®Ò c¬ng luËn ¸n TiÕn sÜ v¨n häc BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI *** NGUYỄN THỊ MINH PHƢỢNG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM ĐƢƠNG ĐẠI NHÌN TỪ GÓC ĐỘ THỂ LOẠI LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN[.]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN VĂN DÂN
HÀ NỘI – 2022
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận án này là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Kết quả nghiên cứu này đảm bảo tính chính xác và tính khoa học cao, chưa được công bố ở đâu dưới bất kì hình thức nào Các tài liệu tham khảo đều được chú thích nguồn dẫn rõ ràng, trung thực Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu này của tôi
Tác giả
Nguyễn Thị Minh Phƣợng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết, em xin trân trọng cảm ơn sâu sắc PGS.TS Nguyễn Văn Dân đã tận tâm, nhiệt tình, chân thành, luôn giúp em về mặt tài liệu, gợi mở, chỉnh sửa luận án, chia sẻ quan điểm, giúp em có thêm nhiều kiến thức lý luận và phương pháp nghiên cứu khoa học Thầy nghiêm khắc, luôn đôn đốc, nhắc nhở, thúc giục, động viên, khích lệ em trong suốt quá trình học các chuyên đề và hoàn thành luận án
Em xin trân trọng cảm ơn tất cả các thầy, cô trong Tổ Lí luận văn học, Khoa Ngữ văn và các phòng ban của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho em về mọi mặt vật chất và tinh thần để hoàn thành luận án và nhiệm vụ học tập được giao Em xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của Trường THPT Cảm Nhân, Sở Giáo dục và Đào tạo Yên Bái, lãnh đạo tỉnh Yên Bái, một số
cơ quan ở Hà Nội và gia đình
Hà Nội, tháng 1 năm 2021
Tác giả
Nguyễn Thị Minh Phƣợng
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 2
3 Phương pháp nghiên cứu 3
4 Đóng góp của luận án 4
5 Cấu trúc của luận án 4
NỘI DUNG 5
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1 Các công trình nghiên cứu về tiểu thuyết lịch sử Việt Nam 5
1.2 Các quan niệm về đặc trưng thể loại 14
1.2.1 Quan niệm về kết hợp hài hòa giữa lịch sử và hư cấu nghệ thuật 15
1.2.2 Quan niệm đề cao yếu tố “hư cấu” như là đặc trưng của tiểu thuyết lịch sử 17
1.2.3 Quan niệm coi trọng yếu tố “lịch sử” hơn “hư cấu” 19
1.3 Quan niệm của luận án về tiểu thuyết lịch sử và các xu hướng tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại 21
1.3.1 Quan niệm của luận án về tiểu thuyết lịch sử và cơ sở lý thuyết để nghiên cứu đề tài 21
1.3.2 Quan niệm về các xu hướng tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại 24
Tiểu kết chương 1 31
Chương 2 XU HƯỚNG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ BÁM SÁT SỬ LIỆU 32
2.1 Khái quát xu hướng tiểu thuyết lịch sử bám sát sử liệu 32
2.2 Một số đặc điểm nội dung của xu hướng tiểu thuyết lịch sử bám sát sử liệu 34
2.2.1 Nguyên lí chính nghĩa trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc 34
2.2.2 Xây dựng hình tượng con người mang khát vọng lịch sử theo nguyên mẫu 39
2.2.3 Chuyện thế sự đời tư với hình tượng con người trần thế 44
2.3 Một số đặc sắc nghệ thuật cơ bản của xu hướng tiểu thuyết lịch sử bám sát sử liệu 48
2.3.1 Đổi mới cấu trúc tiểu thuyết lịch sử chương hồi 48
2.3.2 Kỹ thuật đa điểm nhìn 52
2.3.3 Kết cấu cốt truyện ghép mảnh 59
2.3.4 Ngôn ngữ đa phong cách 63
2.3.5 Cấu trúc các lớp không gian tạo khung cốt truyện 65
Trang 6Tiểu kết chương 2 69
Chương 3 XU HƯỚNG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ DỤ NGÔN HÓA SỬ LIỆU70 3.1 Khái quát về xu hướng tiểu thuyết lịch sử dụ ngôn hóa sử liệu 70
3.2 Nội dung giáo huấn thực tiễn mang ý nghĩa thời sự 73
3.2.1 Giáo huấn về lòng yêu nước 73
3.2.2 Giáo huấn về chính trị - tôn giáo 81
3.2.3 Giáo huấn về đại đoàn kết dân tộc 86
3.2.4 Giáo huấn về chủ nghĩa nhân đạo 91
3.3 Các hình thức nghệ thuật nổi bật của tiểu thuyết lịch sử dụ ngôn hóa sử liệu 96
3.3.1 Đan xen người kể chuyện toàn tri và hạn tri 96
3.3.2 Ngôn ngữ chính luận 99
3.3.3 Thời gian tuyến tính biên niên sử 102
3.3.4 Hư cấu các lớp thời gian đa chiều 105
Tiểu kết chương 3 110
Chương 4 XU HƯỚNG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ ĐỐI THOẠI VỚI SỬ LIỆU 111
4.1 Khái lược về xu hướng tiểu thuyết lịch sử đối thoại với sử liệu 112
4.2 Nội dung luận giải cụ thể trên tinh thần đối thoại 115
4.2.1 Đối thoại về các vấn đề tâm linh 115
4.2.2 Đối thoại về lịch sử đổi mới và thống nhất đất nước 120
4.2.3 Đối thoại về bản thể con người 126
4.2.4 Đối thoại về lịch sử kết đọng trong chiều sâu số phận con người 127
4.3 Một số phương diện nghệ thuật đối thoại 130
4.3.1 Đối thoại giải thiêng thần tượng là nhân vật có thật qua những góc khuất lịch sử 130
4.3.2 Hư cấu, dự phóng về “lịch sử mới” qua nhân vật hư cấu hoàn toàn 138
4.3.3 Ngôn ngữ biện giải 143
Tiểu kết chương 4 147
KẾT LUẬN 148
NHỮNG CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ 151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TTLS: Tiểu thuyết lịch sử
Trang 7MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1 Trong văn học Việt Nam hiện đại, tiểu thuyết là một thể loại tiêu biểu, nó đã trở thành lực lượng nòng cốt cho sự phát triển của văn học, có khả năng bao quát rộng lớn và thâu tóm mọi thể loại văn học khác Tiểu thuyết lịch sử (TTLS) cũng vậy, nó là một nhánh nổi bật của tiểu thuyết Việt Nam, là thể loại văn học viết về lịch sử, có khả năng bao quát và thâu tóm mọi thể loại văn học khác cùng viết về lịch sử (như truyện ngắn lịch sử, kịch lịch sử, truyện thơ lịch sử, diễn ca lịch sử) Thể loại “vừa cũ lại vừa mới”, luôn có sự biến đổi, “tái sinh và đổi mới” trong quá trình hình thành các tác phẩm qua các thời kỳ Điểm nổi bật của thể loại là sự tổ chức nội dung và hình thức nghệ thuật của tác phẩm thành hình thức chỉnh thể của hệ thống các phương thức tổ chức ổn định, bền vững, có tính “quy luật nhất định” trong cấu trúc tác phẩm Mỗi thể loại đều có những qui luật chi phối, quy định các lớp cấu trúc đặc thù theo nguyên tắc thể loại riêng, đặc biệt là trong TTLS, qui luật khách quan của “lịch sử” sẽ quy định, chi phối yếu tố “hư cấu” trong việc tổ chức các lớp cấu trúc thể loại như miêu tả nhân vật, sự kiện, cốt truyện, tổ chức không- thời gian, chọn người kể chuyện và ngôi
kể, tổ chức các lớp ngôn ngữ theo nguyên tắc thể loại
1.2 Từ sau ngày Đổi Mới, chúng ta đã thấy xuất hiện nhiều tác phẩm TTLS có giá trị được nhận giải thưởng, đáp ứng được yêu cầu của chức năng giáo dục lịch sử và chức năng thẩm mỹ của văn học TTLS hấp dẫn các nhà sáng tác, kể cả các tác giả trẻ Song, do tính đặc thù của thể loại, TTLS cũng là nơi gây ra nhiều cuộc tranh luận về vai trò và giới hạn của hai yếu tố lịch sử và hư cấu trong các lớp cấu trúc thể loại Các nhà nghiên cứu đã dành sự quan tâm cho việc tìm hiểu và đánh giá về TTLS, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về thể loại văn học này Có thể nói, sự sống động, phức tạp của thể loại văn học này đòi hỏi phải tiếp tục có những công trình khoa học khác nghiên cứu về nó, nhằm khẳng định những giá trị, thành tựu, cũng như nhận ra những đặc điểm cấu trúc, nguyên tắc thể loại, giới hạn của yếu tố “hư cấu” và “lịch sử” Những công trình nghiên cứu trước đó chỉ đi vào một khía cạnh nào đó của TTLS, chưa có sự khái quát sâu rộng, vấn đề lý thuyết thể loại vẫn còn nhiều điểm trống thiếu hụt, nhiều vấn đề nội dung và nghệ thuật của TTLS được đặt
ra, nhưng chúng chưa được giải quyết thỏa đáng Trong tình hình đó, việc làm rõ đặc trưng, ý nghĩa
và vai trò của TTLS Việt Nam trong hệ thống thể loại văn học của giai đoạn đương đại sẽ là một việc làm cần thiết để khẳng định tư cách thể loại của một loại hình tiểu thuyết quan trọng là TTLS
Để làm rõ giá trị, ý nghĩa, đặc điểm của các lớp cấu trúc thể loại, sự cách tân thể loại về nội dung và nghệ thuật của các xu hướng TTLS Việt Nam đương đại trong hệ thống thể loại văn học, chúng tôi
chọn đề tài “Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại – nhìn từ góc độ thể loại” với hy vọng góp
phần tìm hiểu thấu đáo một thể loại quan trọng trong văn học Việt Nam hiện đại
