1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhân vật anh hùng trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1975.

189 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 189
Dung lượng 480,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhân vật anh hùng trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1975.Nhân vật anh hùng trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1975.Nhân vật anh hùng trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1975.Nhân vật anh hùng trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1975.Nhân vật anh hùng trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1975.Nhân vật anh hùng trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1975.Nhân vật anh hùng trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1975.Nhân vật anh hùng trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1975.Nhân vật anh hùng trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1975.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

TRẦN THỊ NHẬT

NHÂN VẬT ANH HÙNG TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM SAU 1975

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

NGHỆ AN – 2021

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

TRẦN THỊ NHẬT

NHÂN VẬT ANH HÙNG TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM SAU 1975

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 9220121 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

TS Lê Thanh Nga

NGHỆ AN – 2021

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iv

LỜI CẢM ƠN v

BẢNG CHÚ THÍCH KÍ HIỆU VIẾT TẮT vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Đóng góp của luận án 4

6 Cấu trúc luận án 5

Chương 1 T ỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU V À CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 6

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 6

1.1.1 Nghiên cứu về thể loại tiểu thuyết lịch sử 6

1.1.2 Nghiên cứu về nhân vật anh hùng trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1975

26 1.2 Cơ sở lý thuyết của đề tài 29

1.2.1 Giới thuyết một số khái niệm được dùng trong luận án 29

1.2.2 Quan niệm về người anh hùng và nhân vật anh hùng 36

1.2.3 Các tiêu chí xác định nhân vật anh hùng trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam hiện đại 39

Tiểu kết chương 1 45

Chương 2 BỨC TRANH CHUNG CỦA TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM SAU 1975 46

2.1 lược Sơ về tiểu thuyết lịch sử Việt Nam trước 1975 46

2.1.1 Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XX đến 1945 46

2.1.2 Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1975 51

2.2 Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1975 54

2.2.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1975 54

2.2.2 Các chặng đường vận động của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1975 56

2.2.3 Thành tựu và các khuynh hướng của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1975 59

1

Trang 4

2.3 Bước đầu nhận diện nhân vật anh hùng trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam

sau 1975 66

2.3.1 Nhân vật anh hùng - hình tượng trung tâm của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1975 66 2.3.2 Những cảm hứng sáng tác chính chi phối việc xây dựng nhân vật anh hùng 68 Tiểu kết chương 2 72

Chương 3 LOẠI HÌNH NHÂN VẬT ANH HÙNG TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM SAU 1975 74

3.1 Nhìn chung về loại hình nhân vật anh hùng trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1975 74

3.1.1 Nhân vật anh hùng nhìn từ vai trò, chức năng của nhân vật trong tiểu thuyết 74 3.1.2 Nhân vật anh hùng nhìn từ công lao, sự nghiệp của người anh hùng 76

3.1.3 Nhân vật anh hùng nhìn từ lý thuyết diễn ngôn 84

3.2 Loại nhân vật anh hùng xây dựng theo xu hướng đồng hướng với chính sử 86

3.2.1 Khẳng định vai trò của người anh hùng trong những bước ngoặ t lịch sử 86

3.2.2 Đề cao trí tuệ, tài năng của người anh hùng 90

3.2.3 Đề cao ý chí, bản lĩnh của người anh hùng 95

3.3 Loại nhân vật anh hùng xây dựng theo xu hướng bổ khuyết, đối thoại với chính sử 97

3.3.1 Đối thoại để khẳng định, minh oan, chiêu tuyết 97

3.3.2 Đối thoại với cách nhìn cá biệt, trái ngược với lịch sử 100

3.4 Loại nhân vật anh hùng xây dựng theo xu hướng mượn lịch sử để đào sâu, khám phá con người cá nhân, đời tư 103

3.4.1 Quan tâm thể hiện những nét đời thường, gần gũi 103

3.4.2 Bổ sung, làm rõ đời sống bản năng 105

3.4.3 Tô đậm phương diện bi kịch của nhân vật 107

Tiểu kết chương 3 111

Chương 4 PHƯƠNG THỨC XÂY DỰNG NHÂN VẬT ANH HÙNG TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM SAU 1975 112

4.1 nhân Đặt vật anh hùng vào những tình huống gay cấn, căng thẳng 112

4.1.1 Tình huống đất nước gian nguy, thù trong giặc ngoài 112

4.1.2 Tình huống cận kề cái chết 114

4.1.3 Tình huống lựa chọn nghiệt ngã 117

Trang 5

4.2 Kết hợp hài hoà nhiều thủ pháp nghệ thuật để xây dựng nhân vật anh hùng 118

4.2.1 Miêu tả người anh hùng qua chân dung, ngoại hình 118

4.2.2 Miêu tả người anh hùng qua lời nói, hành động 120

4.2.3 Chú trọng khắc họa nội tâm nhân vật anh hùng 123

4.3 Luân chuyển điểm nhìn và tổ chức giọng điệu trong xây dựng nhân vật

anh hùng 127

4.3.1 Kết hợp linh hoạt nhiều điểm nhìn 127

4.3.2 Kết hợp linh hoạt nhiều giọng điệu 134

4.4 hợp Kết sử dụng nhiều lớp ngôn từ trong xây dựng nhân vật anh hùng 139

4.4.1 Lớp ngôn từ cổ xưa, đậm chất lịch sử 139

4.4.2 Lớp ngôn từ đời thường, khẩu ngữ mang màu sắc đương đại 141

4.4.3 Lớp ngôn từ địa phương (phương ngữ) 144

Tiểu kết chương 4 145

KẾT LUẬN 147

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ 151

TÀI LIỆU THAM KHẢO… 152 PHỤ LỤC

Trang 6

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn củaPGS.TS Đinh Trí Dũng và TS Lê Thanh Nga, cùng với sự góp ý của các nhà khoahọc Các kết quả nêu trong luận án là trung thực Các tài liệu tham khảo, các tríchdẫn đảm bảo tường minh, rõ ràng Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về công trìnhnghiên cứu của mình

Nghệ An, tháng 05 năm 2021

Tác giả luận án

Trần Thị Nhật

Trang 7

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Đinh Trí Dũng, TS Lê Thanh Nganhững người đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình học tập, hoàn thành công trìnhnghiên cứu này

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ngành Ngữ văn, Viện Sư phạm xã hội, Phòng Đào tạoSau đại học, Trường Đại học Vinh đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện tốt nhất trongquá trình học tập, nghiên cứu tại trường

Xin được gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu, lãnh đạo Khoa Giáo dục Tiểu học,các phòng ban liên quan của Trường Đại học Sài Gòn đã tạo điều kiện thuận lợi và

hỗ trợ để tôi học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ

Xin được bày tỏ lòng biết ơn tới quý thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp và gia đìnhnhững người đã động viên, giúp đỡ, cổ vũ tôi hoàn thành khóa học và luận án

Nghệ An, tháng 05 năm 2021

Tác giả luận án

Trần Thị Nhật

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Trong văn học hiện đại Việt Nam, tiểu thuyết là thể loại đóng vai trò chủlực Tiểu thuyết cũng là thể loại gặt hái nhiều thành tựu trong văn học Việt Namgiai đoạn từ 1975 đến nay Trong bức tranh văn xuôi sau 1975, đặc biệt là sau

1986, bộ phận tiểu thuyết lịch sử (TTLS) đã có những sáng tạo, cách tân mới mẻ

Nhiều TTLS đặc sắc lần lượt ra đời: Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác,

Tám triều vua Lý, Bão táp triều Trần của Hoàng Quốc Hải, Hồ Quý Ly của

Nguyễn Xuân Khánh, Gió lửa, Đất trời của Nam Giao, Hội thề của Nguyễn Quang Thân, Nguyễn Du, Thông reo ngàn Hống của Nguyễn Thế Quang, Sương

mù tháng giêng của Uông Triều, Đức Thánh Trần của Trần Thanh Cảnh Tâm

thế nhìn lại lịch sử một cách tỉnh táo; đào sâu vào quá khứ, chiêm nghiệm quá khứ

để hiểu hơn những gì cha ông đã trải qua và để rút ra những bài học cần thiết chocuộc sống hiện tại đã làm cho TTLS ngày càng chiếm được cảm tình sâu sắc củabạn đọc Trong những năm gần đây, một số hội thảo cấp quốc gia bàn về tiểuthuyết lịch sử đã được tổ chức, nhiều công trình nghiên cứu, nhiều luận án tiến sĩ,luận văn thạc sĩ… đã lấy tiểu thuyết lịch sử làm đối tượng nghiên cứu Vì thế,khảo sát TTLS nói chung, nhân vật anh hùng (NVAH) trong TTLS nói riêng sẽgiúp chúng ta hiểu hơn bức tranh tiểu thuyết cũng như quy luật vận động của tiểuthuyết và văn xuôi thời kỳ đổi mới

1.2 TTLS Việt Nam sau 1975 là sự tiếp nối những truyền thống tốt đẹp củavăn xuôi về đề tài lịch sử của dân tộc, từ các tiểu thuyết chương hồi có màu sắclịch sử trong văn xuôi chữ Hán thời trung đại, các TTLS giai đoạn từ đầu thế kỷ

XX đến 1945, TTLS mang màu sắc sử thi giai đoạn 1945 - 1975 Đó là một quátrình liên tục, có những thăng trầm và có những kế thừa, phát triển Dù màu sắc cókhác nhau, nhưng TTLS các giai đoạn trên đều thể hiện đậm nét những truyềnthống tốt đẹp của con người Việt Nam: lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, ý chí quậtcường, tấm lòng nhân ái, bao dung… Nghiên cứu TTLS nói chung, NVAH trongTTLS nói riêng không chỉ giúp hiểu hơn vai trò, vị trí của TTLS trong dòng chảycủa văn xuôi mà còn hiểu sâu hơn những giá trị vững bền có tính truyền thống củavăn chương dân tộc

1

Trang 10

1.3 Với tính chất là phương tiện khái quát hiện thực, là nơi thể hiện tập trungquan niệm nghệ thuật về con người, xây dựng nhân vật là vấn đề quan trọng bậcnhất trong tiểu thuyết Trong TTLS, NVAH thường là nhân vật chính, nhân vậttrung tâm, nơi nhà văn dành nhiều tâm huyết để thể hiện những ý đồ nghệ thuậtcủa mình Cách thể hiện NVAH trong tiểu thuyết gắn với quá trình nhận thức, tưduy nghệ thuật của nhà văn Với nhiều hình tượng NVAH đặc sắc, TTLS sau 1975

đã thể hiện chiều sâu nhận thức về con người, bổ sung những chuẩn mực mới mẻtrong hệ giá trị của văn chương Vì thế, so với NVAH trong các tiểu thuyết giaiđoạn trước, NVAH trong TTLS giai đoạn sau 1975 đã trở nên đầy đặn, chân thực,sống động và cũng phức tạp hơn Do đó, đi sâu tìm hiểu NVAH sẽ là một đầu mốigiúp chúng ta khám phá sâu hơn vấn đề xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết nóichung, TTLS nói riêng Điều này càng có ý nghĩa khi vấn đề xây dựng NVAHtrong TTLS sau 1975 cho đến nay vẫn chưa được quan tâm đúng mức

1.4 Hiện nay, văn xuôi về lịch sử nói chung, TTLS nói riêng là mảng sángtác được chú ý giới thiệu trong nhà trường phổ thông và đại học Mảng sáng tácnày có ý nghĩa đặc biệt trong giáo dục lòng yêu nước, truyền thống anh hùng, ýthức biết ơn, trân trọng công lao của tổ tiên, của các bậc anh hùng Đề tài cũnggóp phần đổi mới, nâng cao chất lượng dạy học các tác phẩm văn xuôi nóichung, tiểu thuyết nói riêng trong nhà trường

2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là Nhân vật anh hùng trong tiểu

thuyết lịch sử Việt Nam sau 1975 Từ các tiêu chí xác lập quan niệm về người

anh hùng nói chung, NVAH trong TTLS nói riêng, luận án đi sâu khảo sátloại hình NVAH, phương thức xây dựng NVAH trong các TTLS Việt Namtiêu biểu giai đoạn từ 1975 đến nay

2.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận án quan tâm đến các nhân vật được xác định là NVAH trongTTLS Việt Nam giai đoạn từ 1975 đến nay (chúng tôi lấy cột mốc 1975 vì từsau thời điểm này, văn xuôi nói chung, TTLS nói riêng đã bắt đầu có nhữngchuyển động tích cực, tạo đà cho sự đổi mới toàn diện, sâu sắc cho văn xuôinói chung, tiểu

Trang 11

thuyết lịch sử nói riêng sau 1986) Do số lượng TTLS từ 1975 đến nay (trong đó

có hiện diện nhân vật anh hùng) rất lớn nên luận án chỉ tập trung khảo sát vànghiên cứu những tác phẩm nổi bật, tiêu biểu cho các khuynh hướng của TTLS,các tác phẩm được dư luận bạn đọc và giới nghiên cứu chú ý, trong đó tập trung

vào một số tác giả, tác phẩm như: Hồ Quý Ly (Nguyễn Xuân Khánh), Hội thề (Nguyễn Quang Thân), Tám triều vua Lý, Bão táp triều Trần (Hoàng Quốc Hải),

Gió lửa, Đất trời (Nam Giao), Sông Côn mùa lũ (Nguyễn Mộng Giác), Đức Thánh Trần, Trần Thủ Độ (Trần Thanh Cảnh), Ngô Vương, Nam Đế vạn xuân

