văn học nghệ thuật
Trung ương đã tổ chức buổi Hội thảo khoa học Sáng tạo văn học, nghệ thuật về đề tài lịch sử Trong báo cáo Đề dẫn Hội thảo, Phan Trọng
Thưởng đề cập đến những nguyên tắc sáng tạo nghệ thuật về đề tài lịch
sử Mặc dù bàn về kịch lịch sử nhưng những kiến giải của tác giả có ýnghĩa thiết thực trong việc nghiên cứu TTLS Các tham luận khác vừađưa ra nhiều vấn đề lí luận cơ bản vừa đặt mục tiêu giải quyết những vấn
đề có tính thời sự từ thực tiễn sáng tác về đề tài lịch sử Hội thảo tậptrung vào một số nội dung quan trọng như điều kiện, môi trường sángtác, vai trò trách nhiệm của người nghệ sĩ, động cơ sáng tác, mối quan hệgiữa hư cấu và sự thật lịch sử Tại cuộc Hội thảo, các nhà văn, các nhànghiên cứu đã tranh luận, đối thoại sôi nổi để đi tới sự đồng thuận Mặc
dù vẫn còn những vấn đề chưa thống nhất nhưng đa số các ý kiến đềucho rằng TTLS phải sáng tạo trên nền lịch sử
Chuyên luận Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1945 (2012) của
Nguyễn Thị Tuyết Minh là công trình nghiên cứu công phu, hệ thống,bao quát sự vận động và phát triển của TTLS qua hai giai đoạn: 1945 -
1975 và từ sau 1975 đến nay Đóng góp của công trình này là tác giả đã
Trang 37khảo sát kĩ lưỡng tư duy tự sự lịch sử và các phương thức nghệ thuật tự
sự trong TTLS Việt Nam sau 1945; đặt TTLS trong sự vận động, đổimới của nền văn học Trên cơ sở đó, tác giả đã chia thành hai khuynhhướng “lịch sử hóa tiểu thuyết” và “tiểu thuyết hóa lịch sử” và phân loạihai dạng cảm thức lịch sử: “Lịch sử như một đối tượng được chiêm bái
và ngưỡng vọng” và “Lịch sử như một đối tượng phân tích và giả định”[106; tr 35]
Tiếp đến trong bài viết Suy nghĩ mới về tiểu thuyết lịch sử (2013),
tác giả Trần Đình Sử nêu ý kiến: “Nhu cầu sáng tác chính là nhu cầu đốithoại, phản biện lại với lịch sử, nhu cầu khôi phục những sự thật đãkhuất lấp, những góc nhìn mới nhưng không thể đòi hỏi hoàn nguyênlịch sử, một việc mà bản thân sử học quan niệm về lịch sử Từ chủ nghĩacấu trúc đến hậu cấu trúc, từ hậu cấu trúc đến chủ nghĩa tân lịch sử,
người ta nhận rõ lịch sử chỉ là sự trần thuật về lịch sử, tạo nên sự hoài
nghi đối với tính chân thực của văn bản lịch sử” [134] Theo đó việc yêucầu TTLS phải phản ánh trung thực lịch sử là không hợp lí, bản thân sử
học cũng chỉ là một loại diễn ngôn, một sự trần thuật chủ quan về lịch
sử Như vậy, tác giả bài viết đề cao vai trò của hư cấu trong sáng tác.Đây là ý kiến cần tiếp tục nghiên cứu cho thấu đáo hơn bởi thực tế lịch
sử là những sự kiện gắn với nhân vật xác định, việc nhận thức về lịch sửcòn tùy thuộc ở các nhà văn Nhà văn có thể dùng cái nhìn chủ quan đểmiêu tả, nhận thức lịch sử, nhưng không thể thay thế sự kiện và nhân vậtlịch sử bằng thiên kiến cá nhân Khi con người và sự kiện đã thành lịch
sử được cộng đồng thừa nhận thì đó là căn cứ để nhận thức về quá khứ
và đó là tài liệu cho các nhà TTLS sau này sáng tạo
Tại Hội thảo Đổi mới tư duy tiểu thuyết lần 2 của Hội Nhà văn tại
Hà Nội ngày 28 tháng 2 năm 2018 (đăng trên baovannghe.com.vn ngày2/3/2018) đã trích đưa những ý kiến tiêu biểu của các nhà văn về TTLS
Trong bản tham luận nhan đề Với tiểu thuyết lịch sử, nhà văn Vũ Xuân
Tửu nhấn mạnh: “Với TTLS, không phải mọi sự thật đều được viết ra,
và cũng không phải mọi điều viết ra đều là sự thật Tuy nhiên, dù ngòibút có thăng hoa đến mức nào đi nữa, thì cũng không được viết sai lệchbản chất lịch sử Sự thật lịch sử không chỉ nằm trong sách giáo khoa màtồn tại khách quan trong xã hội, có khi ẩn hiện đâu đó, khiến người cầm