1.3 Việc tiếp nhận thể loại còn nhiều bất cập và chưa thống nhất, lý thuyết thể loại dùng để nghiên cứu, tiếp nhận thể loại TTLS chưa có tính khái quát và chưa có hệ thống, còn nhiều vấn đề thiếu hụt Đề tài trên khái quát vấn đề lý thuyết thể loại còn thiếu hụt, theo sát sự ra đời của các tác phẩm và thực tiễn sáng tác của các nhà văn Với đề tài này, chúng tôi mang đến góc tiếp cận mới, góp phần lấp đầy những khoảng trống lý thuyết của các công trình đi trước, mang đến một công cụ
lý thuyết để vận dụng trong việc nghiên cứu khoa học của sinh viên, việc giảng dạy lý luận văn học, tiếp cận vấn đề thể loại
Trang 82 ĐỐI TƢỢNG, NHIỆM VỤ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Đề tài của chúng tôi nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản về thể loại, chỉ ra sự cách tân và những đặc trưng trong các lớp cấu trúc thể loại của TTLS Việt Nam đương đại biểu hiện qua ba xu hướng: TTLS bám sát sử liệu, TTLS dụ ngôn hóa sử liệu và TTLS đối thoại với sử liệu với các tác phẩm TTLS tiêu biểu từ 1986 đến nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Chúng tôi khái quát lý thuyết thể loại, chỉ ra các xu hướng phát triển và các đặc điểm riêng của từng xu hướng TTLS Việt Nam đương đại qua việc tìm hiểu nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm cụ thể tiểu biểu của từng xu hướng Từ đó, chúng tôi làm sáng tỏ các yếu tố cấu thành các lớp cấu trúc thể loại thể hiện qua từng xu hướng, chỉ ra điểm mới của mỗi xu hướng, góp một tầm nhìn sâu rộng về sự phát triển của thể loại văn học này từ
năm 1986 đến nay Trong quá trình viết đề tài“Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại –
nhìn từ góc độ thể loại”, chúng tôi sẽ tiếp thu có chọn lọc và vận dụng hệ thống lý thuyết
của lý luận văn học để làm rõ các vấn đề nói trên qua việc khảo cứu một số tác phẩm TTLS Việt Nam đương đại (từ năm 1986 đến nay) về nội dung và nghệ thuật
2.3 Phạm vi nghiên cứu
Về mặt phạm vi thời gian, chúng tôi quan niệm thuật ngữ “đương đại” là giai đoạn kể
từ ngày Đổi Mới (từ năm 1986) đến nay Và khi đặt vấn đề nghiên cứu “Tiểu thuyết lịch
sử Việt Nam đương đại – nhìn từ góc độ thể loại”, chúng tôi tập trung phân tích nội dung
và nghệ thuật của các tác phẩm trong ba xu hướng của giai đoạn từ ngày Đổi mới (năm1986) đến nay, để khẳng định ý nghĩa, vai trò của TTLS trong nền văn học nước nhà
Về mặt phạm vi khảo sát, chúng tôi sẽ tập trung phân tích một số cuốn tiểu thuyết tiêu
biểu cho một số xu hướng tìm tòi đổi mới về mặt nghệ thuật Cụ thể là chúng tôi sẽ phân
tích bộ tiểu thuyết “Tây Sơn bi hùng truyện” của Lê Đình Danh, tiểu thuyết “Sông Côn mùa lũ” của Nguyễn Mộng Giác, Phùng Vương của Phùng Văn Khai, “Mười hai sứ quân” của Vũ Ngọc Đĩnh, “Thông reo Ngàn Hống” của Nguyễn Thế Quang, bộ bốn tiểu thuyết
“Bão táp triều Trần” và bộ sáu tiểu thuyết “Tám triều vua Lý” của Hoàng Quốc Hải,
“Không phải huyền thoại” của Hữu Mai, ba tác phẩm “Hồ Quý Ly”, “Mẫu Thượng
Trang 9Ngàn”, “Đội gạo lên chùa” của Nguyễn Xuân Khánh, “Hội thề” của Nguyễn Quang Thân,
“ iàn thiêu” của Võ Thị Hảo, “ ió Lửa” của Nam Dao, “Đàn đáy” của Trần Thu Hằng
Trong các tác giả này, Lê Đình Danh, Nguyễn Mộng Giác, Phùng Văn Khai, Vũ Ngọc Đĩnh, Nguyễn Thế Quang đại diện cho xu hướng TTLS bám sát sử liệu; Hoàng Quốc Hải, Hữu Mai đại diện cho xu hướng TTLS dụ ngôn hóa sử liệu; còn Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Quang Thân, Võ Thị Hảo, Nam Dao, Trần Thu Hằng đại diện cho xu hướng đối thoại với sử liệu Tất nhiên, trong khi lấy các bộ tiểu thuyết trên đây làm đối tượng phân
tích, chúng tôi vẫn có thể so sánh và liên hệ với các cuốn TTLS khác để làm rõ thêm vấn đề
cần giải quyết
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đây là đề tài khảo sát và nghiên cứu TTLS trong giai đoạn từ 1986 đến nay, đi sâu vào một số tác phẩm lớn, tiêu biểu, để minh chứng vị trí quan trọng, sự đổi mới trong các lớp cấu trúc thể loại của ba xu hướng TTLS Việt Nam đương đại trong nền văn học nước nhà
Để đạt được mục đích này, ngoài phương pháp thuộc cấp phương pháp luận khoa học chung như phương pháp liên ngành dùng để đối sánh với sử liệu, tôi còn sử dụng các phương pháp đặc thù chủ yếu sau đây:
Phương pháp hệ thống - loại hình được dùng để hệ thống hoá các vấn đề đặc trưng thể loại, phân loại các xu hướng của TTLS trong giai đoạn từ 1986 đến nay và khái quát hệ thống tác phẩm theo trình tự thời gian Từ đó, chúng tôi đánh giá những đóng góp của ba
xu hướng TTLS về mặt nội dung, nghệ thuật và phương pháp sáng tác của mỗi nhà văn trong việc xử lý yếu tố “lịch sử” và “hư cấu” theo nguyên tắc thể loại
Phương pháp so sánh- đối chiếu được dùng để nghiên cứu các đối tượng trong mối tương quan so sánh nhằm xác định các nguyên tắc thể loại ở ba xu hướng TTLS, để thấy được ý nghĩa đổi mới của thể loại TTLS Ngoài ra, chúng tôi còn dùng thao tác phân tích, tổng hợp, thống kê, khái quát hệ thống- cấu trúc của các vấn đề ở các cấp độ khác nhau để
mổ xẻ các lớp cấu trúc nội dung và hình thức của các tác phẩm ở ba xu hướng TTLS, khái quát các vấn đề lý thuyết thể loại trong các tiểu mục, thống kê các tác phẩm TTLS Việt Nam đương đại, chốt lại vấn đề nghiên cứu
Phương pháp thi pháp học được dùng để nghiên cứu những đặc trưng nghệ thuật của
ba xu hướng nói trên
Trang 104 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN
Với đề tài “Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại – nhìn từ góc độ thể loại”, chúng
tôi hy vọng sẽ có được những đóng góp nhỏ như sau:
Qua việc xác định bản chất đặc trưng của ba xu hướng TTLS Việt Nam đương đại, luận án sẽ đóng góp những luận điểm, luận cứ khoa học và một cái nhìn sâu rộng về sự đa dạng, sự đổi mới trong các lớp cấu trúc thể loại của ba xu hướng TTLS Việt Nam đương đại Đó cũng là ý nghĩa lý luận của đề tài
Luận án đóng góp phần nào cho công việc tổng kết sự phát triển của tiểu thuyết Việt Nam đương đại và vạch ra một số khía cạnh lý thuyết thể loại đóng góp vào sự phát triển của ngành Lý luận văn học nước nhà
Những kết quả thu được của luận án sẽ là công cụ hữu dụng để sinh viên vận dụng trong nghiên cứu khoa học về thể loại văn học này Những kết quả thu được của luận án sẽ
có ý nghĩa quan trọng với việc giảng dạy lý luận văn học về các vấn đề lý thuyết thể loại, đặc biệt là việc giảng dạy TTLS trong các trường phổ thông và đại học
Đề tài của luận án này còn có ý nghĩa văn học sử Luận án đề cập đến nhiều nội dung
có ý nghĩa thời sự, có vai trò thúc đẩy sự tiến bộ xã hội và giúp hoàn thiện đạo đức, nhân cách của học sinh, sinh viên
5 CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Ngoài ba mục Những công trình khoa học của tác giả liên quan đến đề tài luận án đã công bố, mục Tài liệu tham khảo, Danh mục từ viết tắt, cấu trúc của luận án gồm ba phần:
Mở đầu, Nội dung và Kết luận, trong đó Nội dung của luận án gồm có 4 chương:
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Xu hướng tiểu thuyết lịch sử bám sát sử liệu
Chương 3: Xu hướng tiểu thuyết lịch sử dụ ngôn hóa sử liệu
Chương 4: Xu hướng tiểu thuyết lịch sử đối thoại với sử liệu
Trang 11NỘI DUNG
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Các công trình nghiên cứu về tiểu thuyết lịch sử Việt Nam
Hiện tại, chúng tôi thấy chỉ có một bài báo của tác giả Nguyễn Văn Dân phân chia thành ba xu hướng là: “TTLS chương hồi khách quan”; “TTLS giáo huấn”; “TTLS luận giải” [71] Nhưng bài báo này chưa đi sâu vào đặc điểm của các lớp cấu trúc thể loại của từng xu hướng phát triển của TTLS, có ý nghĩa gợi ý cho luận án này Mỗi khi có tác phẩm TTLS mới được xuất bản, giới thiệu trước công chúng, thì các nhà khoa học cũng có các bài viết, nghiên cứu về một phương diện nào đó của một tác phẩm cụ thể và đăng rải rác trên các báo, tạp chí
Trong thời kỳ trước Đổi Mới, chúng ta thấy có một số bài viết của các nhà nghiên cứu đăng rải rác trên các tạp chí như trong bài “Mấy ý kiến về tiểu thuyết lịch sử nhân đọc cuốn
Quận He khởi nghĩa” (Triêu Dương, Tạp chí Văn học số 8, năm 1964), Triêu Dương đã
đưa ra một số ý kiến về mặt lí luận về thể loại, đã bước đầu bàn qua một vài đặc điểm, phương thức sáng tạo của TTLS như: chủ đề, nhân vật, phương thức phục hiện sự kiện lịch
sử qua việc đọc một tác phẩm cụ thể là Quận He khởi nghĩa Nhưng tác giả cũng chưa đi