(Phùng Văn Khai), Trần Quốc Toản,Trần Khánh Dư (Lưu Sơn Minh), Thông reo

ngàn Hống (Nguyễn Thế Quang), Búp sen xanh (Sơn Tùng)… Ngoài ra, một số

tác phẩm thuộc những thể loại khác như truyện ngắn, ký về đề tài lịch sử cómiêu tả, thể hiện NVAH (trong và ngoài nước, ở các thời kỳ) cũng được tìm hiểu,đối chiếu với những mức độ nhất định nhằm làm sáng tỏ những mục tiêu nghiêncứu mà đề tài đặt ra

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở xác định đối tượng, mục đích, phạm vi nghiên cứu, luận án đặt ranhững nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:

- Xác định hệ thống các khái niệm liên quan như TTLS, NVAH trong TTLS,phác họa bức tranh toàn cảnh và tiến trình vận động của TTLS Việt Nam hiện đại,xác định tiêu chí nhận diện NVAH trong TTLS Việt Nam sau 1975

- Phân tích, làm sáng tỏ loại hình NVAH trong TTLS Việt Nam sau 1975

- Phân tích, làm sáng tỏ các phương thức xây dựng NVAH trong TTLS ViệtNam sau 1975

4 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành các mục tiêu khoa học đặt ra, luận án sử dụng các phương

Trang 12

pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

4.1 Phương pháp cấu trúc, hệ thống: chúng tôi xem xét TTLS Việt Nam từ

1975 đến nay (khoảng đến năm 2020) như một chỉnh thể thống nhất, có tính hệthống, có mối quan hệ, tác động lẫn nhau, đặt trong bức tranh chung của tiểuthuyết Việt Nam thời kì đổi mới; khi tiếp cận từng tác giả, từng tiểu thuyết cụ thể,thế giới NVAH, chúng tôi cũng quan tâm đến tính hệ thống, chỉnh thể trong cấutrúc của nó

4.2 Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Phương pháp này giúp chúng tôi

lý giải các vấn đề xung quanh hình tượng NVAH trong TTLS sau 1975 từ góc nhìncủa các ngành khoa học liên quan như: lịch sử học, văn hóa học, dân tộc học, mĩhọc, tâm lí học…

4.3 Phương pháp tiếp cận thi pháp học: Luận án vận dụng lí thuyết thi

pháp học để tìm hiểu một số phương diện như quan niệm nghệ thuật về ngườianh hùng, điểm nhìn nghệ thuật, giọng điệu trần thuật… trong TTLS Việt Nam sau1975

4.4 Phương pháp so sánh: dùng để đối chiếu, so sánh các tác phẩm, hình

tượng, nhân vật… trong cùng hoặc khác loại hình, nhằm chỉ ra những điểm gặp

gỡ và khác biệt trong nội dung thể hiện, cách thức xây dựng NVAH

4.5 Phương pháp thống kê, phân loại: hỗ trợ cho việc hình thành một

số luận điểm của luận án, giúp xác định số lượng hoặc tần số lặp lại của cácbiểu tượng, các phương thức, các chi tiết… trong xây dựng NVAH ở các tácphẩm cụ thể

4.6 Phương pháp loại hình: là phương pháp khảo sát đối tượng nghiên cứu

từ nhiều phương diện khác nhau như cảm hứng, bút pháp, nghệ thuật tự sự… củatiểu thuyết, đặt trong tương quan loại hình của chúng; ở đây là loại hình TTLS,loại hình NVAH trong TTLS

5 Đóng góp của luận án

Luận án có những đóng góp chủ yếu sau:

5.1 Về mặt lý luận, luận án góp phần làm r hơn tiêu chí nhận diện NVAHtrong TTLS Việt Nam hiện đại nói chung, TTLS sau 1975 nói riêng, chỉ ra sự bổsung, đổi mới trong quan niệm về người anh hùng trong các TTLS Việt Nam sau1975; từ đó, góp phần nhận diện diện mạo, quy luật vận động, đổi mới của tiểu

Trang 13

thuyết Việt Nam đương đại nói chung, TTLS Việt Nam đương đại nói riêng.

5.2 Về mặt thực tiễn sáng tác, luận án đi sâu khảo sát, phân tích, làm rloại hình NVAH và chỉ ra các phương thức xây dựng NVAH trong TTLS ViệtNam sau 1975, có sự so sánh với các giai đoạn trước đó Từ góc nhìn NVAH, luận

án cũng góp phần khẳng định vai trò, vị trí, sự phân hóa đa dạng của bộ phậnTTLS trong bức tranh chung của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975

6 Cấu trúc luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính

của Luận án được triển khai trong 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tàiChương 2: Bức tranh chung của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1975Chương 3: Loại hình nhân vật anh hùng trong tiểu thuyết lịch sử ViệtNam sau 1975

Chương 4: Phương thức xây dựng nhân vật anh hùng trong tiểu thuyếtlịch sử Việt Nam sau 1975

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Nghiên cứu về thể loại tiểu thuyết lịch sử

1.1.1.1 Nghiên cứu lý luận và quan niệm tiểu thuyết lịch sử ở nước ngoài

Nhìn chung, thành tựu nghiên cứu lý thuyết về TTLS chủ yếu đến từphương Tây Trong đó, các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm đến cách thức xử lý,diễn giải chất liệu lịch sử và vấn đề hư cấu, sáng tạo của nhà văn trong sự đối sánhvới tính chân thực của thực tế lịch sử

Hai bình diện sự thật và sáng tạo trong TTLS, cho đến nay vẫn là vấn đề

thời sự của văn học G Lukacs, nhà m học người Hungari, trong công trình Tiểu

thuyết lịch sử đã cho rằng: “Sự thể hiện lịch sử không thể có được nếu không có

mối liên hệ có tính chất ấn tượng với hiện tại” 30; 133 Cho nên, “nhiệm vụ củanhà văn viết tiểu thuyết lịch sử là phải tạo dựng được một cách phong phú các tácđộng tương hỗ, cụ thể khớp với hoàn cảnh lịch sử mô tả” 30; 132] Theo G.Lukacs, nhà văn đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo nên một tác phẩm

có giá trị Tác phẩm có giá trị “phải đạt tới chiều sâu của triết lí lịch sử Tiểuthuyết lịch sử không chỉ bảo đảm việc miêu tả hoàn cảnh duy trì được không khílịch sử, mà quan trọng hơn là miêu tả trung thực bằng nghệ thuật một thời kì lịch

sử cụ thể” 30; 299] Ông kiến giải: “Việc mô tả hiện thực của một thời kì lịch sử

có thể thành công qua việc mô tả đời thường của nhân dân, nỗi đau và niềm vuisướng của những con người bình thường Trong lĩnh vực xây dựng tiểu thuyết lịch

sử, tài năng bộc lộ qua việc phản ánh những nguyên nhân dẫn đến sự thật trong tráitim con người, những sự thật mà biến động của chúng đã bị giới sử học bỏ qua Cácnhân vật của tiểu thuyết lịch sử phải sinh động hơn các nhân vật lịch sử, vì các nhânvật của tiểu thuyết lịch sử được trao cho sự sống còn các cá nhân lịch sử thì đã sống”[30; 62] Như vậy, vai trò của nhà sử học và nhà văn với đề tài lịch sử không đồngnhất với nhau Nhà sử học chỉ quan tâm đến sự kiện, nhân vật lịch sử tiêu biểu, cònnhà văn lại quan tâm tới số phận con người trong những cơn biến động của lịch sử

Trang 15

Cũng nói về sự khác nhau giữa nhà văn và nhà sử học, M Kundera trong

Nghệ thuật tiểu thuyết đã chỉ ra sự khác biệt: “Nhà sử học kể lại các sự kiện đã

xảy ra, còn nhà tiểu thuyết nắm bắt một khả năng của cuộc sống, khả năng của conngười và thế giới Nhà tiểu thuyết lịch sử ghi nhận những kinh nghiệm nhân loại

mà sử gia không quan tâm hoặc không thấy giá trị Chính điều đó làm ngã bổnhững định kiến chắc chắn, chính thống, làm sụp đổ những khái niệm vĩnh hằngcủa thế giới vững tin đã định hình yên chí, nhất thành bất biến và thám hiểmnhững mặt khác của vạn vật” 84; 135] Ông đánh giá cao vai trò của người sángtác: “Nhà tiểu thuyết không phải là nhà sử học cũng chẳng phải nhà tiên tri: anh ta

là người thám hiểm cuộc sống” 84; 51]… Như vậy, đối với nhà văn, lịch sử là thếgiới hiện thực cần được tôn trọng, nhưng TTLS không phải là sự sao chép hiệnthực đó mà hướng đến những mục tiêu và giá trị riêng dưới cái nhìn và cảm quanthẩm mĩ của người sáng tác

Việc chỉ r sự khác biệt giữa mục tiêu, cách thức mà nhà văn và nhà sửhọc khai thác sự kiện, nhân vật lịch sử giúp người viết TTLS xác định được đốitượng, cách tiếp cận và giới hạn trong ngòi bút của mình L Tolstoi từng nói rằng:

“Trong khi vẽ lên bức tranh của một thời đại, nhà sử học và nhà nghệ sĩ có hai đốitượng hoàn toàn khác nhau Nhà sử học sẽ sai lầm muốn trình bày nhân vật lịch sửtrong toàn thể của nó, trong sự phức tạp của mối quan hệ của nhân vật đó với tất

cả các mặt của cuộc sống Cũng như vậy, nhà nghệ sĩ sẽ không làm tròn bổn phậncủa mình nếu anh ta bao giờ cũng trình bày nhân vật của mình trong tư thế lịch sửcủa nhân vật đó Nhà sử học chú trọng tới các kết quả của một biến cố; còn nhànghệ sĩ thì chú trọng tới bản thân của sự kiện trong biến cố” 92 Như vậy, L.Tolstoi đưa ra cái nhìn khái quát về cách tiếp cận lịch sử của nhà sử học và nhàvăn Ông đánh giá cao vai trò của nhà văn trong việc sinh động hóa nhân vật lịchsử

H White - một đại biểu của chủ nghĩa “Tân duy sử” khi bàn về metahistory(siêu lịch sử) đã khẳng định: “Lịch sử như là tự sự” Ông giải thích rằng: “lịch sửchỉ như một thứ truyện kể được kể từ điểm nhìn của một ngôi thứ ba nào đó, nhưchiết tự của từ “history” trong tiếng Anh Các sự kiện quá khứ chưa phải là lịch sử,chúng chỉ trở thành lịch sử khi diễn giải, từ đó, lịch sử chính là một trò chơi - ngônngữ (language - game), để dùng một từ khóa của triết học hậu hiện đại”

Trang 16

[138; 115] Theo H White, tiền thân của TTLS đã là một “câu chuyện” - history.

Nó mang đầy tính chủ quan của “người kể” Nhà nghiên cứu cũng đưa ra nhiềucâu hỏi về lịch sử như: “Lịch sử nằm ở vị trí nào trong hệ thống tri thức của nhânloại? Câu trả lời là “lịch sử nằm giữa khoa học và nghệ thuật, và vì vậy nó mangbản chất hư cấu và tràn đầy định kiến” 138; 48] Quan điểm H White đã tạo ra

“hiệu ứng” đối thoại với lịch sử diễn ra rất mạnh mẽ trong nghiên cứu nghệ thuật

và sáng tạo nghệ thuật lấy lịch sử làm đề tài sáng tác

Trong chuyên luận Tiểu thuyết hiện đại, hai tác giả D Brewster và J.

Bureell cũng đã đưa ra quan niệm về TTLS, đồng thời đi sâu nghiên cứu TTLS từphương diện hoạt động tiếp nhận, các góc nhìn khác nhau của người đọc Theoông: “Đọc tiểu thuyết lịch sử là để đưa mình vào những thời đại khác, vì khi người

ta khốn khổ thì ưa đi tìm bạn lương tri” 18; 196] Trong cuốn Lịch sử và văn học,

nhà nghiên cứu G Lenobl (người Nga) đưa ra ba tiêu chí để xác định một TTLS:

“Một là nhân vật và sự kiện lịch sử Hai là nguyên tắc hay chủ nghĩa lịch sử, tức làcho thấy sự xung đột các thời đại, sự quá độ các giá trị Ba là nội dung của tiểuthuyết phải là hiện thực đã qua, mà tác giả và người đọc không phải là ngườiđương thời của hiện thực đó Người đọc luôn cảm thấy có một sự khác thời” [181;288] Trong nhận định của mình, G Lenobl coi trọng tính xác thực của sự kiện vànhân vật lịch sử và xem đó là tiêu chí căn bản trong sáng tác TTLS Quan điểmnày của G Lenobl có tính nguyên tắc, dùng để phân biệt với các loại tiểu thuyếtviết về đề tài lịch sử nhưng không phải là TTLS

Trả lời câu hỏi Thế nào là tiểu thuyết lịch sử, các nhà nghiên cứu trên thế

giới (D Brewster và J Burell, A Dumas, H S Haasse, G Lukacs, W Scott,

L Tolstoi, Goncourt…) đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau Trong chuyên luận

Tiểu thuyết hiện đại, D Brewster và J Burell cho rằng: “Tiểu thuyết lịch sử có thể

thoát thai từ ước ao của một tác giả muốn đào thoát khỏi hiện tại, đồng thời thỏamãn ước ao tương tự của độc giả Nhưng tiểu thuyết lịch sử còn nhiều tác dụngnữa Nó có thể soi sáng những thời kì quá khứ con người đã trải qua, với nhữngmục đích r ràng là gạn lọc những tình trạng tiến thoái lưỡng nan của hiện tại”[18; 197] Với quan niệm này, TTLS trước hết là tiểu thuyết viết “về thời quá khứ”của một dân tộc hay một quốc gia nào đó và quan trọng hơn, nó phụ thuộc vào chủquan của người phê bình muốn xếp nó vào danh mục nào A Dumas nói

Trang 17

một cách hình ảnh: “Lịch sử đối với tôi là gì? Nó chỉ là một cái đinh để tôi treobức hoạ của tôi mà thôi” Như vậy, Dumas coi sự kiện, nhân vật lịch sử chỉ làphương tiện để nhà văn viết tiểu thuyết và gửi vào đó những thông điệp của mình.Còn G Lucaks lại cho rằng: “Tiểu thuyết lịch sử về nguyên tắc không khác gì tiểuthuyết thông thường nhưng phải thể hiện sự vĩ đại của con người trong lịch sử vớinhững khả năng của tiểu thuyết nói chung” 30; 41 Quan niệm này nhấn mạnhđến việc thể hiện thành công tầm vóc lịch sử của cá nhân trong tác phẩm, tức tácphẩm phải hướng đến những căn nguyên thúc đẩy các hành động thay đổi xã hộibởi những con người lỗi lạc.