Trang 38bút phải tìm tòi, suy ngẫm” Còn nhà văn Nguyễn Thế Quang khẳngđịnh: “Đổi mới tư duy tiểu thuyết là yêu cầu hàng đầu, tất yếu củaTTLS Nhà khoa học tìm hiểu lịch sử qua chứng cứ cụ thể, còn nhà vănkhám phá bề sâu phong phú vô cùng phức tạp của tâm hồn con người.Viết TTLS không phải chỉ quay lại tìm vẻ đẹp của người xưa với tinhthần hoài cổ mà cái chính là để đối thoại với hiện tại, chia sẻ cùng bạnđọc, hướng tới sự tiến bộ” Nhà văn Trần Thanh Cảnh thì cho rằng:
“Việc hư cấu trong TTLS là không giới hạn, nó hoàn toàn tùy thuộc vàotrí tưởng tượng của nhà văn Tuy nhiên việc sáng tạo đến đâu, như thếnào tùy thuộc vào vị trí, góc nhìn, phông văn hóa của nhà văn” Cũng tạibuổi Hội thảo, nhà văn, nhà báo Trần Mai Hạnh - từng là nhân chứngtrực tiếp trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đại thắng mùa xuân 1975,tác giả của các kí sự lịch sử nổi tiếng, đã trình bày bài tham luận nhan đề
Về một cách nhìn lịch sử trong tiểu thuyết đương đại Với bài viết này,
ông nêu nhiều ý kiến sắc sảo, đúng đắn về cách nhìn lịch sử bằng tiểuthuyết: “Không ai được phép độc quyền về cách nhìn, cách phán xétcũng như cách thức xây dựng tác phẩm văn học từ các sự kiện lịch sửcủa dân tộc Nhưng chỉ có điều bất kì góc độ nào, cách nhìn nào, người
viết cũng phải tôn trọng sự thật lịch sử, góp phần làm bật lên sự thật và giá trị của các sự kiện và tình tiết quan trọng của lịch sử Trong Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.1975, tôi đã sử dụng không gian 4 chiều để soi rọi
làm rõ sự thật ” Ông đưa ra 4 tiêu chí then chốt đối với người viếtTTLS: “Thứ nhất - Phải tôn trọng sự thật khách quan của lịch sử: Lịch
sử là tự nó viết ra, đó chính là sự thật Điều cốt lõi của lịch sử chính là
sự thật Sự thật lịch sử không hề bị hoen gỉ bởi thời gian, nó thách thứcnhững mưu toan xuyên tạc, bóp méo của con người Sự thật rồi cuốicùng cũng trở về với sự thật Nói như vậy không phải là hạ thấp khảnăng tưởng tượng phong phú và giá trị sáng tạo của nhà văn Chỉ có điềukhả năng sáng tạo, hư cấu của nhà văn phải hướng tới việc khắc họatrung thực và nâng tầm lịch sử chứ không phải xuyên tạc, bóp méo, đổitrắng thay đen các sự kiện, các nhân vật của lịch sử nhằm phục vụ ý đồriêng của mình Thứ hai - Phải chinh phục niềm tin của người đọc:Những sự kiện, tình tiết, nhân vật thuộc về một phần của lịch sử mà nhàvăn xây dựng trong tác phẩm của mình, trước hết phải là sự thật Không
Trang 39thể đùa nghịch, bỡn cợt với lịch sử Không thể lên mặt với lịch sử, tùytiện sửa chữa, nhào nặn lịch sử theo ý đồ riêng của mình Thứ ba - Viết
về đề tài lịch sử đương đại phải rất khắt khe về sự thật Trong thời đạicông nghệ thông tin bùng nổ, những sự kiện, tình tiết trong tác phẩmphải có bằng chứng vững chắc mới có thể đứng vững được Thứ tư - Yêucầu về tính chân thật của các sự kiện lịch sử mà tác phẩm đề cập Đó lànhững tài liệu nguyên bản, văn bản tin cậy đã được kiểm chứng” Đó lànhững ý kiến xác đáng của Trần Mai Hạnh về TTLS rút ra từ thực tiễn
sáng tác Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75 đã vượt qua sự thử thách khắc
nghiệt của dư luận và được thời gian sàng lọc Bởi lẽ, nếu sự thật về các