sâu vào phân tích các vấn đề nêu trên, cách lý luận về thể loại cũng chưa sáng rõ Bài viết mang tính chất nêu cảm nhận về một tác phẩm cụ thể, chưa khái quát các vấn đề lý thuyết thể loại
Trong bài “Đọc Tổ quốc kêu gọi suy nghĩ về vấn đề khám phá và sáng tạo trong tiểu thuyết lịch sử” (Đoàn Thị Hương, Tạp chí Văn học số 4, năm1974), tác giả đã bước đầu
quan tâm đến mối quan hệ giữa “lịch sử” và “hư cấu” trong TTLS Bà đề cập đến “sự kết hợp giữa tinh thần nghiên cứu lịch sử nghiêm túc với sự sáng tạo nghệ thuật tương đối linh hoạt, việc vận dụng sử liệu một cách chủ động” của nhà văn trong tác phẩm [214; 4] Trong bài “Vài ý kiến về sự thực lịch sử và hư cấu nghệ thuật trong truyện lịch sử phục
vụ các em” (Hà Ân, Tạp chí Văn học số 3, năm 1979), tác giả nhấn mạnh việc nhà văn
nghiên cứu nguồn sử liệu để gửi gắm những dụng ý nghệ thuật riêng của mình Hà Ân cho rằng nhà văn phải có những “kiến giải riêng” về các yếu tố “lịch sử” được đưa vào trong tác phẩm, từ đó truyền đến người đọc các bài học hay triết lý sống Ông cho rằng nhà văn không nhất thiết phải kể lể “đầy đủ bối cảnh lịch sử” Hà Ân cũng đề cập đến vấn đề “hiện thực lịch sử” và quan tâm đến cá tính sáng tạo của nghệ sĩ thể hiện ở việc suy ngẫm, luận giải các vấn đề lịch sử Bước đầu, Hà Ân đã chạm đến sự đối thoại với lịch sử, nhưng tác giả cũng chưa đi sâu, chưa làm sáng tỏ sự đối thoại ấy Đây là khoảng trống mà chương 4 trong luận án của tôi sẽ đi sâu phân tích
Trong bài “Ngòi bút tái hiện lịch sử của Hà Ân trong tiểu thuyết Người Thăng Long” (Nguyễn Phương Chi, Tạp chí Văn học số 2, năm 1983), tác giả chỉ ra những thành công và
Trang 12hạn chế của một tác phẩm cụ thể Nguyễn Phương Chi cho rằng nhà văn đã phục hiện lại được diện mạo và chỉ ra được quy luật vận động lịch sử, miêu tả tính cách, đời sống, vận mệnh của các nhân vật lịch sử một cách chân thực, sống động như nhân vật của tiểu thuyết
Qua việc tìm hiểu tác phẩm “Người Thăng Long”, chúng tôi thấy Nguyễn Phương Chi
cũng dần quan tâm đến mối quan hệ giữa “sự thực lịch sử và hư cấu sáng tạo” trong TTLS Tác giả khẳng định rằng nhà văn sẽ thành công nếu biết quan tâm đến tính chất tiểu thuyết trong phạm vi nguyên tắc thể loại TTLS Đây là bài viết về một tác phẩm cụ thể trước giai đoạn 1986, chưa khái quát và chỉ ra xu hướng phát triển của TTLS
Sau thời kỳ Đổi Mới (từ 1986 đến nay), chỉ có một số bài viết và một vài cuốn sách
chuyên luận bàn về một tác phẩm TTLS cụ thể hay một khía cạnh nào đó của thể loại, đại
đa số các sách lý luận văn học còn bỏ ngỏ về lý thuyết thể loại TTLS, có 5 luận án tiến sĩ
về TTLS hoặc mô hình truyện lịch sử Nếu sắp xếp theo trình tự thời gian, chúng ta có các công trình cụ thể sau đây:
Ở Việt Nam, khái niệm “tiểu thuyết lịch sử” được sử dụng phổ biến, nhưng ở một số cuốn sách, khái niệm này không tồn tại với tư cách là một mục từ độc lập Chẳng hạn như
trong cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học” (1992), các nhà khoa học không xếp “tiểu thuyết
lịch sử” thành mục riêng mà gộp chung vào một mục là “thể loại văn học lịch sử” với quan niệm: “Các tác phẩm lịch sử biên niên kể về các biến cố lịch sử qua các thời đại, tái hiện các nhân vật lịch sử, các cuộc chiến tranh, các hoạt động bang giao” và cho rằng “tiểu thuyết lịch sử” thuộc nhánh nhỏ của “thể loại văn học lịch sử”: “Thể loại văn học lịch sử còn bao gồm các tác phẩm văn học nghệ thuật, sáng tác về các đề tài và nhân vật lịch sử như tiểu thuyết lịch sử” Các tác giả cũng bước đầu nêu lên một vài đặc điểm của TTLS:
“Các tác phẩm viết về đề tài lịch sử này có chứa đựng các nhân vật và các chi tiết hư cấu, tuy nhiên nhân vật chính và sự kiện chính thì được sáng tạo trên các sử liệu xác thực trong lịch sử, tôn trọng lời ăn tiếng nói, trang phục, phong tục, tập quán phù hợp với giai đoạn lịch sử ấy Tác phẩm văn học lịch sử thường mượn chuyện xưa nói chuyện đời nay, hấp thu những bài học của quá khứ, bày tỏ sự đồng cảm với những con người và thời đại đã qua, song không vì thế mà hiện đại hóa người xưa, phá vỡ tính chân thật lịch sử của thể loại này” [125; 302] Nhìn chung, đây chỉ là mấy dòng lý thuyết ngắn ngủi mang tính chất nhận định chung về thể loại TTLS, chưa mổ xẻ sâu vào các lớp cấu trúc của thể loại Đây là khoảng trống lý thuyết để chúng tôi tiếp tục nghiên cứu về thể loại TTLS
Trong bài “Hồ Quý Ly” (2000), Lại Nguyên Ân cho rằng nhà văn đã “khai thác tối đa các nguồn sử liệu”, vừa “hư cấu tạo ra một thực tại tiểu thuyết” tương đồng với “những thông tin còn lại về một thời đã lùi xa” và vừa “in dấu cách hình dung và trình bày riêng của tác giả” [17] Ông nói rằng nhân vật Hồ Quý Ly trong tác phẩm cùng tên của Nguyễn Xuân Khánh được “miêu tả từ nhiều điểm nhìn khác nhau” và Hồ Quý Ly xuất hiện gián tiếp “trong nỗi ám ảnh thường xuyên của các nhân vật khác”, được miêu tả trực tiếp “bằng chất liệu tiểu thuyết” Như vậy, ta thấy Lại Nguyên Ân đã đề cập đến cá tính sáng tạo của
Trang 13nhà văn, mối quan hệ giữa các yếu tố “lịch sử” và “hư cấu” trong TTLS Bên cạnh đó, Nguyễn Đăng Điệp trong tiểu luận “Tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh một diễn ngôn về lịch sử và văn hóa” khẳng định: “diễn ngôn nghệ thuật Nguyễn Xuân Khánh chính là những suy tư của ông về lịch sử và văn hóa, trong đó, văn hóa là cốt lõi của lịch sử, là chiều sâu quy định sự hằng tồn của quốc gia, dân tộc” và “giải mã sức hấp dẫn của diễn ngôn nghệ thuật Nguyễn Xuân Khánh chủ yếu nằm ở tính đối thoại trên nhiều cấp độ: nhân vật lịch sử, văn hóa, tư duy trần thuật” [148; 22]
Công trình “Bão táp triều Trần, tác phẩm và dư luận” do Nhà xuất bản Phụ nữ ấn hành năm 2006, cuốn sách này đã tập hợp rất nhiều quan điểm, ý kiến đánh giá của các nhà khoa học về tác phẩm “Bão táp triều Trần” của Hoàng Quốc Hải Trong đó có quan điểm
của nhà văn Hoàng Công Khanh đã khẳng định rằng Hoàng Quốc Hải thể hiện “cá tính, phong cách sáng tạo không giống ai” và “những thủ pháp nghệ thuật” độc đáo tạo nên sự
hấp dẫn, thú vị và thành công của tác phẩm “Bão táp triều Trần” Trong sự nhìn nhận,
đánh giá của một sử gia, Đinh Công Vĩ cho rằng sự thành công của Hoàng Quốc Hải trong
bộ TTLS “Bão táp triều Trần” thể hiện ở phương diện “tôn trọng tính khách quan”, “tái
hiện chân thực nhân vật, sự kiện lịch sử” để từ “chân lí lịch sử thăng hoa thành sự thực nghệ thuật” Nhà văn Hoàng Tiến lại nhận định rằng nhà văn Hoàng Quốc Hải đã thực hiện
sứ mệnh kết nối “quá khứ và hiện tại” qua tác phẩm Bão táp triều Trần Nhìn chung, các
nhà khoa học chưa đi sâu vào các lớp cấu trúc thể loại được thể hiện qua tác phẩm, chưa đặt tác phẩm trong các xu hướng phát triển của TTLS Việt Nam đương đại để thấy được những đặc trưng thể loại và sự cách tân nghệ thuật ở mỗi xu hướng Đây là điểm trống về mặt lý thuyết thể loại mà chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu
Một ví dụ khác, trong bài viết “Vương triều Lý dưới góc nhìn của tiểu thuyết gia Hoàng Quốc Hải” (2011) của Đặng Văn Sinh, tác giả nhận xét Hoàng Quốc Hải đã “phân định theo các mốc thời gian quy ước của khoa nghiên cứu lịch sử [ ] là tuyến tính, phù hợp với các đặc trưng thi pháp của loại hình tự sự truyền thống” [260] Ông khẳng định sự
“hư cấu” của Hoàng Quốc Hải đã tạo ra sự “cuốn hút, bắt người đọc, đọc đến tận cùng, nhưng lại tuyệt đối đảm bảo tính chân thực, không phá vỡ logic lịch sử, mà làm phong phú thêm lịch sử” [260] Ông cho rằng Hoàng Quốc Hải đã “hư cấu nhưng không vo tròn, bóp méo lịch sử, đó là quan điểm thẩm mỹ xuyên suốt toàn bộ tác phẩm” và “không gây ra cơn sốc tâm lý, kiểu như là giải thiêng thần tượng, mà ngược lại, càng củng cố thêm sự ngưỡng mộ, lòng biết ơn với các bậc tiền nhân” [260] Đặng Văn Sinh đánh giá về những
thành công của “Tám triều vua Lý” là “hư cấu trong thi pháp tiểu thuyết lịch sử của Hoàng
Quốc Hải là tạo ra một trạng thái tâm hồn dưới dạng thức suy tư của những nhân vật lịch
sử từng được định hình trong tâm thức dân tộc” [260] Nhìn chung, bài viết này cũng chưa
mổ xẻ, chưa phân tích sâu tất cả các lớp cấu trúc thể loại, chưa đặt trong xu hướng phát triển của TTLS Việt Nam đương đại để chỉ ra đặc trưng thể loại và sự cách tân của mỗi xu hướng Đây là khoảng trống để luận án này tiếp tục nghiên cứu