Quan niệm về TTLS không chỉ được phát biểu bởi các nhà nghiên cứu, màcòn bởi cả các nhà văn Hella S Haasse, cây bút nổi tiếng Hà Lan thế kỷ XX nhấnmạnh: “những cuốn tiểu thuyết của tôi có thể là tiểu thuyết lịch sử (bởi nó dựa trênnhững sự kiện và biến cố lịch sử hoặc có liên quan đến những con người có thật)

… Trong văn học, đề tài lịch sử là một phương tiện chứ không phải là một cứucánh Không thể phủ nhận được là có một sự đồng cảm thực sự giữa nhà văn vớithời đại lịch sử và các nhân vật mà họ quan tâm đến” [dẫn theo 101; 31] Theoquan điểm của Hella S Haasse, trong TTLS, những chi tiết, sự kiện lịch sử khôngphải tồn tại khô khan như trong nguồn tư liệu lịch sử, như trong chính sử, mà nómang dấu ấn cảm quan lịch sử của nhà văn với những giá trị thẩm m mới mẻ.Nghệ thuật phải có sự sáng tạo, nghệ thuật không cần sự rập khuôn cứng nhắc.Bởi thế, đòi hỏi sự chính xác tuyệt đối của lịch sử trong TTLS là điều gần nhưkhông tưởng Trong TTLS, nhà văn có quyền hư cấu, sáng tạo nhưng vẫn phải tôntrọng sự kiện lịch sử, vừa có tính chân thực, vừa có màu sắc hư cấu để tăng sứchấp dẫn cho tác phẩm L Tolstoi nhấn mạnh: “Tiểu thuyết lịch sử phải chính xácnhư một nghiên cứu lịch sử” dẫn theo 146] Còn Goncourt (Pháp) quan niệm:

“Lịch sử là tiểu thuyết đã thành hiện thực, còn tiểu thuyết là lịch sử có khả năngthành hiện thực Tiểu thuyết lịch sử kết hợp hai yếu tố đối lập, nhà văn tùy theocảm hứng mà kéo mạnh về cực này hay cực kia Người viết tiểu thuyết lịch sử làmột thầy lang bốc hai vị thuốc kỵ nhau, nhưng liều lượng phải tính thế nào đểchúng bổ sung cho nhau, để thuốc có hiệu quả - tác phẩm phải hay: vừa có vị tiểuthuyết vừa có vị lịch sử” [184; 11 Ở đây, Goncourt nhấn mạnh đến tầm vóc vàsức hấp dẫn của lịch sử Theo ông, bản thân văn bản lịch sử đã là một dạng của

Trang 18

tiểu thuyết, còn TTLS là lịch sử của tương lai Người viết TTLS phải đủ tài năng

để nối kết quá khứ với tương lai qua lăng kính của hiện sinh

Nhìn chung, những nghiên cứu khái quát về TTLS của các tác giả nướcngoài chủ yếu tập trung vào việc xác định những ranh giới của lịch sử với TTLS.Các nghiên cứu đã làm r khái niệm TTLS, lý giải mối quan hệ giữa hiện thựclịch sử và hư cấu nghệ thuật, yêu cầu của bức tranh hiện thực được miêu tả trongthể loại TTLS, những đặc điểm làm cho một TTLS trở nên hấp dẫn bạn đọc…

1.1.1.2 Nghiên cứu về tiểu thuyết lịch sử ở Việt Nam

Việc nghiên cứu TTLS ở Việt Nam đã diễn ra từ lâu, với hàng trăm bài viết,chuyên luận, công trình có quy mô và chất lượng Các bài viết bao quát nhiều vấn

đề xung quanh TTLS như: tiến trình vận động, đặc điểm, diện mạo, đặc trưng thểloại TTLS, các khuynh hướng sáng tác trong TTLS, hiện thực và hư cấu trongTTLS, nhân vật trong TTLS…

* Về tiến trình vận động, đặc điểm, diện mạo và đặc trưng của TTLS: là các

vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm trong nhiều công trình, bài viết

Trong Phan Cự Đệ tuyển tập (tập 1), tác giả đã dành hẳn 30 trang để bàn về TTLS

Việt Nam thế kỷ XX, điểm qua tiến trình phát triển của thể loại này gắn với quanniệm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Ông khẳng định: “Trong quátrình sáng tác, các nhà tiểu thuyết lịch sử vừa phải tôn trọng các sự kiện lịch sử,vừa phải phát huy cao độ vai trò của hư cấu, sáng tạo nghệ thuật Nghiên cứu lịch

sử một cách công phu chính xác, đó là con đường của các nhà nghiên cứu hiệnthực chủ nghĩa” 41; 177]

Tác giả Lê Tú Anh trong công trình Văn xuôi Việt Nam hiện đại khảo cứu

và suy ngẫm, cũng đã đưa ra quan niệm về tiểu thuyết nói chung, TTLS nói riêng,

đồng thời đi sâu tìm hiểu TTLS Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX Lê Tú Anhđánh giá về cách thức sáng tạo của các tác giả TTLS giai đoạn này: “Tinh thầndân tộc trong việc lựa chọn đề tài và nội dung phản ánh được thể hiện r nét hơn ởcác tác giả viết thể loại tiểu thuyết lịch sử” 3; 18]

Trong Từ điển văn học (bộ mới), nhóm tác giả đã khái quát quá trình nảy

sinh, phát triển và phân nhánh của thể loại TTLS ở các nền văn học khác nhau.Đặc biệt, các tác giả phân tích khá k lưỡng sự nảy sinh và phát triển của thể loạinày ở các nền văn học Trung Quốc, châu Âu và Việt Nam Nghiên cứu thể loại

Trang 19

TTLS ở Việt Nam, nhóm tác giả đã trình bày khái quát các giai đoạn phát triển củathể loại này: thời trung đại, đầu thế kỷ XX - 1945, từ 1945 đến nay.

Năm 2012, Hội đồng Lý luận, Phê bình Văn học, Nghệ thuật Trung ương tổ

chức Hội thảo khoa học Sáng tạo văn học, nghệ thuật về đề tài lịch sử Hội thảo

đã tuyển chọn 60 bài phát biểu, tham luận của các nhà quản lý, nghiên cứu, lýluận, phê bình, các văn nghệ sĩ tham dự hội thảo Các bài viết đã làm r “nhữngnội dung lý luận và thực tiễn sáng tạo văn học nghệ thuật về đề tài lịch sử; đánhgiá những thành công và hạn chế trong hoạt động sáng tạo văn học, nghệ thuật về

đề tài lịch sử trong thời gian qua; lý giải quan hệ giữa sự thật lịch sử và hư cấunghệ thuật; quan hệ giữa sáng tạo văn học, nghệ thuật về đề tài lịch sử với cuộcsống đương đại ” 63; 7 Đồng thời, các tác giả đã đưa ra nhiều vấn đề lí luận cơbản, đặt mục tiêu giải quyết những vấn đề có tính thời sự trong thực tiễn sáng tác

về đề tài lịch sử Đặc biệt, công trình này tập hợp 22 bài viết đề cập tới sáng tạovăn học về đề tài lịch sử Trong đó có các bài viết đáng chú ý như: “Lịch sử như là

hư cấu - quan điểm sáng tạo mới về đề tài lịch sử” của Phan Tuấn Anh; “Tiểuthuyết lịch sử như một chiến lược tự sự thấm đầy cá tính nhà văn” của Nguyễn

Đăng Điệp; “Nhân đọc Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh nghĩ thêm về sáng

tạo văn học về đề tài lịch sử” của Trần Đăng Suyền; “Cần đổi mới suy nghĩ về lịch

sử và tiểu thuyết lịch sử của Trần Đình Sử; Sự thật lịch sử và hiện thực đời sống”của Nguyễn Tường Lịch…

Năm 2019, tạp chí Văn nghệ Quân đội và Trường Đại học Hồng Đức tổ chức Hội thảo khoa học cấp quốc gia Nghiên cứu và giảng dạy văn học về đề tài

lịch sử dân tộc Hội thảo đã ra kỷ yếu, với hơn 50 bài viết được cấu trúc thành ba

phần: Những nghiên cứu khái quát; Những nghiên cứu trường hợp; Những nghiên

cứu bàn về một số vấn đề trong dạy học văn học về đề tài lịch sử Nhìn chung, các

tham luận đều được thực hiện nghiêm túc, công phu và đầy tâm huyết Trong đó,đáng chú ý là các bài: “Tiểu thuyết quốc ngữ đầu thế kỷ XX: Cuộc “ra quân” đầutiên về đề tài lịch sử dân tộc” của Lê Tú Anh, “Truyện ngắn về đề tài lịch sử trongvăn học Việt Nam từ 1986 đến nay - xu hướng và thành tựu nổi bật” của Đinh TríDũng, “Đặc trưng thể loại tiểu thuyết lịch sử và các khuynh hướng tiểu thuyết lịch

sử Việt Nam đầu thế kỷ XXI” của Nguyễn Thị Tuyết Minh, “Những đối thoại tiêubiểu của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam trước diễn ngôn của sử gia” của V Thị

Trang 20

Minh Trang và Lê Thời Tân, “Khi lịch sử thuộc về cá nhân - Nhìn từ mối quan hệgiữa lịch sử và văn học trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ XXI” củaThái Phan Vàng Anh,…

Trong công trình Lịch sử và văn hóa, cái nhìn nghệ thuật Nguyễn Xuân

Khánh (tuyển tập các tham luận trong hội thảo khoa học về Nguyễn Xuân Khánh),

một lần nữa các tác giả đã thể hiện cái nhìn khách quan hơn về thành công cũngnhư hạn chế của tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh nói riêng và TTLS Việt Namđương đại nói chung Đáng chú ý là tham luận “Cái nhìn đa chiều về tiểu thuyếtlịch sử - văn hóa của Nguyễn Xuân Khánh” của Nguyễn Đăng Điệp Tác giả đãchỉ ra rằng: “Có người khẳng định, nhà văn có quyền tưởng tượng đến vô hạn vàtác phẩm của họ thực chất là cách cấu tạo lịch sử theo quan điểm cá nhân Tại đó,

có một thứ lịch sử khác (ngoại vi) so với lịch sử được thừa nhận (trung tâm), vàlịch sử, khi đi vào lãnh địa tiểu thuyết, phải được tổ chức trên cơ sở hư cấu vànguyên tắc trò chơi vốn là một đặc trưng của nghệ thuật” 124; 5-8 Đặc biệt, hộithảo đã mở ra nhiều cách hiểu mới về diễn ngôn lịch sử và khẳng định nhữngchuyển động của tiểu thuyết Việt Nam thời kì Đổi mới

Tác giả Nguyễn Thị Tuyết Minh với chuyên luận Tiểu thuyết lịch sử Việt

Nam sau 1975 đã đi sâu khái quát, khu biệt các loại hình nhân vật lịch sử, các

khuynh hướng tái tạo lịch sử cùng các phương thức tự sự của TTLS sau 1945 đếnnhững năm đầu thế kỉ XXI Tác giả không chỉ đưa ra quan niệm của mình vềTTLS mà còn khái quát tiến trình vận động của TTLS Việt Nam từ 1945 đến

2008 Nguyễn Thị Tuyết Minh cũng phân tích khá k tư duy tự sự lịch sử trongTTLS (cảm thức lịch sử, các khuynh hướng tái tạo lịch sử) và làm r các phươngthức nghệ thuật tự sự lịch sử (nghệ thuật trần thuật, nghệ thuật kết cấu, nghệ thuật

sử dụng ngôn ngữ) Nhìn chung, công trình đã tập trung dựng lại bức tranh toàncảnh về TTLS Việt Nam từ 1945 đến nay, đồng thời phân tích một số đặc điểm cơbản về nội dung tư tưởng cũng như hình thức nghệ thuật của thể loại 101] Trongquan niệm về TTLS, Nguyễn Thị Tuyết Minh cho rằng: “Tiểu thuyết lịch sử là loạihình tiểu thuyết lấy đề tài lịch sử làm nội dung chính Đối tượng của nó là nhânvật, sự kiện, thời kì hay tiến trình lịch sử Đó có thể là một quá khứ xa xôi hay mộtthời kì lịch sử đặc biệt Nó đòi hỏi người viết phải có kiến thức uyên bác, tỉ mỉ củamột nhà sử học, lại vừa có khả năng biến những tri thức đó thành nghệ

Trang 21

thuật Tiểu thuyết lịch sử nói chuyện xưa nhưng nhằm mục đích soi sáng nhữngvấn đề của hiện tại” 101; 28 Có thể thấy người viết không chỉ nói về chủ đề, đốitượng của TTLS, mà còn nhấn mạnh vai trò của người cầm bút.