sự kiện lịch sử mà tác phẩm đề cập tới bị đổ vỡ thì đương nhiên giá trịvăn chương cũng sẽ bị khai tử Do vậy, cho dù là tác phẩm nghệ thuậtnhưng không thể thoát li sự thực lịch sử mới có giá trị thuyết phục ngườiđọc Qua đó cho thấy TTLS đang được quan tâm nghiên cứu một cáchthích đáng, phần nào đã đáp ứng được với thực tiễn sáng tác vô cùngphong phú của nó
Có thể nói, chưa bao giờ TTLS được nghiên cứu theo nhiều hướngkhác nhau như thi pháp học, tự sự học, phân tâm học, nữ quyền luận, cáctrường phái tân lịch sử, hậu thực dân, hậu hiện đại như hiện nay Mỗi
đề tài, mỗi công trình nghiên cứu là một cách nhìn, cho thấy sự đa dạng,khác biệt cũng như sự đổi mới tư duy, những thành công và hạn chế củathể tài này trong đời sống văn học, thể hiện tư duy của nhà văn về lịch sử
là không ngừng vận động Trong những năm gần đây nhiều luận văn, luận
án, tiểu luận nghiên cứu tại các trường Đại học, các cơ sở nghiên cứucũng góp phần đa dạng hóa bức tranh tiếp nhận, đánh giá TTLS Có thểthấy, càng ngày TTLS càng thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứucũng như khẳng định vị trí quan trọng của nó trong đời sống văn học Với
sự đa dạng của các hướng tiếp cận, tình hình nghiên cứu TTLS cũng cónhiều thay đổi và hầu như các nhà nghiên cứu đều thừa nhận hư cấu làthuộc tính tất yếu của thể loại này, nhưng phải dựa trên cái nền lịch sử.Các bài viết và các công trình nghiên cứu trên đã góp thêm những ý kiếnquan trọng trong việc xác lập tính liên tục của quá trình nghiên cứu TTLS
ở nước ta
Trang 401.2 Sự khác nhau giữa TTLS thời kì trung đại và thời kì hiện đại
Sự khác nhau của TTLS trung đại và hiện đại trên những phươngdiện nội dung và hình thức cho thấy quá trình chuyển biến của TTLSViệt Nam từ tiểu thuyết truyền thống (chương hồi) sang tiểu thuyết hiệnđại ở các mặt sau:
Về văn tự: Tất cả các TTLS trung đại như Hoan Châu ký của
Nguyễn Cảnh Thị, Hoàng Việt Long hưng chí của Ngô Giáp Đậu và kí
sự lịch sử Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia văn phái v.v… đều viết bằng chữ Hán Đến TTLS hiện đại chỉ còn tác phẩm Trùng Quang tâm
sử của Phan Bội Châu viết bằng chữ Hán, còn lại đều được viết bằng
chữ Quốc ngữ
Về đề tài: Tiểu thuyết trung đại nhằm phục hiện diện mạo của một
giai đoạn lịch sử hoặc làm nổi nhân vật, sự kiện lịch sử Cụ thể như:
Hoan Châu ký phản ánh quá trình trung hưng của nhà Lê sau khi họ Mạc tiếm ngôi, Nam Triều công nghiệp diễn chí mô tả lại 133 năm Trịnh Nguyễn phân tranh, Hoàng Lê nhất thống chí phản ánh sự suy thoái, sụp
đổ của chế độ phong kiến Lê Trịnh và cuộc khởi nghĩa Tây Sơn Nguyễn
Huệ thế kỷ XVIII, Hoàng Việt Long hưng chí dựng lại quá trình “phục
hưng” nhà Nguyễn của Nguyễn Ánh v.v… Còn TTLS hiện đại thì chỉ
một số tác phẩm khai thác chủ đề này (Trùng Quang tâm sử của Phan Bội Châu, Gia Long tẩu quốc của Tân Dân Tử, Trần Nguyên chiến kỷ
của Nguyễn Tử Siêu) Còn đa số các tác phẩm khác tập trung khai thácmột sự kiện lịch sử đặc biệt của một triều đại để khám phá lịch sử đời tư
của những con người có liên quan tới biến cố lịch sử đó như: Đêm hội Long Trì của Nguyễn Huy Tưởng khi miêu tả Đặng Thị Huệ, Tiếng sấm đêm đông của Nguyễn Tử Siêu khi miêu tả thế giới nội tâm của Đinh Tiên Hoàng hoặc nỗi tương tư của Lý Chiêu Hoàng trong Chiếc ngai vàng và nhiều tác phẩm khác của Lan Khai.
Về kết cấu: Tiểu thuyết trung đại được kết cấu theo kiểu chương
hồi, chia làm nhiều tiết, nhiều hồi Cụ thể: Hoan Châu ký có 16 tiết, Hoàng Việt Long hưng chí có 34 hồi, Việt Lam xuân thu có 64 hồi, Nam Triều công nghiệp diễn chí có 8 quyển (8 hồi) Riêng Hoàng Lê nhất