Trang 14Chúng tôi thấy hầu hết các sách lý luận văn học chỉ bàn đến tiểu thuyết nói chung, ít
khi đề cập đến TTLS, hầu như không nghiên cứu sâu về TTLS, lý thuyết về thể loại TTLS
vẫn còn nhiều khoảng trống thiếu hụt Ví dụ như trong công trình nghiên cứu Lý luận văn học (2011) của Trần Đình Sử (Chủ biên), La Khắc Hòa, Phùng Ngọc Kiếm, Nguyễn Xuân
Nam, Tập 2, Nxb ĐHSP, Hà Nội, các tác giả cũng chỉ có mấy dòng bàn về thể loại TTLS:
“Tiểu thuyết lịch sử (historical novel), là tiểu thuyết lấy nhân vật, sự kiện lịch sử là đề tài, tác giả có thể hư cấu một số nhân vật, tình tiết phụ, nhưng chủ yếu phải tôn trọng sự thật
lịch sử” [272; 319] Ở một công trình nghiên cứu khác như Trên đường biên của lý luận văn học, Trần Đình Sử cũng chỉ nói rất ít về vấn đề “hư cấu” của thể loại TTLS: “hư cấu
không phải là bỏ qua sự thật lịch sử, mà là tưởng tượng lại sự kiện, nhân vật lịch sử theo những khả năng mà tài liệu mách bảo, hoặc là đặt một nhân vật hư cấu vào trong một bối cảnh lịch sử để khám phá tư tưởng, tình cảm hành động của một thời kì cụ thể” [277; 456] Nhìn chung, trong các sách lý luận văn học, các nhà khoa học ít đề cập đến các vấn đề lý thuyết liên quan đến thể loại TTLS Các công trình lý luận về thể loại TTLS vẫn còn rất thưa thớt Việc nghiên cứu lý thuyết thể loại mới chỉ dừng lại ở thể loại tiểu thuyết nói chung, các vấn đề lý luận về thể loại TTLS còn khoảng trống, cần có nhiều công trình khoa học đi sâu, lấp đầy những khoảng trống thiếu hụt về lý thuyết đối với thể loại văn học này
Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia- Sự thật đã xuất bản cuốn sách “Sáng tạo văn học nghệ thuật về đề tài lịch sử” (2013) của Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật
Trung ương tập hợp nhiều bài viết của các tác giả như Đinh Thế Huynh, Nguyễn Hồng Vinh, Phan Trọng Thưởng, Đào Duy Quát, Phan Tuấn Anh, Hoàng Quốc Hải, Nguyễn Xuân Khánh, Đặng Hiển, Sương Nguyệt Minh, Vũ Nho, Hà Phạm Phú, Đoàn Đức Phương,
Hà Quảng, Trần Đăng Suyền, Trần Đình Sử, Nguyễn Huy Thông, Nguyễn Đăng Điệp bàn
về vấn đề sáng tạo văn học về đề tài lịch sử, nhất là đối với thể loại TTLS Đào Duy Quát khẳng định rằng “Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam đang đòi hỏi văn nghệ
sĩ sáng tạo nên nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cao về đề tài lịch sử” [143 ; 154] Ông bàn về vấn đề hư cấu nghệ thuật, ông nói: “hư cấu không được “biến những kẻ bán nước thành người yêu nước”, nhà văn phải “chuyển tải được tinh thần của lịch sử, chuyển tải được những thông điệp của lịch sử cho hiện tại và tương lai” [143; 157, 158] Phan Tuấn Anh chỉ ra các quan niệm về tính khách quan, chân xác của tri thức lịch sử:
“những hư cấu tự do, tùy tiện, sai sự thực và phi chủng tộc, môi trường lẫn hoàn sẽ bị xem
là một thất bại, thậm chí là tội ác trong quá trình viết về đề tài lịch sử [ ] tri thức của sử học là tri thức khoa học, nó luôn đảm bảo tính khách quan và chân xác so với thực tiễn Và nếu nhìn nhận như thế việc sáng tạo nghệ thuật phải tuân theo những dữ kiện và quan niệm của sử học là một điều bắt buộc, vì sử học chính là chân lý, là cơ sở đúng đắn và đáng tin cậy nhất [ ] Nhà văn có quyền sáng tạo tính cách nhân vật lịch sử, ý nghĩa sự kiện lịch sử, nhưng sự tồn tại của sự kiện, nhân vật, lẫn bối cảnh văn hóa của sự kiện, nhân vật thì phải tuân theo lịch sử” [143; 229-232-247] Hoàng Quốc Hải bàn về “những điều cốt yếu trong
Trang 15sáng tác văn học về đề tài lịch sử” với việc xử lý yếu tố lịch sử Ông đưa ra 4 nguyên tắc cốt lõi: người viết phải có nhu cầu tìm về nguồn cội, khám phá những thăng trầm của lịch
sử, phải tái hiện được tất cả những vinh quang và cay đắng mà lịch sử tiền nhân đã trải, cấu trúc tác phẩm phải hư cấu đạt tới độ chân thực và thông điệp lịch sử là giá trị nhân văn, giá tri tư tưởng vượt lên trước thời đại [143; 262-274] Đoàn Đức Phương bàn về khái niệm TTLS, hướng tiếp cận hiện thực lịch sử, vấn đề hư cấu, ông nói: “vai trò rất quan trọng của
hư cấu nghệ thuật, nó giúp cho các hiện tượng, sự kiện, nhân vật lịch sử [ ] tiếp tục vận động cùng với cuộc sống muôn màu muôn vẻ [ ] Bảo đảm cho độc giả rằng mọi sự đều có thể diễn ra như vậy, giúp họ hiểu nguyên nhân và hậu quả của những gì đã diễn ra trong quá khứ Vì vậy, tiểu thuyết lịch sử phải chăng là chân thật hơn lịch sử [ ] bị trói buộc khả năng hư cấu nhiều hơn so với các thể loại khác, hư cấu chỉ nằm trong một giới hạn cho phép” [143; 376-377] Nhìn chung, đây là một công trình khoa học tập hợp nhiều bài viết bàn về vấn đề sáng tạo văn học nghệ thuật về đề tài lịch sử, nhiều bài viết bàn về các thể loại như diễn ca lịch sử, thơ ca về lịch sử, chèo về đề tài lịch sử, nghệ thuật tuồng với đề tài lịch sử, kịch lịch sử, các loại hình khác như: nghệ thuật sân khấu về đề tài lịch sử, vấn đề đạo diễn các tác phẩm về đề tài lịch sử, sáng tác mỹ thuật về đề tài lịch sử, sáng tác về đề tài lịch sử trong điện ảnh, phim truyện lịch sử, sáng tạo âm nhạc về đề tài lịch sử, sáng tác múa về đề tài lịch sử, chỉ có một vài bài viết bàn về một khía cạnh nào đó của TTLS, các vấn đề bàn luận trong các bài viết còn trùng nhau, mới chỉ nêu ra, trong khuôn khổ của bài viết, các tác giả cũng chưa đi sâu vào nhiều lớp cấu trúc thể loại, chưa phân chia thành các
xu hướng, chưa khái quát được đặc trưng thể loại thể hiện qua các xu hướng phát triển của TTLS Do đó, vấn đề lý thuyết về thể loại TTLS vẫn còn khoảng trống để các công trình khoa học đi sau tiếp tục nghiên cứu và luận án này phần nào đáp ứng những khoảng trống thiếu hụt về lý thuyết thể loại Đó là điều quan trọng và cần thiết, ít nhiều đóng góp những luận điểm, luận cứ quan trọng về mặt lý thuyết thể loại làm công cụ nghiên cứu của ngành
Lý luận văn học
Sau thời kỳ Đổi Mới (từ 1986 đến nay), có một số luận án tiến sĩ bàn về TTLS, cụ thể
là đến cuối thế kỷ XX chúng tôi mới thấy xuất hiện một luận án tiến sĩ đầu tiên của Bùi
Văn Lợi với đề tài “Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ những năm đầu thế kỷ XX đến 1945 (Diện mạo và đặc điểm)” Trong công trình khoa học này, tác giả đã đi sâu vào bốn vấn đề
cụ thể Vấn đề thứ nhất, ông nêu “khái niệm tiểu thuyết lịch sử” với việc đi vào phân biệt
“sự khác nhau giữa tiểu thuyết trung đại và tiểu thuyết hiện đại ở Việt Nam” khác nhau ở
“quan điểm thẩm mỹ, cách nhìn nhận, đánh giá, miêu tả cuộc sống và thi pháp thể loại” [194] Vấn đề thứ hai, ông chỉ ra “Quá trình hình thành và vận động của thể loại tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ những năm đầu thế kỷ XX đến 1945” Trong phần này, Bùi Văn Lợi lý giải 4 nguyên nhân ra đời và phát triển của TTLS Việt Nam giai đoạn này xuất phát từ
“yêu cầu của cuộc sống dân tộc”; “yêu cầu của văn học Việt Nam trên con đường hiện đại hóa”; ảnh hưởng của văn học Trung Quốc và văn học phương Tây (không theo kết cấu
Trang 16chương hồi, xoáy vào tâm lý nhân vật); kế thừa “những tiền đề đã có” gắn với những thành tựu của văn học giai đoạn trước (về mặt nội dung lịch sử và thi pháp văn xuôi) với các thể loại khác viết về đề tài lịch sử như truyền thuyết, truyện thiền sư, thần phả- thần tích, liệt truyện, TTLS chương hồi bằng chữ Hán Vấn đề thứ ba, ông đi vào phân tích “Những đặc điểm cơ bản về nội dung” Trong phần này, tác giả đi vào 3 nội dung chính: 1 chỉ ra 3 cảm hứng chủ đạo là “cảm hứng lịch sử và dân tộc”, “cảm hứng thế sự”, “cảm hứng đạo lý” qua việc phân tích một số tác phẩm cụ thể của giai đoạn này [194]; 2 Nêu lên quan niệm nghệ thuật về con người gắn với hình tượng “người anh hùng cứu nước”, “người phụ nữ”
và chỉ ra những nét độc đáo khi khám phá “tính chất bình thường” ở người anh hùng, không né tránh việc miêu tả “tình yêu đôi lứa của con người cá nhân” qua việc phân tích một số tác phẩm cụ thể của giai đoạn này [194] Vấn đề thứ tư, Bùi Văn Lợi đi vào