Trong luận án tiến sĩ Tiểu thuyết Việt Nam từ những năm đầu thế kỷ XX đến

1945 – diện mạo và đặc điểm, Bùi Văn Lợi đã chỉ ra được những đặc điểm cơ bản

cả về nội dung cũng như nghệ thuật của TTLS Việt Nam từ thế kỷ XX đến 1945.Bên cạnh đó, tác giả còn đưa ra được những quan niệm về người anh hùng cứunước, về người phụ nữ anh hùng, đồng thời chỉ ra được mối quan hệ giữa tínhchân thực của lịch sử và hư cấu nghệ thuật Theo tác giả, TTLS tuy mượn đề tài

và lấy cảm hứng từ lịch sử nhưng vẫn không hề xa rời thực tại

Với luận án Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1986 dưới góc nhìn tự sự

học, Nguyễn Văn Hùng đã nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử dựa trên nền tảng lý

thuyết tự sự học hiện đại, thể hiện qua hình tượng người kể chuyện, điểm nhìn tự

sự, nghệ thuật tổ chức thời gian, kết cấu tự sự Luận án đã góp phần phác họa tiếntrình vận động, diện mạo của TTLS Việt Nam sau năm 1986, từ đó có cái nhìn đốisánh với TTLS giai đoạn trước nhằm tìm ra những đổi mới trong tư duy về thểloại, cảm thức, nghệ thuật viết tiểu thuyết cũng như vai trò, sứ mệnh của nhà văntrong sáng tạo về đề tài lịch sử Với công trình này, tác giả đã cho chúng ta thấyđược: “Cái nhìn về lịch sử của nhà văn giai đoạn này mang màu sắc và kinhnghiệm cá nhân r nét Các tiểu thuyết gia thiên về luận giải lịch sử hơn là mô tả,minh họa lịch sử Sự diễn giải ấy bao chứa quan niệm mới về lịch sử và diễn ngôn

về lịch sử” 72; 146]

Lê Thị Thu Trang trong luận án Đặc trưng nghệ thuật tiểu thuyết lịch sử

Việt Nam đầu thế kỷ XXI chỉ ra sự đổi mới quan niệm thể loại trong bối cảnh mới.

Công trình dựa vào khung chủ đề và kết cấu của tác phẩm để xác định một số xuhướng và dạng thức tiêu biểu của TTLS giai đoạn thập niên đầu thế kỉ XXI, nhậndiện một số kiểu nhân vật và phương thức xây dựng nhân vật, đồng thời chỉ ra sựvận động của thể loại này thông qua quan niệm nghệ thuật về con người Lê ThịThu Trang cho rằng: “Xét về mặt đặc trưng, TTLS là một “loại” thuộc thể loại tiểuthuyết nên tất yếu nó cũng mang những tố chất mĩ học của tiểu thuyết Song bêncạnh đó, xét về nội hàm khái niệm thì TTLS còn mang những đặc trưng riêng biệt

so với các loại hình tiểu thuyết khác: TTLS lấy đối tượng lịch sử làm nội dung và

Trang 22

cảm hứng sáng tạo nghệ thuật (…) Nhân vật trong TTLS vừa là nhân vật lịch sửvừa là nhân vật văn học (…) Hư cấu - phương thức tồn tại của TTLS ( ) TTLSdùng quá khứ làm phương tiện để đối thoại với hiện tại” [158; 10] Như vậy, vềđặc trưng thể loại, TTLS khác với các loại hình tiểu thuyết khác Bởi, tiểu thuyếtlịch sử lấy đối tượng lịch sử làm nội dung và cảm hứng sáng tạo nghệ thuật, nhânvật trong TTLS là nhân vật lịch sử…

Trong luận án Ba mô hình truyện lịch sử trong văn xuôi hiện đại Việt Nam,

Ngô Thanh Hải đã có những nghiên cứu khái quát về truyện lịch sử nói chung vàthể loại TTLS nói riêng Tác giả cũng đi sâu tìm hiểu về ba mô hình truyện lịchsử: truyền thuyết lịch sử, dụ ngôn lịch sử và giai thoại lịch sử Tác giả khẳngđịnh: “Ba mô hình truyện lịch sử không tồn tại tách rời mà có sự chuyển hóa,tương tác với nhau, là sản phẩm chủ đạo của một chủ thể gắn với thời đại, bốicảnh lịch sử, xã hội, văn hóa, hệ tư tưởng, quan điểm thẩm m , tư duy nghệ thuậtnhất định” 55; 5]

Tập trung nghiên cứu về Tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai, Đỗ Thị Nhàn đã

đi sâu phân tích, lý giải một số đặc trưng của TTLS Lan Khai như: cảm hứng sángtác, sự kiện lịch sử và thế giới nhân vật, để qua đó làm nổi bật quan niệm nghệthuật về con người và những nhân tố chi phối đến sáng tác của ông Luận án cũngchỉ ra được “một số phương thức và phương tiện biểu hiện nghệ thuật trong TTLScủa Lan Khai ở các bình diện như: nghệ thuật hư cấu, tổ chức kết cấu, việc lựachọn cốt truyện và sự kiện; kiến tạo chân dung nhân vật, vấn đề không gian vàthời gian, nghệ thuật trần thuật; ngôn ngữ và giọng điệu” 117; 3 Đỗ Thị Nhàncũng đã trình bày cách hiểu về TTLS như sau: “Tiểu thuyết lịch sử là sự kết hợpnhuần nhuyễn giữa những đặc trưng cơ bản của tiểu thuyết với những tài liệu của

sử học trên cơ sở lấy lịch sử làm đề tài và tôn trọng sự kiện, nhân vật lịch sử Tácphẩm đưa ra những kiến giải sâu sắc về lịch sử, về cuộc sống bù lấp vào nhữngkhoảng trống của sử học Trong tiểu thuyết lịch sử, hư cấu nhằm phản ánh lịch sử

ở cả bề rộng, bề sâu và làm sống động bức tranh lịch sử, tăng tính chân thực nghệthuật trong tiểu thuyết” 117; 8 Như vậy, TTLS phải có sự kết hợp giữa đặctrưng của tiểu thuyết với sự kiện và nhân vật lịch sử, phải có những kiến giải sâusắc về lịch sử và đặc biệt phải đảm bảo tính chân thực nghệ thuật trong tiểu thuyết

Trang 23

Trong công trình Hệ biểu tượng nghệ thuật cơ bản trong tiểu thuyết lịch sử

đương đại Việt Nam, Đoàn Thanh Liêm đã đi vào nghiên cứu một cách chuyên

sâu các hệ biểu tượng nghệ thuật cơ bản trong TTLS như hệ biểu tượng tự nhiên,

hệ biểu tượng con người, hệ biểu tượng văn hóa cộng đồng Từ đó góp phần bảotồn và phát huy các giá trị văn hóa, lịch sử dân tộc trong bối cảnh đất nước đổimới và hòa nhập quốc tế Trong chuyên luận của mình, Đoàn Thanh Liêm cũngnêu quan niệm về TTLS: “tiểu thuyết lịch sử là thể tài văn học có đặc thù riêng sovới các thể tài văn học khác Như tên gọi, thể tài văn học này có sự kết hợp chặtchẽ giữa hai thành tố lịch sử và tiểu thuyết, chất liệu hiện thực và đặc trưng phảnánh của loại hình nghệ thuật ngôn từ” 90; 26] Theo tác giả này, TTLS phải có sựkết hợp nhuần nhuyễn giữa lịch sử và tiểu thuyết

* Về mối quan hệ giữa hư cấu nghệ thuật và sự thật lịch sử Mối quan hệ

giữa hư cấu nghệ thuật và sự thật lịch sử luôn là vấn đề được nhiều người quantâm Mối quan hệ giữa văn chương và lịch sử là sự thẩm thấu, hòa quyện vàonhau Phan Cự Đệ cho rằng, khó có sự phân biệt giữa văn và sử: “trong tiểu thuyếtlịch sử, sự kiện lịch sử và sự kiện hư cấu, nhân vật lịch sử và nhân vật sáng tạotrộn lẫn vào nhau, vì thế khó lòng bảo đảm một sự chính xác lịch sử đến mức tuyệtđối” 40; 62 Đồng quan điểm với Phan Cự Đệ, Lê Tú Anh cũng cho rằng: “sựthật của tiểu thuyết không phải thật 100% Tuy nhiên, hư cấu không có nghĩa làbịa đặt một cách tùy tiện, thiếu cơ sở” 3; 20-21]

Trong bài viết Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại - phác họa một số xu

hướng chủ yếu, Nguyễn Văn Dân cũng nhận định: “Trong tiểu thuyết lịch sử, nghệ

thuật hư cấu chính là lĩnh vực chủ yếu để nhà văn thể hiện sự sáng tạo của mình,làm cho tác phẩm đúng là một cuốn tiểu thuyết và làm cho tiểu thuyết lịch sử khácvới một công trình sử ký Các sự kiện hư cấu cũng còn là sự thể hiện quan điểmcủa tác giả đối với lịch sử” Ông còn nhấn mạnh đến tính đặc thù của TTLS khiđặt nó trong sự so sánh: “hư cấu trong tiểu thuyết lịch sử có một nét đặc thù riêng,không giống với hư cấu của tiểu thuyết nói chung Tiểu thuyết lịch sử phải căn cứvào sự kiện và nhân vật lịch sử có thật, cho nên dù có hư cấu thì cũng chỉ có thểtạo ra sự kiện giống như “chất phụ gia” cho lịch sử chứ không thể làm sai lệch lịchsử” [28] Ở đây, Nguyễn Văn Dân nhấn mạnh đến mức độ và giới hạn của hư cấutrong sáng tác TTLS

Trang 24

Trong bài “Lịch sử trong tiểu thuyết, một tùy tiện ý thức”, Trần Vũ cũng đãđặt ra vấn đề về mối quan hệ giữa sự thật lịch sử và hư cấu nghệ thuật Hay trong

“Vấn đề hư cấu và giải thiêng trong tiểu thuyết lịch sử”, Bình Nguyên cũng đã đưa

ra một số kiến giải mới về mối quan hệ giữa hư cấu nghệ thuật và tính chân thựclịch sử Theo ông, TTLS “mang lại nhiều cách tiếp cận, cách kiến giải lịch sử…giúp đẩy lùi khuynh hướng ca ngợi một chiều, thần thánh hóa quá mức, khiến chocác nhân vật lịch sử trở nên xơ cứng, ít mang ý nghĩa giáo dục hay người đọc cóthể hoài nghi về sự tồn tại của chính các nhân vật đó” 175] Những bài viết nàyđều chỉ ra giới hạn của sự sáng tạo trong TTLS và vai trò của hư cấu làm lịch sửthăng hoa qua nghệ thuật tiểu thuyết

Trong bài “Những tranh luận về văn xuôi hư cấu lịch sử và sự chuyển biếncủa tư tưởng”, Đỗ Hải Ninh đã đưa ra nhiều luận điểm xung quanh mối quan hệgiữa chân lý lịch sử và hư cấu nghệ thuật Đó là: “Văn xuôi hư cấu lịch sử lànhững tác phẩm mang tính hư cấu dựa trên nền lịch sử (2), chính vì vậy nhữngcuộc tranh luận thường xuất phát từ hai điểm cơ bản: a - mức độ chân thực so với

sự thật lịch sử (chính sử) và b - sự vênh lệch so với nhận thức/ quan điểm chungcủa cộng đồng” Chính vì vậy, hư cấu nghệ thuật là vấn đề không thể thiếu trongtiểu thuyết lịch sử, bởi “hư cấu lịch sử vốn là một thách thức không nhỏ với nhàvăn bởi vì chạm vào lịch sử tức là đối diện với sự thật, cái đã xảy ra, được nhiềungười biết đến, đòi hỏi nhà văn vốn kiến thức phong phú Đồng thời nó cũng đòihỏi sự từng trải và bản lĩnh nghệ thuật bởi qua thời gian, lịch sử được tích tụ lạitrong văn hóa, gắn với tâm thức dân tộc, cộng đồng” Từ đó, tác giả đưa ra yêucầu của nhà văn khi sáng tác về đề tài lịch sử: “để hư cấu lịch sử nhuần nhuyễnnhà văn phải am tường lịch sử Hơn thế nữa, khác với sử gia, nhà văn tái tạo lịch

sử bằng chất liệu nghệ thuật để khám phá cái có thể xảy ra với kiến giải của cánhân Khám phá và lý giải lịch sử bằng cái nhìn của cá nhân nên lịch sử trongquan niệm của nhà văn sẽ không trùng khớp với quan niệm của cộng đồng vàkhông tránh khỏi sự “sai lệch tất yếu” 109] Đồng thời tác giả cũng lưu ý ngườiđọc rằng, mỗi cách hư cấu lịch sử đều có thể gợi mở một hướng giải mã tác phẩm

Có thể thấy, một mặt Đỗ Hải Ninh khẳng định hư cấu nghệ thuật là yếu tố khôngthể thiếu trong sáng tác văn xuôi về đề tài lịch sử, một mặt nhấn mạnh đến cáchthức hư cấu trong TTLS luôn có tính đặc thù

Trang 25

Hoàng Minh Tường trong bài “Tiểu thuyết lịch sử và thông điệp của nhàvăn”, đã bày tỏ quan niệm: “nhà văn không thay thế được sử gia nhưng có thể bùlấp những khoảng trống của lịch sử Nhà văn bằng thiên tư của mình chiếu rọi vàolịch sử cái nhìn nhân văn làm cho lịch sử được tái tạo lại với một tầm vóc vũ trụnhư nó vốn có Trong một ý kiến khác cho rằng nhà văn viết về lịch sử có quyền

hư cấu, tưởng tượng, thậm chí sáng tạo thêm nhân vật, sự kiện để làm sáng tỏ lịch

sử, soi rọi lịch sử nhưng không thể bóp méo hay bịa tạc lịch sử một cách phi logic,theo ngẫu hứng riêng của mình” 168] Bùi Văn Lợi với bài “Mối quan hệ giữatính chân thực lịch sử và hư cấu nghệ thuật trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam nửa

đầu thế kỷ XX”, đăng trên Tạp chí Văn học số 9/1999 cũng có những phát hiện

độc đáo về kiểu hư cấu hoàn toàn vì lý tưởng của người viết, có kiểu bán hư cấu,tôn trọng sự thật trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX… Trong bàiviết “Lịch sử như là hư cấu - Quan niệm sáng tạo mới về đề tài lịch sử”, PhanTuấn Anh cũng cho rằng: “Sáng tạo lịch sử dẫu có tự do và dân chủ đến mức nào

đi chăng nữa, cũng không phải là không có giới hạn Mọi sáng tạo và hư cấu về đềtài lịch sử luôn phải dựa trên cứ liệu sử học (mốc thời gian, nhân vật lịch sử, ýnghĩa lịch sử) Dẫu bổ sung, tái hiện quan niệm, giải thiêng hoặc thậm chí phủđịnh, thì r ràng những sáng tạo văn học vẫn cần có sử học như một đối tượng đểđối thoại” Tác giả nhấn mạnh thêm rằng: “Nếu không có sử học sẽ không có vănhọc (viết về đề tài lịch sử), sử học dù có thể cũng mang tính chủ quan, cũng là mộtloại hình diễn ngôn, nhưng bản thân giữa sử học và văn học khác xa về mặt bảnchất Văn học xem trọng hư cấu, lấy hư cấu làm giá trị, sử học xem trọng biênniên sự kiện/sự thật lịch sử, lấy sự thật làm giá trị” 4 Theo nhận định của tácgiả, sáng tạo văn học về đề tài lịch sử phải xem trọng vai trò của hư cấu Tuynhiên, hư cấu phải nằm trong những giới hạn nhất định và lịch sử luôn là chất liệu

cơ bản trong quá trình sáng tác

Trả lời phỏng vấn báo Sài Gòn Giải phóng ngày 25/08/2013, Hoàng Quốc

Hải cho rằng: “lịch sử đối với nhà văn chỉ là cái cớ”, vì thế “tiểu thuyết lịch sửphải lấy hư cấu làm phương tiện nghệ thuật” Vấn đề là phải hư cấu như thế nàođạt đến chân thực lịch sử và chân thực cuộc sống Chân thực đến mức người đọcphải thừa nhận đây mới là lịch sử Do đó, nhiệm vụ của nhà văn viết về lịch sử làgiải mã lịch sử chứ không lặp lại các thông tin lịch sử Các thông tin lịch sử và

Trang 26

ngay cả các nhân vật lịch sử cũng chỉ là chất liệu, là phương tiện để nhà văn xâydựng tác phẩm…” 54 Trong cuộc trao đổi bằng thư với Nguyễn Mộng Giác về

TTLS, Nam Dao đã chia sẻ về cách viết tiểu thuyết Gió lửa của ông: "Cái khung

lịch sử đó được sử dụng như phương tiện cấu tạo tiểu thuyết và sau đó thì tiểuthuyết là phương tiện để tác giả thể hiện những tư duy, biện minh và dư phóng chochủ đề lịch sử " 25 R ràng, ở đây Nam Dao chú trọng vào hai vấn đề chính:cái khung lịch sử được dùng làm phương tiện cấu tạo, chủ đề lịch sử được tái hiệntrên ba không gian: quá khứ, hiện tại và tương lai Đây là một luận điểm rất đượcchúng tôi chú ý trong quá trình hoàn thành luận án

Luận án Vấn đề hư cấu nghệ thuật trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương

đại (khảo sát tác phẩm của Hoàng Quốc Hải, Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn

Quang Thân, Nguyễn Mộng Giác) của Đoàn Thị Huệ là công trình đầu tiên nghiêncứu một cách công phu, toàn diện các biểu hiện của vấn đề hư cấu nghệ thuậttrong TTLS Việt Nam đương đại trên các phương diện như: hư cấu trong nghệthuật xây dựng người kể chuyện và nhân vật, hư cấu trong nghệ thuật tổ chức kếtcấu, lời văn nghệ thuật trong tác phẩm Luận án đã góp phần làm sáng tỏ thêm vấn

đề hư cấu nghệ thuật trong TTLS Việt Nam đương đại nói riêng và trong tự sựtiểu thuyết nói chung, từ đó góp phần xử lý linh hoạt, hiệu quả mối quan hệ giữa

sự thật lịch sử với hư cấu nghệ thuật trong bút pháp sáng tạo nghệ thuật của nhàvăn, tạo điều kiện thuận lợi cho người nghiên cứu, phê bình văn học, nhận địnhđúng thành tựu và xu hướng vận động của TTLS Việt Nam đương đại [67]

Ngoài những công trình đã nêu, còn rất nhiều bài viết khác nghiên cứuvấn đề hư cấu trong tiểu thuyết được đăng tải trên các tạp chí, kỉ yếu, như: “ Quátrình cá nhân hóa hư cấu - Tự sự đương đại Việt Nam về đề tài lịch sử” củaPhạm Xuân Thạch, “Tiểu thuyết lịch sử - hướng tiếp cận mới và vấn đề hư cấunghệ thuật” của Đoàn Đức Phương, “Mối quan hệ giữa hiện thực lịch sử và hư

cấu văn học” của Nguyễn Huy Thông; Như thế nào là đủ? của Thanh Ngọc,

“Lịch sử trong văn chương, hư cấu nhưng không được sai lệch của Bảo Thoa;Không tùy tiện hư cấu lịch sử” của Phan Kỷ, “Tiểu thuyết lịch sử và giới hạn hưcấu” của Hà An, Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại - Hiện tại và hư cấu” củaNguyễn Văn Dân, “Sự thật lịch sử và hư cấu nghệ thuật” của Đỗ Ngọc Yên…Tựu trung, các nhà nghiên cứu đều đánh giá cao vai trò của hư cấu trong

Trang 27

tiểu thuyết lịch sử Tuy nhiên, mức độ hư cấu đến đâu, ở những giới hạn nào thìvẫn chưa có sự thống nhất.

Về nhân vật trong tiểu thuyết lịch sử Có khá nhiều công trình đề cập đến

nhân vật trong TTLS Với bài viết “Nhân vật lịch sử và những biên độ sáng tạosau đổi mới”, Nguyễn Văn Hùng đã dẫn dắt hai trong bốn nguyên lí tiếp cận và

xử lí lịch sử của Milan Kundera: nguyên lí thứ 2 - tạo tình huống hiện sinh tiêubiểu, mới mẻ cho nhân vật tiểu thuyết và nguyên lí thứ 4 - lịch sử của con ngườichứ không phải là lịch sử của xã hội Tác giả đã rút ra kết luận: nhân vật là nơithử thách và cũng là nơi khẳng định r nhất bản lĩnh, tài năng, phong cách, cátính sáng tạo của mỗi nhà văn Và đó cũng là một trong những bình diện thể hiệnsinh động nhất giới hạn trong biên độ sáng tạo, hư cấu, tưởng tượng của ngườinghệ sĩ Từ đó, ông đưa ra những lí giải, phân tích về nhân vật lịch sử trong vănxuôi lịch sử sau đổi mới: 1 Nhân vật lịch sử - câu chuyện không mới nhưngluôn “nóng” trên văn đàn Việt; 2 Nhân vật lịch sử và những biên độ sáng tạo; 3.Nhân vật lịch sử: một mẫu hình nhiều “phiên bản” 74]

Trong bài “Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam với quan niệm nghệ thuật về conngười”, Nguyễn Thị Kim Tiến cũng cho rằng: “Để giải quyết mối quan hệ sự thật

và hư cấu phần đông các nhà văn đã lựa chọn giải pháp lấy tâm điểm là con người

để tiếp cận, soi chiếu qua quan niệm nghệ thuật về con người, biến con người làmmục đích chuyển tải giá trị tư tưởng dưới “lớp bọc” của đường viền lịch sử, giúp

họ có cơ hội “chất vấn”, nhận thức cái tưởng như đã là chân lý của lịch sử nhưngvẫn đảm bảo quyền toàn bích của việc sáng tạo hư cấu Chính yếu tố này đã khiếnviệc cắt nghĩa con người biểu hiện qua nhân vật cũng đi theo hai chiều hướng”: 1.Con người đối thoại với lịch sử; 2 Kết nối với hiện tại 153] Với bài viết “Nghệthuật biểu hiện phương diện đời tư thế sự của nhân vật lịch sử trong tiểu thuyếtlịch sử Việt Nam đương đại”, Đoàn Thị Huệ đã chỉ ra một số phương diện nghệthuật như: nhạt dần cảm hứng sử thi khi miêu tả nhân vật lịch sử; tái tạo vẻ đẹpngoại hình nhân vật lịch sử; nội soi vẻ đẹp nội tâm nhân vật lịch sử Người viết đãkhảo sát tác phẩm của Hoàng Quốc Hải, Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn MộngGiác, Nguyễn Quang Thân để chứng minh cho những luận điểm của mình [66].Nguyễn Khắc Phê với bài viết “Nhân vật trung tâm và quyền sáng tạo của nhàvăn” đã có những phân tích khá sâu sắc về sự lựa chọn của các nhà văn đối với

Trang 28

nhân vật lịch sử Điều dễ thấy là hầu hết TTLS đều dựa vào những nhân vật nổitiếng, có công lao, đã được xã hội tôn vinh Về quyền sáng tạo của nhà văn, “đã

là tiểu thuyết thì tất phải hư cấu, nói nôm na là nhà văn có quyền tưởng tượngnhững điều chưa ai biết đến nhưng “có thể có thật” TTLS cũng vậy, nếu không,

đó chỉ là “chuyện danh nhân” Với cuộc đời một nhân vật, hay một sự kiện dùlớn đến đâu, dù sử sách, báo chí viết nhiều đến cỡ nào, thì cũng chỉ mới phảnánh được một phần vạn, phần ngàn toàn bộ cuộc đời họ” 131 …

Trong chuyên luận Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1945, Nguyễn Thị

Tuyết Minh cho rằng: “Đối với một cuốn tiểu thuyết lịch sử, nhân vật là nơi thửthách và cũng là nơi khẳng định tài năng của nhà văn r nhất Nhà văn phải bồi dađắp thịt để phục sinh nhân vật có khi chỉ trừ một cái tên, một dòng chữ khắc trênbia đá lịch sử Nhà văn phải thổi sức sống cho nhân vật, làm cho nhân vật lịch sửnhư đang đi lại, nói năng, buồn vui thật như cuộc đời để phục vụ tư tưởng nghệthuật của mình Nhân vật thành công là nhân vật không quá xa lạ với người đọc

mà vẫn phù hợp với thời đại lịch sử mà nó đã sống” 100; 117 Từ quan điểmnày, tác giả phân nhân vật trong TTLS Việt Nam thành bốn loại hình chủ yếu: 1.Nhân vật mang khát vọng lịch sử; 2 Nhân vật có số phận trong dòng lịch sử; 3.Nhân vật biểu tượng; 4 Nhân vật lưỡng diện - đa diện

Luận văn thạc sĩ Nhân vật trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ 1986 đến

nay của Nguyễn Chương M Bình là công trình nghiên cứu chuyên biệt về nhân

vật trong TTLS giai đoạn sau 1986 Tác giả đã khảo sát hầu hết tác phẩm đạt cácgiải thưởng lớn và được các nhà nghiên cứu phê bình quan tâm Chương Thị MBình đã đưa ra quan niệm về thể loại tiểu thuyết lịch sử và nhân vật trong TTLS;làm r một số phương diện đặc điểm nội dung của nhân vật, đặc trưng nghệ thuậtcủa nhân vật từ nguyên mẫu đến hư cấu trong TTLS Việt Nam đương đại

Bàn về nhân vật trong TTLS còn rất nhiều bài viết đăng trên các tạp chí,luận văn thạc sĩ của các trường đại học Hầu hết các công trình đều tập trung kháiquát những đặc điểm về nội dung và phương thức nghệ thuật khi xây dựng nhânvật lịch sử góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý thuyết về nhân vật trong TTLSnói riêng và trong văn học nói chung