“Những đặc điểm về nghệ thuật” Trong phần này, ông nêu lên “Mối quan hệ giữa tính chân thực lịch sử và hư cấu nghệ thuật”, chỉ ra “nghệ thuật xây dựng nhân vật” thể hiện qua việc khắc họa tính cách qua lời giới thiệu và tả ngoại hình, hành động Tác giả phân tích “nghệ thuật đối thoại”, “độc thoại nội tâm”, “tả thiên nhiên” để khắc họa tính cách nhân vật [194] Tác giả đi vào “nghệ thuật trần thuật”, “nghệ thuật diễn đạt” Nhìn chung, công trình nghiên cứu này mới khái quát diện mạo và đặc điểm của TTLS Việt Nam từ những năm đầu thế kỷ XX đến 1945, chưa đi sâu vào phân chia thành các xu hướng và phân tích các lớp cấu trúc thể loại của từng xu hướng để chỉ ra sự cách tân nghệ thuật so với các tác phẩm của các giai đoạn trước như đề tài của tôi lựa chọn khảo sát TTLS Việt Nam đương đại- nhìn từ góc độ thể loại
Đến cuối thập niên đầu thế kỷ XXI đã có thêm một luận án tiến sĩ văn học về TTLS
với đề tài “Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ 1945 đến nay” của Nguyễn Thị Tuyết Minh Tác giả đi vào 3 vấn đề chính Vấn đề thứ nhất, tác giả nêu lên “quan niệm”, “diện mạo và
tiến trình” của TTLS Việt Nam từ 1945 đến nay Tiếp theo phần này, tác giả đi vào “diện mạo và tiến trình” của TTLS Việt Nam từ 1945 đến nay, chia thành các giai đoạn Ở giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX, tác giả liệt kê một vài tác phẩm cụ thể và nêu qua một số vấn đề chính về nội dung và nghệ thuật Sang đến giai đoạn từ 1945 đến nay, tác giả chỉ ra chủ đề
tư tưởng, tư duy tự sự lịch sử có sự kết hợp giữa “sử liệu” và “hư cấu” một cách chủ động, chỉ ra thế mạnh của TTLS là “vai trò của tư liệu” và “sự đa dạng, phức tạp trong phong cách cá nhân”, “đặc điểm về thi pháp” trong việc khắc họa “sự kiện trọng đại”, “quần chúng nhân dân”, “vĩ nhân, danh nhân” và thi pháp “tái hiện lại những sự kiện lịch sử theo lối biên niên sử”, khắc họa nhân vật lịch sử nổi tiếng và suy tư về các vấn đề đương đại, khắc họa cả một thời đại lịch sử lớn với nhiều sự kiện nhiều nhân vật, mượn lịch sử để gửi gắm những vấn đề thế sự, tái hiện những vấn đề lịch sử- văn hóa, những phần khuất lấp và
xét lại nhân vật lịch sử [214; 35-47] Sang đến vấn đề thứ hai, Nguyễn Thị Tuyết Minh chỉ
ra “Tư duy tự sự lịch sử trong TTLS Việt Nam từ 1945 đến nay” Trong phần này, bà nêu lên nội dung thứ nhất “cảm thức lịch sử” trong tư duy của nhà văn với 2 luận điểm: “Lịch
sử như một đối tượng được chiêm bái và ngưỡng vọng” và “lịch sử như một đối tượng
Trang 17phân tích và giả định” Sang đến nội dung thứ hai, bà chỉ ra 2 khuynh hướng tái tạo lịch sử là: “tiểu thuyết hóa lịch sử” và “lịch sử hóa tiểu thuyết” với việc “Tôn trọng sự chính xác của tư liệu lịch sử”, “Phản ánh lịch sử ở tầm vĩ mô: mô hình đại tự sự” và “Xúc cảm hóa những dữ liệu lịch sử” qua việc kể tên một số tác phẩm cụ thể [214; 78-88] Tiếp theo là nội dung thứ ba, bà đi vào phân chia “các loại hình nhân vật lịch sử” như nhân vật mang khát vọng chống giặc ngoại xâm, khát vọng giải phóng, khát vọng xây dựng, cải cách; nhân vật số phận trong dòng lịch sử Tiếp theo là vấn đề thứ ba, tác giả đi vào “Các phương thức nghệ thuật tự sự lịch sử trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ 1945 đến nay” với 3 nội dung: “Nghệ thuật trần thuật”, “Nghệ thuật kết cấu”, “Ngôn ngữ và giọng điệu”
Ở nội dung thứ ba, tác giả nêu đặc điểm lớp ngôn ngữ cổ và ngôn ngữ tiểu thuyết; giọng điệu thành kính, ngợi ca lịch sử, giọng điệu đối thoại, phân tích, giải thiêng lịch sử Nhìn chung, luận án của Nguyễn Thị Tuyết Minh nghiên cứu về TTLS Việt Nam từ 1945 đến nay, có một vài gợi ý để tôi phát triển trong luận án của mình Tác giả kể tên một số tác phẩm trong một giai đoạn dài, chỉ liệt kê tên của nhiều tác phẩm của giai đoạn nửa đầu thế
kỷ XX và sau 1945, không đi sâu vào các lớp cấu trúc thể loại của tác phẩm nào, không phân chia các xu hướng phát triển của TTLS Việt Nam, chưa chỉ ra sự khác biệt, đổi mới của mỗi xu hướng trong các lớp cấu trúc thể loại Đây là khoảng trống thiếu hụt về mặt lý thuyết thể loại mà đề tài của chúng tôi tiếp tục nghiên cứu về TTLS Việt Nam đoạn đương đại từ 1986 đến nay
Năm 2014, Nguyễn Văn Hùng đã bảo vệ thành công Luận án tiến sĩ với đề tài “Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1986 dưới góc nhìn tự sự học” Tác giả đi vào 4 vấn đề
chính được chia theo 4 chương Chương 1 “Tổng quan vấn đề nghiên cứu”, tác giả đi vào tìm hiểu nội dung 1: “Tình hình nghiên cứu và vận dụng lí thuyết tự sự học” ở trong và ngoài nước Sang đến chương 2, tác giả đi vào vấn đề thứ nhất “Người kể chuyện và điểm nhìn tự sự” ở ngôi thứ ba và ngôi thứ nhất Nội dung thứ 2 của chương 2 là vấn đề “Điểm
nhìn tự sự”, tìm hiểu “Điểm nhìn phức hợp của hình thức tự sự từ ngôi thứ ba” với “Điểm nhìn bên ngoài (điểm nhìn khách quan)” dịch chuyển “điểm nhìn vào bên trong” và “Điểm
nhìn đơn tuyến và đa tuyến” [148; 52, 53] Tiếp theo chương 3, tác giả đi vào vấn đề 1
“Nghệ thuật tổ chức thời gian và kết cấu tự sự” Trong phần 1 “Nghệ thuật tổ chức thời gian”, tác giả chỉ ra sự phá vỡ thời gian tuyến tính bằng đảo thuật và dự thuật, “Tạo dựng nhịp độ thời gian bằng hình thức đoạn ngưng” qua việc “tả cảnh vật thiên nhiên, đời sống sinh hoạt văn hóa” [148; 83]; “Tập trung khắc họa thế giới nội tâm nhân vật”; “Tăng cường miêu tả chân dung ngoại hình, giới thiệu lai lịch nhân vật”, ; Trong phần 2 “Nghệ thuật tổ chức kết cấu”, tác giả đi vào phân tích “Kết cấu khung” với việc dựa vào “khung lịch sử của các triều đại để dựng khung truyện kể là kiểu kết cấu truyền thống của tiểu thuyết phương Đông, đặc biệt trong thể loại chương hồi” Tiếp theo, tác giả đi vào “Kết cấu lắp ghép, đồng hiện, đa tầng bậc”, lối kết cấu truyện lồng truyện, “Sự dung hợp thể loại và loại hình nghệ thuật” Cuối cùng là chương 4 “Diễn ngôn tự sự trong tiểu thuyết lịch sử sau năm 1986” Trong chương này, tác giả nêu “Quan niệm về diễn ngôn và diễn ngôn trong
Trang 18lịch sử”, “Diễn ngôn và một số hướng tiếp cận diễn ngôn cơ bản”, “Diễn ngôn người kể chuyện trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1986” với “Thành phần thuật chuyện”,
“Thành phần miêu tả” (thiên nhiên, rừng núi, sông nước, biển cả, tả vẻ đẹp phồn thực của
nữ giới, bản năng tính dục, tâm trạng của con người), “Thành phần bình luận, đánh giá”,
“Diễn ngôn nhân vật trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1986” thể hiện qua “Ngôn ngữ đối thoại”, “Ngôn ngữ độc thoại nội tâm”, “Cách thức tổ chức diễn ngôn tự sự trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1986” với hai luận điểm “Đan cài đối thoại của nhân vật trong lời người kể chuyện” và “Gia tăng lời gián tiếp tự do” Nhìn chung, tác giả nêu ra các vấn đề ở các chương chưa mạch lạc, một số vấn đề nêu ra chưa được giải quyết thỏa đáng Nguyễn Văn Hùng chưa phân chia TTLS Việt Nam đương đại theo các xu hướng để
đi vào các đặc điểm trong cấu trúc thể loại và chưa chỉ ra sự đổi mới về mặt nội dung và nghệ thuật của mỗi xu hướng Đây là điểm trống thiếu hụt về mặt lý thuyết, luận án này sẽ tiếp tục nghiên cứu về thể loại TTLS
Năm 2018, Ngô Thanh Hải bảo vệ thành công luận án tiến sĩ với đề tài “Ba mô hình truyện lịch sử trong văn xuôi hiện đại Việt Nam” Ở chương 1 “Tổng quan tình hình
nghiên cứu”, tác giả đi vào tìm hiểu “tình hình nghiên cứu truyện lịch sử”, trình bày “Khái niệm mô hình truyện lịch sử” trên cơ sở lý thuyết diễn ngôn của V.I.Chiupa [123; 41] Từ
đó, tác giả đi vào nghiên cứu “truyện lịch sử có thể chia thành ba mô hình cấu trúc truyền thuyết, dụ ngôn và giai thoại” [123; 43] Sang đến chương 2 “Mô hình truyền thuyết lịch sử”, tác giả đi vào nội dung 1: nêu khái niệm “truyền thuyết”, vào nội dung 2 “Chủ thể xác tín về chân lý lịch sử gắn với những câu chuyện hồi sinh” với 2 luận điểm: “Câu chuyện dựng nước và giữ nước” và “Câu chuyện thời thế biến thiên dâu bể” [123; 45] Truyện lịch
sử viết theo mô hình truyền thuyết xoay quanh hai câu chuyện chính: câu chuyện dựng nước và chống ngoại xâm để giữ nước, cứu nước và câu chuyện về những biến thiên, dâu
bể của xã hội, thời thế” [123; 46] Tiếp theo, nội dung 3 là “Bức tranh thế giới phân lập của các vai – chức năng” với 3 luận điểm: “ Ta – địch, chính nghĩa – phi nghĩa”; “Tốt – xấu, thiện – ác”; “Cái nhỏ - cái lớn, nhân dân – đất nước” Tác giả cho rằng “việc phân vai thiện – ác, tốt – xấu không theo giai tầng mà theo chuẩn mực đạo đức, luân lý và quan niệm sống, thể hiện trong suy nghĩ, hành động” [123; 65] và “Sự tái hiện bức tranh thế giới theo hai mảng đối lập này đã trở thành một nguyên tắc nghệ thuật của mô hình truyền thuyết lịch sử kể câu chuyện chống giặc giữ nước” [123; 60] Tiếp nữa, nội dung 4 “Ba hình thức ngôn ngữ thế giới quan” đều là “ngôn ngữ quan phương, ít nhiều còn tính chất ước lệ” [123; 45, 78]: 1 “Ngôn ngữ trận mạc” và “mô thức tu từ thể hiện các vấn đề, tiếng nói của quốc gia, dân tộc: hịch, cáo, thệ” [123; 75]; 2 “Ngôn ngữ họ hàng, dòng tộc” và “qua lăng