Về các tác phẩm và tác giả tiểu thuyết lịch sử Bên cạnh những nghiên cứu

khái quát về TTLS, còn có khá nhiều cuộc tọa đàm, công trình nghiên cứu, bài

Trang 29

viết về các tác phẩm và tác giả tiểu thuyết lịch sử cụ thể Riêng tác giả NguyễnXuân Khánh cũng đã có rất nhiều công trình nghiên cứu và hội thảo đáng chú ý

như: Hội thảo về tiểu thuyết Hồ Quý Ly (Báo Văn nghệ số 44/2000); “Tiểu thuyết

Hồ Quý Ly; thưởng thức và cảm nhận” của Hoàng Cát; “Hồ Quý Ly và những giải

pháp mới cho tiểu thuyết lịch sử nước nhà” của Trung Trung Đỉnh; “Hồ Quý Ly” của Lại Nguyên Ân; “Vấn đề xây dựng nhân vật lịch sử trong tiểu thuyết Hồ Quý

Ly của Nguyễn Xuân Khánh” của Nguyễn Thị Thu Hương; “Nguyễn Xuân Khánh

tuổi 74 và cuốn tiểu thuyết mới” của Quỳnh Châu; “Về những cách tân nghệ thuật

trong Hồ Quý Ly” của Lã Nguyên; “Tính khả dụng của Nho giáo trong đời sống đương đại (qua diễn ngôn Hồ Quý Ly) và Cảm thức “Vô úy” trong Đội gạo lên

chùa của Nguyễn Xuân Khánh” của Lê Tú Anh; “Phương thức lựa chọn và thể

hiện hiện thực lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh” của Nguyễn VănHùng; “Yếu tố huyền thoại trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh” của Nguyễn

Thị Thu Hương; “Diễn ngôn lịch sử trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly của Nguyễn

Xuân Khánh” của Trương Thị Nhung; “Lịch sử và văn hóa, cái nhìn nghệ thuậtNguyễn Xuân Khánh” do Nguyễn Đăng Điệp (chủ biên),… Những nghiên cứutrên đã mổ xẻ nhiều vấn đề, nhiều phương diện khác nhau về các tác phẩm của

Nguyễn Xuân Khánh Riêng tiểu thuyết Hồ Quý Ly, các công trình nghiên cứu

cũng đã ghi nhận những thể nghiệm mới mẻ về lối viết TTLS của tác giả này Đa số

ý kiến khẳng định rằng, tác phẩm ông đã đáp ứng yêu cầu tái hiện lịch sử nhưngvẫn rất sáng tạo trong nghệ thuật tiểu thuyết và xây dựng hình tượng nhân vật bằng

lối viết có chủ kiến Còn với Mẫu Thượng Ngàn và Đội gạo lên chùa, các bài viết

đã xoay quanh vấn đề về lịch sử và văn hóa phong tục được luận giải trong tácphẩm Mặc dù hiện nay còn một số băn khoăn khi xếp các tiểu thuyết này vào thểtài tiểu thuyết lịch sử, song nhiều ý kiến thống nhất cho rằng, đây là một thểnghiệm nhằm mở rộng biên độ của thể loại, tìm kiếm “hình hài” mới cho TTLS.Các bài viết đều khẳng định, Nguyễn Xuân Khánh có ý thức vượt thoát khỏi chiếc

áo có phần chật hẹp của các sự kiện, biến cố lịch sử, đẩy Mẫu Thượng Ngàn, Đội

gạo lên chùa về phía văn hóa phong tục, tín ngưỡng dân tộc.

Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác cũng là một tác phẩm thu hút

nhiều sự chú ý của các nhà nghiên cứu Khi tác phẩm mới xuất hiện, người ta đã

hình dung sự manh nha của một trào lưu TTLS Sông Côn mùa lũ đã được công

Trang 30

chúng và giới nghiên cứu phê bình đánh giá cao Có thể kể đến các bài viết như:

“Sông Côn mùa lũ một cuốn tiểu thuyết lịch sử công phu” của Nguyễn Khắc Phê,

“Sông Côn mùa lũ - trường thiên tiểu thuyết của nhà văn Việt kiều Nguyễn Mộng Giác”, “Sông Côn mùa lũ - con sông của những số phận đời thường và số phận

lịch sử” của Mai Quốc Liên, “Tiểu thuyết lịch sử” của Phan Cự Đệ, “Nhân đọc

Sông Côn mùa lũ” của Nguyễn Vy Khanh… Các bài viết đã phần nào khẳng định

tài năng của Nguyễn Mộng Giác, nhấn mạnh vai trò sáng tạo của nhà văn trongviệc khám phá tâm hồn, đời tư của nhân vật lịch sử; khẳng định nhân cách văn hóaViệt trong cái nhìn lịch sử - văn hóa của ông…

Giàn thiêu của V Thị Hảo cũng là một sáng tác được giới nghiên cứu phê

bình quan tâm Tác phẩm này đã giúp “V Thị Hảo bứt phá khỏi lối đi đã quenthuộc” và trở thành một trong những nhà văn tiêu biểu của nền văn xuôi đươngđại Trong các nghiên cứu như: “Những thông điệp từ lửa và nước” của Trần

Khánh Thành, “Giàn thiêu - một nghệ thuật làm tan khối băng lịch sử” của Nguyễn Hoài Nam, “Giàn thiêu của V Thị Hảo” của Lê Thanh Nga, “Tiểu thuyết

và lịch sử (nhân đọc Giàn thiêu của V Thị Hảo)” của Lại Nguyên Ân, “Yếu tố liên văn bản trong tiểu thuyết Giàn thiêu (Văn học hậu hiện đại - diễn giải và tiếp nhận)” của Nguyễn Văn Hùng, “Đọc Giàn thiêu của V Thị Hảo - chơi với người

chơi lửa” của Nguyễn Quang Huy… Các bài viết đã khẳng định được tài năngnghệ thuật của V Thị Hảo qua tiếp cận tác phẩm ở nhiều góc độ khác nhau: ýthức nữ quyền, yếu tố kì ảo, liên văn bản

Hội thề của Nguyễn Quang Thân, tác phẩm đoạt giải A trong cuộc thi tiểu

thuyết lần thứ III (2006 - 2009) của Hội Nhà văn cũng thu hút sự chú ý của diễnđàn nghiên cứu phê bình văn học Tác phẩm đã tạo ra một cuộc tranh luận gay

gắt Xuất hiện nhiều bài viết mang tính phản biện, tranh luận quanh Hội thề Có

thể kể đến: “Hội thề - tiểu thuyết lịch sử hay phản lịch sử, Nguyễn Quang Thân

cho các tướng lĩnh Lam Sơn theo Mao khí sớm” của Trần Mạnh Hảo, “Đọc Hội

thề” của Phạm Viết Đào, “Kinh ngạc khi Hội Nhà văn tôn vinh cuốn tiểu thuyết Hội thề” của Từ Quốc Hoài, “Thẩm bình Hội thề” của Vương Quốc Hoa, “Về Hội thề” của Trần Hoài Dương,… Trước những ý kiến trái chiều về giá trị của tác

phẩm, nhiều tác giả đã lên tiếng bảo vệ Hội thề, cụ thể như: “Hội thề, một cách

nhìn về lịch sử của Hoài Nam, “Trớ trêu trí thức, bẽ bàng tình nhân” của

Trang 31

Văn Hồng, “Đọc Hội thề” của Trần Thanh Giảng, “Hội thề - đau đáu thế sự, tình đời của V Min, “Trong tiếng người xưa vẫn vọng về” của Ngô Thị Kim Cúc, “Hội

thề: Lịch sử và tiểu thuyết” của Lê Thành Nghị, “Mấy vấn đề chủ yếu trong tiểu

thuyết lịch sử Việt Nam đương đại” (Nguyễn Văn Dân),… Qua các công trình có

thể thấy: Hội thề đặt những dấu ấn nhất định trong việc “luận giải lịch sử” bằng

quan điểm và kinh nghiệm cá nhân nhà văn

Bão táp triều Trần (6 tập) và Tám triều vua Lý (4 tập) của Hoàng Quốc

Hải cũng là những tác phẩm nhận được nhiều sự quan tâm bình giá của các đồngnghiệp, nhà nghiên cứu văn học, các nhà nghiên cứu lịch sử Trong đó, đáng chú

ý là các công trình khảo cứu như: “Nhà văn Hoàng Quốc Hải người viết lịch sử

bằng văn” của Đào Bá Đoàn, “Bão táp Triều Trần tác phẩm và dư luận” của

nhiều tác giả, “Nhà văn Hoàng Quốc Hải” của Phùng Văn Khai, “Đọc tiểu thuyếtlịch sử của Hoàng Quốc Hải” của Hoàng Tiến, “Nhà văn Hoàng Quốc Hải và cácnhân vật lịch sử” của Phùng Văn Khai, “Về tiểu thuyết lịch sử triều Trần củaHoàng Quốc Hải và quan niệm về nhân vật anh hùng” của Hoài Anh; “Nhà vănHoàng Quốc Hải: Tái hiện thời Lý - Trần qua hơn 4000 trang tiểu thuyết” củaBằng Việt, “Suy ngẫm về bộ tiểu thuyết lịch sử thời Trần” của Hoàng Quốc Hảicủa Hoàng Công Khanh, “Nhà văn Hoàng Quốc Hải trái tim đập thăng trầm cùng

các nhân vật lịch sử” của Phùng Văn Khai, “Bộ tiểu thuyết Bão táp triều Trần

của Hoàng Quốc Hải một sự tái tạo lịch sử đáng tin cậy” của Đinh Công Vĩ,…

Bên cạnh đó, Tám triều vua Lý, bộ sách đồ sộ (3509 trang in khổ 14,5 x 20,5 cm) được xuất bản đúng dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội cũng nhận

được nhiều sự quan tâm của văn đàn Trong đó có một số bài viết tiêu biểu như:

“Tám triều vua Lý - Bão táp triều Trần hai bộ tiểu thuyết lịch sử đầy giá trị của nhà văn Hoàng Quốc Hải” của Phùng Văn Khai, “Tám triều vua Lý” của Minh Ngọc, “Tám triều vua Lý” của Minh Hiếu, “Vương triều Lý dưới góc nhìn của tiểu thuyết gia Hoàng Quốc Hải” của Đặng Văn Sinh, “Tám triều vua Lý của Hoàng

Quốc Hải từ góc nhìn thể loại” của Nguyễn Thị Yến… Các bài viết đã đánh giá,nhận định về cá tính sáng tạo, phong cách riêng của tác giả cũng như những thủpháp nghệ thuật làm nên thành công của các tác phẩm Dưới con mắt của một sốnhà nghiên cứu, sự thành công của tiểu thuyết gia này được nhìn nhận ở khíacạnh tôn trọng tính khách quan, tái hiện chân thực nhân vật, sự kiện lịch sử, từ

Trang 32

chân lí lịch sử thăng hoa thành sự thực nghệ thuật Nhà văn Hoàng Tiến còn

khẳng định Bão táp triều Trần và Tám triều vua Lý là tác phẩm mang sứ mệnh

“nối kết quá khứ với hiện tại” Bên cạnh đó còn có một số bài viết quan tâm đếnphương diện tái hiện nhân vật lịch sử và cái nhìn tiểu thuyết đối với nhân vậttrong tiểu thuyết của Hoàng Quốc Hải

Gió lửa, Đất trời, Bể dâu của Nam Giao cũng là những tác phẩm tạo dấu ấn

đậm nét với công chúng yêu văn chương và giới nghiên cứu lí luận phê bình Có

thể điểm qua một số công trình và bài viết đáng chú ý về những sáng tác này: Tiểu

thuyết lịch sử Gió lửa của Nam Giao của Trương Văn Quỳnh; “Gió lửa: mô hình

xã hội học, tiểu thuyết lịch sử” của Phạm Trọng Luật,… Các bài viết đã chỉ ranhững đóng góp của Nam Dao vào sự phát triển của thể loại và văn xuôi nướcnhà Với quan niệm và cách tiếp cận mới về lịch sử, tác giả đã đem đến cho ngườiđọc những trải nghiệm lí thú qua từng trang viết sống động về các thời kì lịch sửcủa dân tộc

Với sự thành công của ba cuốn tiểu thuyết: Nguyễn Du (2010, giải A giải thưởng Văn học nghệ thuật Hồ Xuân Hương); Khúc hát những dòng sông (2013,

giải Ba cuộc thi Sáng tác, quảng bá tác phẩm Văn học, Nghệ thuật và Báo chí về

chủ đề Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh); Thông reo ngàn

Hống (2015, giải A giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam); Đường về Thăng Long (2019, giải tư - giải thưởng văn học Hội Nhà văn Việt Nam), Nguyễn Thế

Quang đã trở thành một hiện tượng “mới” trong dòng TTLS đương đại Có khánhiều công trình nghiên cứu về tác giả và tác phẩm của Nguyễn Thế Quang như:

“Đọc Nguyễn Du - tiểu thuyết lịch sử” của Yến Nhi, “Nguyễn Du - Lịch sử và tiểu

thuyết” của Bùi Công Thuấn; “Nguyễn Du - Từ cuộc đời đến tiểu thuyết” của LêThái Phong và Nguyễn Sĩ Đại; “Nguyễn Thế Quang và ba cuốn tiểu thuyết lịch sửvừa xuất bản” của Nguyễn Khắc Phê; Lê Thanh Nga: “Nguyễn Thế Quang, những

chuyện kể bất tận về mẹ (nhân đọc Khúc hát những dòng sông)… Các bài viết đã

chỉ ra những đóng góp ấn tượng của Nguyễn Thế Quang cho nền văn xuôi nướcnhà Ông được đánh giá không chỉ là người tái tạo những biến động lịch sử mộtthời đã qua mà còn “biến lịch sử thành cái cớ để gửi đến con người hiện tại nhữngthông điệp về giá trị đạo đức tinh thần”…