kính của ngôn ngữ dòng tộc, nền tảng để kiến tạo hình tượng không gian là chữ nhà” [123;
77]; 3 “Ngôn ngữ hội hè, đám đông” Tiếp theo chương 3 “Mô hình dụ ngôn lịch sử”, với
3 vấn đề: 1 “Chủ thể, người sở đắc chân lý và những bài học” với 3 luận điểm: “Hình tượng tác giả - chủ thể bộc lộ trực tiếp”; “Người kể chuyện - chủ thể nhập vai” và “Hệ thống nhân vật - chủ thể phân vai” với việc đi vào khái niệm nhân vật, tác giả cho rằng mỗi
Trang 19nhân vật mang chức năng như là “mặt nạ ngôn ngữ”, “vai phát ngôn” với 2 chức năng “vai lịch sử và văn học” [123; 94-98]); 2 “Bức tranh thế giới của những chủ thể lựa chọn” với 3 luận điểm: “Chủ thể nhập thế”, “Chủ thể xuất thế” và “Chủ thể trung dung” [123; 107]; 3
“Kết cấu – hình thức ngôn ngữ đặc trưng chuyển tải bài học dụ ngôn” với các đặc trưng
“Từ kết cấu kiểu tiểu thuyết cổ điển tạo khung cho tác phẩm”, “đến phá vỡ kết cấu mạch thời gian biên niên” bằng việc “đảo, xóa mờ những mốc thời gian lịch sử cụ thể” [123; 112]; “và thay đổi ý nghĩa mô hình hóa cặp phạm trù mở đầu – kết thúc” để quan điểm về
“chính sự, lịch sử, văn hóa và con người” [123; 113, 114] Cuối cùng là chương 4 “Mô hình giai thoại lịch sử”, với 3 vấn đề như: 1 “Chủ thể bất khả tín về chân lý và những truyện kể mới” với 3 luận điểm: “Chủ thể của những câu chuyện mơ hồ, hư thực”, “Chủ thể của những câu chuyện về thân phận cá nhân” và “Chủ thể của những câu chuyện ngẫu nhiên, bất định”; 2 “Bức tranh thế giới lập thể của những mảnh vỡ lịch sử” với 3 luận điểm: “Những mảnh vỡ ngẫu nhiên, huyền hoặc”, “Những mảnh vỡ của lịch sử quan phương, theo tiến trình biên niên” và “Sự đan cài các mảnh vỡ, kiến tạo cấu trúc diễn ngôn”; 3 “Ngôn ngữ nghệ thuật mang tính tổng hợp cao” với 3 luận điểm: “Lịch sử như một ngôn ngữ, một mã nghệ thuật”, “Phá bỏ phân vai ước lệ” và “Sự trở về ngôn ngữ thế tục” gắn với “ngôn ngữ thế tục, suồng sã, mang đậm chất khẩu ngữ” [123; 142] Nhìn chung, Ngô Thanh Hải tiếp cận mô hình truyện lịch sử từ lý thuyết diễn ngôn, phần lớn tác phẩm khảo sát thuộc thể loại truyện ngắn, trong đó có nhắc đến tên một vài TTLS, nhưng tác giả cũng chưa đi sâu vào lý thuyết thể loại thể hiện qua các xu hướng phát triển của TTLS Việt Nam đương đại, chưa phân tích đặc điểm các lớp cấu trúc thể loại trong mỗi xu hướng để chỉ ra sự đổi mới của thể loại Đây là chỗ còn thiếu hụt về mặt lý thuyết mà luận
án của tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu
Năm 2020, có luận án với đề tài “Tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai” của Đỗ Thị Nhàn với 4 chương Chương 1với 3 vấn đề : “Tổng quan tình hình nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử” với việc nêu khái niệm, liệt kê các công trình nghiên cứu về TTLS trên thế giới, nêu
“sự khác nhau giữa TTLS thời kì trung đại và thời kì hiện đại”, “tình hình nghiên cứu về Lan Khai và tiểu thuyết lịch sử của ông”, “Những vấn đề cấp thiết đặt ra trong nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai” Chương 2 “Từ quan niệm nghệ thuật đến quá trình sáng tác tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai” với 2 nội dung “Về quan niệm của Lan Khai” với quan niệm về nhà văn, văn học và quan niệm nghệ thuật về con người; “Quá trình sáng tác của Lan Khai” với 4 luận điểm “Sở trường sáng tác”, “Hoàn cảnh sáng tác”, “Diễn trình sáng tác” và “Tiểu thuyết lịch sử trong sự nghiệp sáng tác của Lan Khai và trong sự vận động của thể tài tiểu thuyết lịch sử Việt Nam” Chương 3 “Từ hiện thực lịch sử đến bức tranh nghệ thuật trong tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai ” với 3 nội dung “Cảm hứng sáng tác” với việc “ca ngợi truyền thống yêu nước của dân tộc”, “ca ngợi cái đẹp, cái thiện”,
“Phê phán xã hội phong kiến và chiến tranh phi nghĩa”; “Sự kiện trong tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai” với các luận điểm “Sự hoán đổi ngôi vị của các triều đại phong kiến”,
“Những cuộc nội chiến”, “Những cuộc nổi dậy của nhân dân”, “Những cuộc đấu tranh
Trang 20chống kẻ thù xâm lược và bè lũ tay sai”; “Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai” gồm “Nhân vật vua chúa, quan lại và tướng lĩnh”, “Nhân vật người anh hùng”,
“Người phụ nữ”, “Nhân vật binh sĩ và dân chúng”, “Nhân vật kẻ thù cướp nước và bán nước” Chương 4 có 5 nội dung “Sự kết hợp hài hòa giữa lịch sử và hư cấu nghệ thuật”;
“Nghệ thuật kết cấu” với việc “Kế thừa và sáng tạo kết cấu của tiểu thuyết truyền thống”
và “Kết cấu kiểu tiểu thuyết hiện đại”; “Các phương thức kiến tạo chân dung nhân vật”;
“Thời gian và không gian nghệ thuật”; “Nghệ thuật trần thuật” với “Người trần thuật, điểm nhìn trần thuật”, “Ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật” Có thể nói, tác giả đã nghiên cứu về một nhà văn cụ thể là Lan Khai với 20 cuốn tiểu thuyết lịch sử trước giai đoạn 1945 có dung lượng nhỏ và mỏng được liệt kê trong danh mục tài liệu tham khảo, không nghiên cứu về giai đoạn đương đại như đề tài của chúng tôi
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nói trên chỉ là những bài báo ngắn, nêu lên một yếu tố nào đó của thể loại mà chưa đi sâu vào vấn đề được nêu, có một số sách lý luận văn học cũng ít đề cập đến lý thuyết thể loại TTLS, cho thấy khoảng trống còn thiếu hụt về mặt
lý thuyết Bên cạnh đó, một số luận văn thạc sĩ chỉ đi vào một khía cạnh nào đó của một tác phẩm cụ thể, nên chưa có tính khái quát về mặt lý thuyết thể loại Cuối cùng, chúng tôi thấy có 4 luận án tiến sĩ công phu nói trên đi sâu vào cả giai đoạn dài và có sự tiếp nối về thời gian, còn luận án của Đỗ Thị Nhàn chỉ nghiên cứu về một tác giả cụ thể thuộc giai đoạn trước 1945 với một số tác phẩm có dung lượng nhỏ và mỏng Nhưng, các công trình nghiên cứu đó vẫn còn thiếu hụt về mặt lý thuyết thể loại như đã nêu trên, phần lớn các tác giả mới dừng lại ở việc điểm qua một bình diện nào đó của tác phẩm cụ thể, chưa có công trình nào phân tích thấu triệt các lớp cấu trúc thể loại của các xu hướng TTLS Việt Nam đương đại để thấy được các đặc trưng thể loại và sự đổi mới của mỗi xu hướng TTLS Vì thế, đề tài của chúng tôi đi sâu khái quát các đặc trưng thể loại, ý nghĩa, vai trò, sự cách tân của TTLS Việt Nam đương đại theo ba xu hướng: bám sát sử liệu, dụ ngôn hóa sử liệu và đối thoại với sử liệu là điều quan trọng và cần thiết, có những đóng góp nhất định cho ngành Lý luận văn học nước nhà
1.2 Các quan niệm về đặc trƣng thể loại
Khi bàn về TTLS, hệ thống các quan điểm của các nhà khoa học trong và ngoài nước
được nói đến trong các công trình nghiên cứu có thể chia thành ba luồng ý kiến chính, một
là kết hợp hài hòa 2 yếu tố “lịch sử” và “hư cấu”, hai là thiên về tính tiểu thuyết và “hư cấu” nghệ thuật, ba là đề cao yếu tố “lịch sử” và trung thành với các sự thật lịch sử được ghi chép trong sử liệu Trong đó, chúng tôi thấy hầu hết các nhà lý luận văn học theo quan
điểm thứ nhất, cho rằng cần tôn trọng sự thật lịch sử và nhà văn có quyền được hư cấu ở một giới hạn, mức độ nhất định, yếu tố “lịch sử” và “hư cấu” sẽ chi phối, quy định, ràng buộc lẫn nhau, cần kết hợp chúng một cách hài hòa, hợp lý theo nguyên tắc thể loại Ngoài
ra, các nhà nghiên cứu còn bàn nhiều về mối quan hệ giữa nhà văn – tác phẩm - bạn đọc, các vấn đề tiếp nhận văn học, ý nghĩa và tác dụng của tiểu thuyết lịch sử với cuộc sống
Trang 21hôm nay,…
1.2.1 Quan niệm về kết hợp hài hòa giữa lịch sử và hƣ cấu nghệ thuật
Trước hết, luận án tổng hợp lại các ý kiến cho rằng TTLS cần kết hợp hài hòa giữa lịch sử và hư cấu nghệ thuật, nhà văn cần phải tôn trọng tính chân thật của lịch sử, đồng
thời được phép tưởng tượng, sáng tạo, gia công, thêm bớt các chi tiết ở một mức độ nhất định để đưa các nhân vật lịch sử vào tác phẩm văn học sống động theo cái nhìn chủ quan của mình, mang cảm xúc thẩm mỹ đến cho người đọc, nhưng không làm sai lệch sự thật