Trang 33

Sau khi gây được tiếng vang lớn từ tác phẩm Búp sen xanh, Sơn Tùng tiếp

tục đã cho ra đời nhiều TTLS viết về Hồ Chí Minh Giới nghiên cứu phê bình đãghi nhận những đóng góp của ông đối với thể loại TTLS cũng như công trìnhnghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh với rất nhiều bài viết, công trình khoa học.Đáng chú ý là chuyên luận: “Hiện tượng Sơn Tùng trong văn học Việt Nam hiệnđại” của nhóm tác giả Hằng Thi, Thiên Sơn, Lưu Việt Quang (sưu tầm và biênsoạn) Chuyên luận với gần 200 bài viết đã có những đánh giá cao về cuộc đời vànhững đóng góp của nhà văn Sơn Tùng cho văn học Việt Nam nói chung, TTLSViệt Nam nói riêng Đặc biệt, các bài viết đã giúp người đọc có cái nhìn mới hơn,toàn diện hơn về con người Hồ Chí Minh

Ngoài những công trình nghiên cứu về các tác giả, tác phẩm nói trên còn córất nhiều bài viết của nghiên cứu sinh, các học viên cao học trong cả nước, đề tàinghiên cứu khoa học tại các trường đại học về TTLS Việt Nam sau 1975 Có thể

kể đến: “Ngôn ngữ và giọng điệu trong tiểu thuyết Hội thề của Nguyễn QuangThân” của Phan Trọng Hoàng Linh, “Hình tượng nhân vật Lê Lợi trong tiểu

thuyết lịch sử Hội thề của Nguyễn Quang Thân” của Nguyễn Văn Hùng, “Bi kịch

về nỗi cô đơn của người trí thức trong tiểu thuyết lịch sử Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh và Hội thề của Nguyễn Quang Thân” của Nguyễn Thị Hương Quê, Lời giới thiệu Tây Sơn bi hùng truyện của Hoàng Minh Tường, “Lại bàn về chuyện đọc sử, đọc văn Hoàng Quốc Hải trong bài Đôi điều về Tây Sơn bi hùng

truyện” của Nguyễn Hòa,… Bên cạnh đó, còn khá nhiều luận văn, đề tài nghiên

cứu về TTLS từ góc nhìn thi pháp học, tự sự học, phân tâm học, văn hóa học, tiếpnhận văn học… Hầu hết các công trình tập trung khai thác và làm sáng tỏ quanniệm về thể loại và quan niệm sáng tác của nhà văn cùng những đặc trưng nghệthuật của các tác phẩm trên các phương diện như: cảm quan và tư duy tự sự lịchsử; lằn ranh giữa hiện thực lịch sử và hư cấu nghệ thuật; phương thức thể hiệnhiện thực lịch sử từ góc độ trần thuật; diễn ngôn lịch sử,… Các ý kiến nhìnchung khá đa dạng và sinh động, đều khẳng định tiềm năng, thành tựu và hạnchế của TTLS trong đời sống văn học Việt Nam đương đại

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về TTLS, về các tác giả, tác phẩm

cụ thể đã tập trung làm r các vấn đề sau:

1 Thế nào là TTLS?

Trang 34

2 Vai trò của yếu tố lịch sử trong sáng tác TTLS.

3 Yếu tố hư cấu, giới hạn và phương thức hư cấu trong sáng tác TTLS

4 Những nét nổi bật trong phương thức xây dựng hình tượng nghệ thuậttrong TTLS của các tác giả

Từ những tổng lược nói trên, chúng tôi nhận thấy TTLS đã được giớinghiên cứu phê bình trong và ngoài nước đặc biệt quan tâm Đã có nhiềucông trình, bài viết làm r nhiều vấn đề, phương diện trong các TTLS Ở ViệtNam, một số công trình đã đi sâu khảo sát tiến trình vận động, đặc điểm,diện mạo, mối quan hệ giữa hư cấu nghệ thuật và sự thật lịch sử, về nhân vậttrong tiểu thuyết lịch sử… Tuy nhiên, vì sự đa dạng và sự vận động, pháttriển không ngừng của TTLS, vẫn cần thiết có thêm nhiều công trình nghiêncứu chuyên sâu về khuynh hướng tiểu thuyết này, trong đó có vấn đề NVAHtrong TTLS Việt Nam từ 1975 đến nay

1.1.2 Nghiên cứu về nhân vật anh hùng trong tiểu thuyết lịch sử Vi t Nam sau 1975

Cho đến nay chưa có công trình khoa học chuyên biệt nào nghiên cứu

về NVAH trong TTLS Việt Nam sau 1975 Mặc dù, một số công trình, luậnvăn, luận án mỗi khi tiếp nhận, nghiên cứu về TTLS, cũng ít nhiều có đề cậptới khía cạnh này Có thể điểm lại một số công trình Trong bài viết “Các xuhướng xây dựng hình tượng người anh hùng trong văn học nghệ thuật ViệtNam thời kỳ đổi mới”, Tiêu Thị M Hồng đã có những phân tích khá k lưỡnghai xu hướng viết về NVAH: xu hướng đầu tiên là ngợi ca người anh hùng,

xu hướng thứ hai là bình thường hoá các anh hùng trong chính sử Tác giảcho rằng: cần phải “nhìn nhận các nhân vật lịch sử một cách biện chứng ở cảhai mặt ưu điểm và hạn chế Điều đó biểu hiện cái nhìn dân chủ, tư duy phântích lịch sử của người nghệ sĩ nói riêng và văn học, nghệ thuật đương đại nóichung” 65 ; Nguyễn Văn Hùng trong bài viết “Nhân vật lịch sử và nhữngbiên độ sáng tạo sau đổi mới” (2016), đã có những nhận định về nhân vậtanh hùng: “dẫu là… anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa, huyền thoại tôngiáo, có công hay có tội, thì trước tiên họ cũng là con người, mà đã là conngười, tất cả luôn bị tác động bởi muôn vàn mối quan hệ phức tạp, bị bủavây bởi những giới hạn thường tình của kiếp nhân sinh Lịch sử lúc này đượcsoi rọi từ chiều sâu thế giới nội tâm nhân vật, được khám phá ở từng trạnghuống hiện sinh, và kết tinh trong mỗi số phận, bi kịch cá nhân trong dòng

Trang 35

xoáy

Trang 36

của lịch sử: bi kịch của dục vọng và ý chí quyền lực, bi kịch cô đơn, bi kịch bị lựachọn, bi kịch đánh mất bản thể…” [74] Theo Nguyễn Văn Hùng, NVAH trongTTLS không chỉ là những con người với chiến công lưu danh sử sách, mà cũngnhư bao con người bình thường khác, luôn bị tác động bởi “muôn vàn mối quan

hệ phức tạp” Trong đời sống, họ như một bản đàn nhiều cung bậc, khi cô đơn,đau khổ, khi vui vẻ, tự hào Tất cả đan xen nhau trong những thời khắc thăng hoahay trầm lắng của sự nghiệp Người anh hùng trong cái nhìn của tiếp nhận hiệnsinh bao giờ cũng là bản thể của những cá nhân có đời sống nội tâm phong phú

Trong luận án Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ những năm đầu thế kỷ XX

đến 1945 (diện mạo và đặc điểm), Bùi Văn Lợi khái quát quan niệm về người

anh hùng trong TTLS Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX như sau: “hình tượng ngườianh hùng trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX đã đánh dấu mộtbước trưởng thành mới của văn học Việt Nam từ chỗ phản ánh người anh hùngphi thường đến chỗ phản ánh người anh hùng bình thường” 94; 107-108 Ởđây, tác giả có ý nhấn mạnh đến sự thay đổi có tính chất cách mạng trong quanniệm về con người nói chung, người anh hùng nói riêng cả trong đời sống lẫn

trong văn học Với chuyên luận Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ 1945 đến nay,

Nguyễn Thị Tuyết Minh đã phân chia các nhân vật lịch sử (trong đó có NVAH)thành 4 loại hình: 1 Nhân vật mang khát vọng lịch sử; 2 Nhân vật số phận trongdòng lịch sử; 3 Nhân vật biểu tượng; 4 Nhân vật lưỡng diện, đa diện Không chỉphân loại NVLS mà tác giả còn phân tích khá k lưỡng đặc điểm của 4 loại hìnhnhân vật này 101]

Với đề tài Con người trong tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới (2012),

công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Tiến đã nêu ra sự đổi mới trong quanniệm về hiện thực, về con người (trong đó có người anh hùng) của văn học ViệtNam thời kỳ Đổi mới nói chung, của tiểu thuyết nói riêng: “Nếu văn học trướcnăm 1975 gắn tình cảm của họ với tình cảm lớn lao, vĩ đại của toàn dân thì vănhọc giai đoạn sau lại khai thác thêm một dòng chảy nữa Đó là những gì thuộc vềđời sống riêng tư, tình cảm cá nhân, những vấn đề thuộc về bản năng con người”[154; 80 NVAH theo tác giả phải là những người có tầm vóc lớn lao, vĩ đạinhưng trước hết họ phải là “bản thể” của một con người theo logic tự nhiên

Trang 37

Lê Thị Thu Trang trong luận án tiến sĩ Đặc trưng nghệ thuật tiểu thuyết

lịch sử Việt Nam thập niên đầu thế kỉ XXI đã đi vào khảo sát các kiểu nhân vật

trong TTLS Việt Nam thập niên đầu thế kỷ XXI Tác giả đã có những nhậnđịnh về NVAH, đưa ra một số đặc điểm của người anh hùng như: người anhhùng mang khát vọng lịch sử; khát vọng nắm giữ vương quyền để xây dựng vàcanh tân đất nước; người anh hùng đòi hỏi phải có những phẩm chất trí tuệ, tàinăng và lòng dũng cảm; NVAH biểu tượng cho lòng trung trinh son sắt vớithiên triều, với đại cuộc…

Với luận văn thạc sĩ Hình tượng nhân vật anh hùng trong tiểu thuyết hiện

đại Việt Nam, Nguyễn Văn Sang đã đưa ra 4 đặc điểm về NVAH: “Thứ nhất, hình

tượng người anh hùng lịch sử trong tiểu thuyết mang đặc điểm của hình tượng vănhọc Họ không còn giống hoàn toàn so với hình tượng lịch sử và hình tượng dângian nữa; Thứ hai, cảm hứng sử thi không còn giữ vai trò chủ đạo nhưng vẫnkhông thể thiếu trong việc xây dựng hình tượng nhân vật anh hùng Nó mang lạicho tiểu thuyết lịch sử không khí của quá khứ lịch sử và truyền cảm hứng ngưỡngvọng vào lòng người đọc Nhà văn dành sự ưu ái đặc biệt cho nhân vật anh hùng

và thời đại người anh hùng đó thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình Hình tượngngười anh hùng vì vậy hiện lên rất đẹp, trau chuốt Đó là một người hết lòng vìdân vì nước, là người trung nghĩa, là hạng tài ba hiếm thấy và dường như đã đượclịch sử chọn sẵn để cầm cương; Thứ ba, hình tượng nhân vật anh hùng lịch sửmang nặng yếu tố đời thường, yếu tố cá nhân và cảm hứng “giải thiêng” lịch sử;Thứ tư, nhà văn coi hình tượng người anh hùng và bối cảnh lịch sử anh hùng làphương tiện truyền đạt cảm hứng thế sự” [135; 26] Như vậy, theo quan điểm củatác giả luận văn, anh hùng phải là người mang đến sự phát triển cho xã hội và thúcđẩy mọi người cùng phấn đấu noi theo Tuy nhiên, công trình của Nguyễn Văn

Sang chỉ khảo sát Bão táp triều Trần của Hoàng Quốc Hải (với hai tập Bão táp

cung đình và Huyết chiến Bạch Đằng); Hội thề của Nguyễn Quang Thân và Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác nên chưa bao quát được hết các đặc điểm

cũng như cách thức xây dựng NVAH của TTLS Việt Nam hiện đại

Trong công trình Nhân vật anh hùng trong tiểu thuyết Bão táp triều Trần

của Hoàng Quốc Hải, Nguyễn Hải Hùng đã chỉ ra được vai trò, vị trí của NVAH

trong tiểu thuyết Bão táp triều Trần nói riêng và TTLS nói chung Tuy nhiên,

Trang 38

công trình này chỉ nghiên cứu NVAH trong một tác phẩm cụ thể nên không thể lígiải đầy đủ phương thức xây dựng NVAH trong TTLS Việt Nam sau 1975.