“lịch sử chính trị” của nước nhà Tiêu biểu cho hệ thống quan điểm này, ta có thể nhắc đến hàng loạt các tác giả như Chế Lan Viên cho rằng “các nhà tiểu thuyết lịch sử phải nhảy qua
hai vòng lửa, vòng lửa lịch sử và vòng lửa tiểu thuyết, nghĩa là vừa phải tôn trọng tính chân thực lịch sử, vừa phải hư cấu trong quá trình viết tiểu thuyết lịch sử” [214; 24] Giống
với ý kiến trên, Nguyễn Phương Chi cho rằng một TTLS thành công, tạo được tiếng vang trong công chúng khi nó “vẽ lại được diện mạo lịch sử”, cho thấy “quy luật vận động bên trong của lịch sử” và nhà văn phải xây dựng được các “chân dung lịch sử” có cá tính sống động, có đời sống, vận mệnh của các nhân vật tiểu thuyết [55] Nhất trí với quan điểm cho rằng TTLS cần kết hợp hài hòa yếu tố “lịch sử” và “hư cấu”, trong bài “Tiểu thuyết lịch sử
của Hoàng Quốc Hải và Thủ đô sắp ngàn năm tuổi” (2008), Nhà văn số10, Võ Gia Trị bày
tỏ quan điểm: “Tiểu thuyết lịch sử là một thể loại văn học gồm hai bộ phận không thể tách rời là phần tiểu thuyết và phần lịch sử, người viết ở đây không thể bỏ được phần nào, và chính cái phần lịch sử luôn đòi hỏi người viết biết sử dụng nó nhuần nhuyễn trong sáng tạo nghệ thuật của mình [ ] xây dựng hình tượng nghệ thuật một cách chính xác và sinh động
hơn” Vì thế, yếu tố lịch sử là yếu tố nòng cốt của thể loại và nghệ thuật hư cấu cũng là yếu tố quan trọng tạo nên sức thuyết phục, lôi cuốn người đọc Cùng trong quan điểm bàn
về sự kết hợp hài hòa giữa lịch sử và hư cấu trong TTLS, Lucacs nói rằng “Hiện thực lịch
sử” trong TTLS được thể hiện qua việc miêu tả cuộc sống “đời thường của nhân dân, nỗi đau và niềm vui sướng của những con người bình thường” và “chỉ ra được các biến cố liên quan tới số phận của nhân dân”, “phải mô tả số phận của nhân dân”, cùng “đời sống thực tiễn của nhân dân” [78] Các nhân vật lịch sử phải được miêu tả cụ thể, chân thực, hiện lên như “những con người với đầy đủ tính cách tốt, xấu, mạnh, yếu, không nên thần thánh hóa hoặc hạ thấp các nhân vật lịch sử quan trọng xuống mức tầm thường” [78] G.Lucacs quan niệm về thể loại: “Tiểu thuyết lịch sử phản ánh và mô tả sự phát triển hiện thực của lịch sử một cách nghệ thuật, vì thế nó phải lấy kích thước nội dung và hình thức từ chính cái hiện thực đó” [304; 455]; Các nhà văn phải “chứng minh sự tồn tại của hoàn cảnh và các nhân vật lịch sử bằng công cụ nghệ thuật” và “nhiệm vụ của nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử là phải tạo dựng được một cách phong phú các tác động tương hỗ, cụ thể khớp với hoàn cảnh lịch sử mô tả” [304; 451] Cùng trong quan điểm này, Bùi Văn Lợi đã nhấn mạnh đặc điểm quan trọng nhất của TTLS là “người nghệ sĩ phải làm sống lại những tài liệu lịch sử bằng trí tưởng tượng, bằng quyền hư cấu và sáng tạo nghệ thuật của mình […], việc nghiên cứu lịch sử là rất cần thiết đối với người nghệ sĩ, vì anh ta có nhiệm vụ phải phản ánh trung
Trang 22thành một hiện thực lịch sử và làm sống lại những nhân vật lịch sử” [192] Trong khi đó, Lại Nguyên Ân nêu khái niệm thể loại: “Tác phẩm tự sự hư cấu lấy đề tài lịch sử làm nội dung chính” Tuy vậy, “những tiêu điểm chú ý của các sử gia lẫn các nhà văn quan tâm đến
đề tài lịch sử, thường đều là sự hình thành, hưng thịnh, diệt vong của các nhà nước, những biến cố lớn trong đời sống xã hội của cộng đồng quốc gia, trong quan hệ giữa các quốc gia như chiến tranh, cách mạng, cuộc sống và sự nghiệp của những nhân vật có ảnh hưởng đến tiến trình lịch sử” [19; 1725] Vì vậy, nhà văn phải có vốn kiến thức sâu rộng, uyên bác về lịch sử, có tầm nhìn văn hóa cao để nhận thức, đánh giá các sự kiện và nhân vật lịch sử đảm bảo tính xác thực, đồng thời phải có trí tưởng tượng phong phú, sâu sắc Tiểu biểu cho quan điểm nói trên, nhà văn Thái Vũ coi trọng sự “trung thực” với lịch sử, cho rằng nhà văn được phép “hư cấu” nhưng không bóp méo và không xuyên tạc lịch sử, ông nói: “Viết tiểu thuyết lịch sử trước hết phải trung thực với mọi chi tiết lịch sử mà biên niên sử có ghi
Hư cấu nhưng không phải là bịa Tôi tôn trọng tính chân xác của lịch sử” [214; 23] Khi bàn luận về “tính khách quan” của lịch sử và “tính chủ quan” của người viết, ông khẳng định rằng các nhà viết “sử văn học” viết theo “quan điểm thời đại của người viết sử”, không thể nào khắc phục được một cách triệt để mâu thuẫn giữa “tính khách quan của lịch
sử với tính chủ quan của người viết sử”, giữa “yêu cầu về tính khách quan của sự kiện lịch
sử với tính chủ quan của người viết sử” Ông cho rằng “tính chủ quan của người viết sử không thể biến thành một sự áp đặt tùy tiện, không thể là một sự tán tụng vô căn cứ” Qua trao đổi trong quá trình nghiên cứu, ông khẳng định “hư cấu phải đảm bảo tính chân thực lịch sử của tiểu thuyết lịch sử”, “hư cấu nghệ thuật còn xuất phát từ quan niệm nghệ thuật của nhà văn”, “có nhà văn chủ trương trung thành với lịch sử, có nhà văn đề cao sự sáng tạo hư cấu” Nhưng “những chi tiết hoang đường đưa vào” cũng nên “hạn chế ở mức vừa phải, không bị lạm dụng”, “nghệ thuật hư cấu phải không làm tổn hại đến tính chân thực” của một cuốn tiểu thuyết lịch sử [72; 41-50] Cùng trong quan điểm bàn về đặc trưng “hư cấu” trong nguyên tắc thể loại, Phạm Huy Thông cho rằng: “hư cấu nhưng không được xuyên tạc lịch sử” và “khi sáng tạo văn học, nhà văn có quyền hư cấu những con người, sự kiện, hoàn cảnh ngoài sử để khắc họa thêm chiều sâu tính cách”, và “dựng lên những bức tranh xã hội có dung lượng hiện thực lớn” Ông khẳng định: “Hư cấu là đặc trưng của tiểu thuyết, là mảnh đất cho nhà văn thả sức tưởng tượng, làm nổi bật lên những mảnh đời và
số phận qua những biến động lịch sử ” Phạm Huy Thông nhấn mạnh rằng “nhà văn cũng phải trung thành với sự thật lịch sử: dứt khoát, bắt buộc người viết tiểu thuyết lịch sử […] phải tôn trọng, trung thành với lịch sử, không được xuyên tạc lịch sử tùy tiện”, không
“đánh giá chủ quan sai lầm, nhất là đối với các sự kiện, nhân vật đã được kết luận rõ ràng Nhà văn phải trung thành với hiện thực khi xây dựng nhân vật lịch sử đã được nhân dân tôn thờ, kính trọng suốt từ bao đời nay” [333] Cùng trong luồng quan điểm trên, Nguyễn Thanh Tú nhấn mạnh: “Tiểu thuyết lịch sử là sự sáng tạo trên nền sự thật mà biểu hiện rõ nhất là các nhân vật lịch sử Các sự kiện cũng xoay quanh các nhân vật này Do vậy, nhà tiểu thuyết phải bám vào nhân vật lịch sử để hư cấu, sáng tạo và không được xuyên tạc nhân vật lịch sử” Ông nói: “Tác phẩm về đề tài lịch sử là sự sáng tạo, hư cấu trên cái nền
Trang 23đã ổn định của sự kiện lịch sử và nhân vật lịch sử” [295] Tiếp nối các quan điểm trên, Hoàng Minh Tường đã bàn về mối quan hệ “trung thực với lịch sử” và “hư cấu”, ông nói:
“phẩm chất cần có của nhà tiểu thuyết lịch sử là phải trung thực với lịch sử Nhà văn viết
về lịch sử có quyền hư cấu, tưởng tượng, thậm chí sáng tạo thêm các nhân vật, sự kiện để làm sáng tỏ lịch sử, soi rọi lịch sử, nhưng không thể bóp méo hay bịa tạc lịch sử một cách phi logic, theo ngẫu hứng của riêng mình” [298] Cùng trong hệ thống quan điểm này, Trần Đình Sử đã nhận định “sự thật lịch sử và hư cấu là hai vấn đề then chốt của tiểu thuyết lịch sử” và “Cái chính của tiểu thuyết lịch sử là sáng tạo nhân vật và đời sống của một thời kỳ lịch sử cụ thể không lặp lại Sự kiện lịch sử là dấu ấn của một thời, không thể thiếu với tiểu thuyết lịch sử” [99; 467, 468] Ở một bài viết khác, ông nói : “lịch sử chỉ là sự trần thuật về lịch sử, mà đã là trần thuật thì khó tránh chủ quan” Ông cho rằng “Lịch sử khách quan vẫn có”, và “những sách sử chỉ là một cách ghi, một điểm nhìn, một lối tu từ”, chứ “không phải là bản thân sự thật lịch sử hoàn chỉnh”, có “nhiều sự việc không được ghi Người ta có thể bỏ điều này, thêm điều kia, giải thích lại các sự kiện, nên khó tránh khỏi tính chủ quan
và hư cấu của người viết sử” Ông còn phát biểu điều quan trọng hơn là “miêu tả trung
thực bằng nghệ thuật một thời kì lịch sử cụ thể, nhưng không thể đòi hỏi hoàn nguyên lịch
sử, một việc mà bản thân sử học cũng không làm được” [274] Ông nêu nội hàm khái niệm TTLS: “Các tác phẩm viết về đề tài lịch sử này có chứa đựng các nhân vật và các chi tiết hư