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nói trên đã nhìn nhận người anhhùng từ nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, trong các công trình, bài viết, luậnvăn, luận án… trước đây, vấn đề này có được đề cập nhưng chưa thật toàn diện,các kiến giải vẫn chủ yếu tập trung làm rõ các phẩm chất, đặc điểm của NVAH,phương thức xây dựng NVAH ở một số tác phẩm cụ thể mà chưa đặt nó trong mốiquan hệ với đặc trưng thể loại, khuynh hướng và phương thức sáng tác

1.2 Cơ sở lý thuyết của đề tài

1.2.1 Giới thuyết một số khái niệm được dùng trong luận án

1.2.1.1 Khái niệm tiểu thuyết

Tiểu thuyết là một thuật ngữ Hán Việt, xuất hiện sớm nhất trong sách củaTrang Tử (Trung Quốc), có nghĩa tương đương với Novel (Anh), Roman (Pháp),Novela (Tây Ban Nha) Ở Trung Quốc, khái niệm tiểu thuyết xuất hiện khá sớm

Trong Từ điển Từ hải, tiểu thuyết được xác định như sau: “Một dạng thức lớn của

văn học, dùng phương thức tự sự, đặc biệt miêu tả một cách cụ thể mối quan hệ hỗtương hành động và sự kiện cho đến trạng thái tâm lí tương ứng và sự lưu động ýthức của nhân vật trong một hoàn cảnh nhất định Tiểu thuyết phản ánh đời sống

xã hội từ nhiều góc độ khác nhau Góc độ tự sự của tiểu thuyết linh hoạt, đa dạng,các thủ pháp biểu hiện như: miêu tả, tự thuật, trữ tình, nghị luận… đều có thể gồm

cả trong đó Thông thường, tiểu thuyết dùng các dạng hình tượng nhân vật làmphương tiện phản ánh đời sống… [186; 2902] Ở phương Tây, đến khi xã hội cổđại tan rã, tiểu thuyết mới được xem là một thể loại độc lập thuộc phương thức tự

sự Đến thời Phục hưng và đặc biệt là đến thế kỉ XIX, tiểu thuyết thực sự nở rộ,nhiều công trình nghiên cứu khái niệm tiểu thuyết xuất hiện, trong đó, tiêu biểu là:

Từ điển Littré, Từ điển Robert (Pháp), Bách khoa từ điển (Hoa kỳ), G Lukacs, M.

Bakhtin, Belinski, Ralph… Trong Từ điển Littré, tiểu thuyết là “Một câu chuyện bịa đặt viết bằng văn xuôi, trong đó tác giả hoặc mô tả tình cảm, các phong tục, hoặc kể về những sự kiện kỳ lạ cốt gây hứng thú cho độc giả” Còn trong Từ điển

Robert, tiểu thuyết được định nghĩa một cách đầy đủ và mềm dẻo: “Tiểu thuyết là

một hư cấu bằng văn xuôi, khá dài, trình bày và làm sống động những nhân vật giảthuyết như có thật tại môi trường, cho ta biết tâm lý, số phận, những biến cố của

Trang 39

họ” 37; 89 Trong cuốn Lý luận văn học, N.A Gulaiev định nghĩa tiểu thuyết là

“hình thức tự sự cỡ lớn, mô tả đời sống riêng của con người trong những mối quan

hệ rộng lớn với xã hội” 37; 244] Còn Belinsky lại gọi tiểu thuyết là “Sử thi củađời tư” 59; 326] Ralph lại hình dung tiểu thuyết như “thiên trường ca về cuộcđấu tranh của cá nhân với xã hội, với tự nhiên” 59; 327 …

Ở Việt Nam, đầu thế kỉ XX thuật ngữ tiểu thuyết mới được sử dụng như ở Trung Quốc Thuật ngữ tiểu thuyết được dùng để chỉ các tác phẩm truyện có quy

mô lớn (còn quy mô vừa và nhỏ được gọi là truyện) Mặc dù tiểu thuyết đã xuấthiện, tồn tại và phát triển trong một khoảng thời gian khá dài, nhưng như M.Bakhtin xác định: “tiểu thuyết là thể loại duy nhất đang hình thành và chưa xongxuôi”; vì thế, khái niệm tiểu thuyết luôn được bổ sung, điều chỉnh và đi tìm một

định nghĩa đầy đủ về nó quả là không dễ Trong Từ điển văn học (bộ mới), tiểu

thuyết được hiểu là “thể loại tác phẩm tự sự, trong đó sự trần thuật tập trung vào

số phận một cá nhân trong quá trình hình thành và phát triển của nó; sự trầnthuật ở đây được khai triển trong không gian và thời gian nghệ thuật đến mức đủ

để truyền đạt “cơ cấu” của nhân cách” 121; 1716] Theo các tác tác giả, tiểu

thuyết là một thể loại tự sự và trần thuật Trong Từ điển thuật ngữ văn học do nhóm Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên, tiểu thuyết

được hiểu là: “tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ởmọi giới hạn không gian và thời gian Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận củanhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điềukiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng…” Nó cũng là “thể loạicủa tinh thần tự do, vượt ra khỏi sự gò bó của những luật lệ cũ và cho phép sựsáng tạo về hình thức cũng như về chủ đề” 59; 328 Theo định nghĩa này, tiểuthuyết là thể loại văn học được sáng tác tự do nhất, khả năng hư cấu không giớihạn nào nên đối tượng phản ánh của nó là vô cùng rộng mở (từ con người cá

nhân đến một nhóm, một tập thể, cả xã hội…) Trong Lý luận văn học, nhóm tác

giả Phương Lựu, Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam, Lê Ngọc Trà… đã đưa ramột định nghĩa về tiểu thuyết khá rộng và đầy đủ: tiểu thuyết là “hình thức tự sự

cỡ lớn đặc biệt phổ biến trong thời cận đại và hiện đại Với những giới hạn rộngrãi trong hình thức trần thuật, tiểu thuyết có thể chứa đựng lịch sử của nhiềucuộc đời, những bức tranh phong tục đạo đức xã hội, miêu tả cụ thể các điều

Trang 40

kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng Không phải ngẫu nhiên

mà thể loại tiểu thuyết chiếm địa vị trung tâm trong hệ thống thể loại văn họccận đại, hiện đại” 122; 387 Định nghĩa này đã nhấn mạnh đến tính đa dạng, đadiện, đa chiều trong xây dựng nhân vật, hình tượng và chủ đề tư tưởng của thểloại tiểu thuyết

M Bakhtin đã mở ra một quan niệm mới về thể loại tiểu thuyết Các sách lýluận văn học ở ta xuất hiện trong khoảng vài thập kỷ trở lại đây khi bàn về tiểuthuyết thường chịu nhiều ảnh hưởng của M Bakhtin Lý luận tiểu thuyết của M.Bakhtin xác định đặc trưng của thể loại tiểu thuyết trên những phương diện chínhsau: 1 Tiểu thuyết là thể loại thể hiện được tinh thần của thời hiện đại (tính dânchủ, đối thoại, tiếp nhận để biến đổi) 2 Tiểu thuyết thể hiện con người trong sựkhông trùng khít, không đồng nhất với chính nó (giữa nhân cách và địa vị xã hội,giữa bên trong với bên ngoài…) 3 Tiểu thuyết là thể loại ở thì “chưa hoànthành”, có khả năng bổ sung, thu hút đặc trưng của các thể loại khác 4 Tiểuthuyết thể hiện tính phức điệu, trước hết là ngôn ngữ [10]

Quan niệm về tiểu thuyết của Milan Kundera (nhà văn Pháp gốc Tiệp) kháphù hợp với tiểu thuyết giai đoạn hiện đại, hậu hiện đại Theo Milan Kundera, tiểuthuyết là sự bí ẩn của cái “tôi”, là là phương thức “tồn tại của con người, để giữcho con người còn là con người toàn vẹn”, chống lại sự tha hóa trong thời hiệnđại Kundera cho rằng tiểu thuyết gắn liền với 4 tiếng gọi: 1 Tiếng gọi của tròchơi; 2 Tiếng gọi của giấc mơ; 3 Tiếng gọi của tư duy; 4 Tiếng gọi của thời gian

Lý luận tiểu thuyết của Kundera có ý nghĩa thiết thực giúp nhiều nhà nghiên cứu

đi sâu tìm hiểu các tiểu thuyết có ý nghĩa cách tân, mang màu sắc hậu hiện đại ởViệt Nam trong thời gian gần đây 84]

Qua những kiến giải ở trên, chúng ta có thể khái quát khái niệm “tiểuthuyết” bao gồm các đặc điểm sau: 1 Tiểu thuyết là sản phẩm của trí tưởng tượng,của hư cấu, nhưng ít nhiều có dựa trên cơ sở sự thực; 2 Tiểu thuyết có khả năngkhái quát, tổng hợp nhiều mặt, nhiều hiện tượng đời sống, nhiều kiểu tính cách, sốphận nhân vật; 3 Tiểu thuyết tiếp cận con người dưới góc nhìn đời tư, thể hiệntinh thần dân chủ, đối thoại trong phản ánh hiện thực phức tạp của đời sống và thếgiới nội tâm con người 4 Tiểu thuyết là thể loại ở “thì hiện tại”, có khả năng thu

Ngày đăng: 23/01/2022, 11:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Thu An (2012), “Tiểu thuyết lịch sử: thành tựu và triển vọng”, nguồn: https://phebinhvanhoc.com.vn/tieu-thuyet-lich-su-thanh-tuu-va-trien-vong/, truy cập ngày 29/03/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết lịch sử: thành tựu và triển vọng
Tác giả: Thu An
Năm: 2012
2. Đào Duy Anh (2001), Từ điển Hán Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán Việt
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2001
3. Lê Tú Anh (2018), Văn xuôi Việt Nam hiện đại khảo cứu và suy ngẫm, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam hiện đại khảo cứu và suy ngẫm
Tác giả: Lê Tú Anh
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2018
4. Phan Tuấn Anh (2013), “Lịch sử như là hư cấu - quan điểm mới về đề tài lịch sử”, Tạp ch Sông Hương, số 298 (T. 12-13) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử như là hư cấu - quan điểm mới về đề tài lịchsử”, "Tạp ch Sông Hương
Tác giả: Phan Tuấn Anh
Năm: 2013
5. Thái Phan Vàng Anh (2010), Người kể chuyện trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người kể chuyện trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Tác giả: Thái Phan Vàng Anh
Năm: 2010
6. Lại Nguyên Ân (biên soạn) (2003), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân (biên soạn)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2003
7. Lại Nguyên Ân (2005), “Tiểu thuyết lịch sử (Nhân đọc Giàn thiêu của V Thị Hảo)”, nguồn: https://phebinhvanhoc.com.vn, truy cập ngày 10/05/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết lịch sử (Nhân đọc "Giàn thiêu "của V Thị Hảo)
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 2005
8. Lại Nguyên Ân (2009), “Tiểu thuyết và lịch sử”, Mênh mông và chật chội, Nxb Trí thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết và lịch sử”, "Mênh mông và chật chội
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Trí thức
Năm: 2009
9. Lại Nguyên Ân (2010), “Mặt nạ tác giả” - một gợi ý cho việc tiếp cận một vài hiện tượng văn học sử Việt Nam”, Tạp ch Nghiên cứu văn học, số 2/2010, tr. 68-80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mặt nạ tác giả” - một gợi ý cho việc tiếp cận mộtvài hiện tượng văn học sử Việt Nam”, "Tạp ch Nghiên cứu văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 2010
10. M. Bakhtin (2004), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết (Phạm Vĩnh Cư dịch), Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M. Bakhtin
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2004
11. R. Barthes (1997), Độ không của lối viết (Nguyên Ngọc dịch), Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Độ không của lối viết
Tác giả: R. Barthes
Nhà XB: Nxb Hội Nhàvăn
Năm: 1997
12. R. Barthes (2008), Những huyền thoại (Phùng Văn Tửu dịch), Nxb Tri thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những huyền thoại
Tác giả: R. Barthes
Nhà XB: Nxb Tri thức
Năm: 2008
13. Nguyễn Chương M Bình (2009), Nhân vật trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ 1986 đến nay, Luận văn Thạc sĩ Khoa học Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân vật trong tiểu thuyết lịch sử ViệtNam từ 1986 đến nay
Tác giả: Nguyễn Chương M Bình
Năm: 2009
14. Nguyễn Chương M Bình (2009), Nhân vật trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ 1986 đến nay, Luận văn Thạc sĩ Khoa học Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân vật trong tiểu thuyết lịch sử ViệtNam từ 1986 đến nay
Tác giả: Nguyễn Chương M Bình
Năm: 2009
15. Nguyễn Thị Bình (2008), Một số khuynh hướng tiểu thuyết ở nước ta từ thời điểm đổi mới đến nay, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số khuynh hướng tiểu thuyết ở nước ta từ thờiđiểm đổi mới đến nay
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 2008
16. Nguyễn Thị Bình - Nguyễn Thị Tuyết Minh (2011), “Cách tân nghệ thuật trong tổ chức lời văn của văn xuôi đương đại Việt Nam”, Tạp ch Nghiên cứu văn học, số 8/2011, tr. 102-112 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách tân nghệ thuật trongtổ chức lời văn của văn xuôi đương đại Việt Nam”, "Tạp ch Nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Thị Bình - Nguyễn Thị Tuyết Minh
Năm: 2011
17. Nguyễn Thị Bình (2012), Văn xuôi Việt Nam sau 1975, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam sau 1975
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạmHà Nội
Năm: 2012
18. D. Brewster & J. Burrell (1971), Tiểu thuyết hiện đại (Dương Thanh Bình dịch), Tủ sách Kim văn, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết hiện đại
Tác giả: D. Brewster & J. Burrell
Năm: 1971
19. Minh Châu - DSC (2010), Hồn sử Việt, các truyền thuyết, giai thoại nổi tiếng, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồn sử Việt, các truyền thuyết, giai thoại nổi tiếng
Tác giả: Minh Châu - DSC
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2010
108. Đỗ Hải Ninh (2012), “Vấn đề ngôn ngữ trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại‟, http://toquoc.vn/van-de-ngon-ngu-trong-tieu-thuyet-lich-su-viet-nam-duong-dai.htm, truy cập ngày 03/11/2009 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w