cấu, tuy nhiên nhân vật chính và sự kiện chính thì được sáng tạo trên các sử liệu xác thực trong lịch sử” [125; 302] Bàn về thể loại văn học này, Trần Đình Sử còn khẳng định:
“Tiểu thuyết lịch sử (historical novel), là tiểu thuyết lấy nhân vật, sự kiện lịch sử là đề tài, tác giả có thể hư cấu một số nhân vật, tình tiết phụ, nhưng chủ yếu phải tôn trọng sự thật lịch sử” [272; 319] Nối tiếp các quan điểm trên, Ngô Văn Phú nêu quan điểm: “Phần sử như cái khung của ngôi nhà Nhưng ngôi nhà có đẹp hay không còn tuỳ thuộc vào tài hoa ở bàn tay thợ Ở đây tôi muốn nói chất tiểu thuyết phải thổi được vào hồn của lịch sử” Ông nhấn mạnh: “phải nghiêm túc về mặt lịch sử”, “lựa chọn khoảnh khắc, thời điểm, để sự kiện và nhân vật lịch sử hiện ra rõ nhất” [243] Khi nói về thể loại này, nhà văn Hoàng Quốc Hải nhận định: “tiểu thuyết lịch sử đều phải lấy hư cấu làm phương tiện nghệ thuật”
và ông cho rằng “sự thật lịch sử trong tiểu thuyết lịch sử đáng tin cậy hơn vì nó được giải
mã, nó có cuộc sống Sự thật lịch sử trong lịch sử chỉ là những tín hiệu chứa đựng những thông tin vô cảm nhưng trong tiểu thuyết lịch sử nó lại sống động” [225] Như vậy, ta thấy yếu tố lịch sử và hư cấu chi phối, ràng buộc, quy định lẫn nhau trong cấu trúc thể loại
1.2.2 Quan niệm đề cao yếu tố “hƣ cấu” nhƣ là đặc trƣng của tiểu thuyết lịch sử
Bên cạnh luồng quan điểm nói trên, chúng tôi thấy có luồng ý kiến thứ hai, khẳng định TTLS nhất thiết phải có sự “hư cấu” nghệ thuật, “hư cấu” là yếu tố được đề cao, coi trọng hơn yếu tố “lịch sử” Họ cho rằng nguồn sử liệu “chỉ là phương tiện” để nghệ sĩ sáng tác, lịch sử chỉ là “cái đinh” để nhà văn “treo các bức tranh” trong thế giới nghệ thuật Tiêu biểu cho quan điểm này là Nguyễn Xuân Khánh, ông nêu ra hai khuynh hướng viết TTLS
và nhấn mạnh rằng tùy thuộc vào từng loại, mà nhà văn có thể thiên về “hư cấu” sáng tạo hay đề cao yếu tố “lịch sử”, ông nói: “Một là viết về những nhân vật nổi tiếng trong lịch
Trang 24sử” và “người viết không được bịa đặt một cách trắng trợn Chỉ được phép hư cấu về tâm
lý hoặc thêm những nhân vật hư cấu để soi sáng nhân vật có thực Còn một loại khác là nhà văn xây dựng không khí xưa nhưng nhân vật là nhân vật hư cấu Có một vài nhân vật nhưng chỉ làm bối cảnh cho nhân vật hư cấu Và lịch sử chỉ là cái đinh treo” [149] Ở một bài viết khác, ông khẳng định: “Đã gọi là tiểu thuyết thì phải hư cấu” và “người viết phải hòa trộn nhuần nhuyễn giữa thực và hư, giữa lịch sử và hiện tại, giữa tri thức và cảm thức” Ông cho rằng “những vấn đề cuốn sách đặt ra không chỉ cần đúng với lịch sử mà còn phải
là những vấn đề được người hiện tại quan tâm” [181] Trong bài viết gần đây, ông nói:
“Khi viết tác phẩm này (Hồ Quý Ly) tôi rất trung thành với sự kiện lịch sử Tuy nhiên tiểu
thuyết lịch sử không chỉ dừng lại ở đó mà nhà văn sẽ phải dùng kiến thức của mình về văn hóa, lịch sử dân tộc cùng những trải nghiệm để có được một cái nhìn tổng thể về thời đại
và thời cuộc [ ] Tiểu thuyết lịch sử phải dựng lại bối cảnh không khí của thời đại” [116; 48] Ở một chỗ khác, Nguyễn Xuân Khánh nhận định: “Đã là tiểu thuyết thì phải hư cấu,
dù đó là tiểu thuyết lịch sử, hư cấu là đặc trưng của tiểu thuyết Hư cấu là đặc quyền của
nhà văn” [166] Đồng quan điểm trên, nhà văn Pháp- Alexandre Dumas nhận định: “Lịch
sử đối với tôi là gì? Nó chỉ là cái đinh để tôi treo các bức họa của tôi mà thôi” [214; 21]
Tiếp nối quan điểm này, trong cuốn Nguyễn Huy Tưởng, Hà Minh Đức và cộng sự đã đề
cao sự “sáng tạo” của nhà văn trong việc kiến tạo các lớp cấu trúc thể loại bằng nghệ thuật
hư cấu: “Việc nghiên cứu lịch sử là vô cùng cần thiết đối với nghệ sĩ, nhưng sự nghiên cứu
ấy không thể thay thế sự sáng tạo Có khi nghệ sĩ chỉ cần vài khoảnh khắc của nhân vật lịch
sử, có khi nghệ sĩ đưa vào tác phẩm những điều phi lịch sử không quan trọng, thậm chí trong một chừng mực nào đó, có quyền vi phạm sự đúng đắn về mặt sự kiện, bởi vì tác giả chỉ cần sự đúng đắn về mặt lý tưởng” [106] Điều này có nghĩa là trong quá trình sáng tạo nghệ thuật, các nhà văn vừa phải chú ý tới “lịch sử”, vừa có quyền được “hư cấu”, nhưng
“việc nghiên cứu lịch sử […] không thể thay thế sự sáng tạo”, nghĩa là đề cao tính “hư cấu” Đặc biệt là Hoàng Ngọc Hiến cho rằng người viết được phép “hư cấu lịch sử” và xây dựng một “mối quan hệ thân mật, thân tình, thậm chí suồng sã đối với nhân vật lịch sử” [134] Còn Phan Cự Đệ nói: “Trong quá trình sáng tác, các nhà tiểu thuyết lịch sử vừa phải tôn trọng các sự kiện lịch sử, vừa phải phát huy cao độ vai trò của hư cấu, sáng tạo nghệ thuật” [214; 23] Giống như các ý kiến nói trên, S Haasse nhấn mạnh quan điểm của bà khi viết TTLS: “dựa trên những sự kiện và biến cố lịch sử hoặc có liên quan đến những con người có thật, chủ định của tôi không bao giờ lấy việc tái hiện quá khứ làm nhiệm vụ hàng đầu Trong văn học, đề tài lịch sử là một phương diện chứ không phải một cứu cánh” [96; 55] Cùng trong quan điểm coi trọng “hư cấu”, Nguyễn Thị Tuyết Minh khẳng định
“khuynh hướng tiểu thuyết hóa lịch sử” là khuynh hướng “nhà văn biến những tư liệu chính xác của lịch sử thành tiểu thuyết, thành những sản phẩm hư cấu, tưởng tượng của cá nhân nghệ sĩ” và “khi đó, lịch sử trở thành chất liệu”, “được nhào nặn, thiết kế lại Và nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử là sáng tạo một lịch sử khác”, “lúc này, tiểu thuyết lịch sử” được “chủ quan hóa triệt để” [215; 56, 64] Chúng tôi nhất trí với quan điểm của tác giả nói rằng các nhà văn được quyền “hư cấu” dựa trên nguồn sử liệu, hư cấu “đời sống riêng, tâm
Trang 25lý các nhân vật” để lịch sử trở nên sinh động hơn Nhưng, việc “chủ quan hóa triệt để” lịch
sử thì chúng tôi cho rằng cần phải bàn luận thêm Bởi vì, tác giả Nguyễn Văn Dân nhấn mạnh rằng “lịch sử chính trị” đóng vai trò “chi phối mạnh mẽ đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có văn học”, không thể nào khắc phục được một cách triệt để mâu thuẫn giữa “tính khách quan của lịch sử với tính chủ quan của người viết sử”, “tính chủ quan của người viết sử không thể biến thành một sự áp đặt tùy tiện” Đặc biệt là nhà văn khi viết TTLS không thể “chủ quan hóa triệt để” theo hướng xuyên tạc và bóp méo
“lịch sử chính trị” của đất nước để kẻ thù lợi dụng, mà chỉ có thể “hư cấu” lịch sử ở một
“giới hạn nhất định” theo nguyên tắc thể loại, để mang cảm xúc thẩm mỹ đến cho người đọc, thúc đẩy sự tiến bộ xã hội, làm đất nước ngày càng phát triển tốt đẹp, vững mạnh hơn Đồng quan điểm với các tác giả trong luồng ý kiến này, Nam Dao cho rằng “ngoài dòng chính sử, còn có phần lịch sử hình thành qua trí tưởng tượng” và “biến cố lịch sử trở thành đối tượng đem soi dưới lăng kính chủ quan, nhào nặn lại qua ngòi bút người viết” [64]
Trong “Thảo luận về tiểu thuyết lịch sử”, Nam Dao đã nói rõ hơn về việc coi trọng đặc trưng hư cấu của tiểu thuyết lịch sử: “Trong tiểu thuyết lịch sử, quá khứ là lịch sử nhìn bởi
nhà văn, nhà văn như chủ thể Đó là quá khứ tái chiếm hữu và tái tạo từ vị thế hiện tại của chủ thể với ý thức giới hạn của sự truy tìm chân lí khách quan” và ông khẳng định: “Tiểu thuyết lịch sử là sự dấn thân của nhà văn nhằm phục sinh một thời đại cần tháo gỡ hầu thoát khỏi những dự phóng về một tương lai có thể được” [65] Quan niệm này đề cao tính
hư cấu nghệ thuật của chủ thể sáng tạo Điều này càng được thể hiện rõ hơn trong nhận
định của Nam Dao khi viết tác phẩm ió lửa: “cái khung lịch sử đó được sử dụng như
phương tiện cấu tạo tiểu thuyết và sau đó thì tiểu thuyết là phương tiện để tác giả thể hiện những tư duy, biện minh và dự phóng cho chủ đề lịch sử” [65] Cùng trong hệ thống quan
điểm đề cao đặc trưng “hư cấu” của thể loại, Nguyễn Mộng Giác nói: “Khi viết Sông Côn mùa lũ, tôi chú trọng phần tiểu thuyết hơn phần lịch sử Nhưng trong phần lịch sử, tôi
không dám mạnh tay gạt phăng những gì còn ghi lại trong tài liệu lịch sử” [65] Nhất trí với quan điểm này, tác giả Hải Thanh cho rằng “tiểu thuyết lịch sử là sự sáng tạo, hư cấu trên cái nền đã ổn định của sự kiện lịch sử và nhân vật lịch sử Nhà tiểu thuyết lịch sử có thể tha hồ bay lượn trong không gian tưởng tượng sáng tạo”, nhưng phải “làm sáng tỏ hơn lịch sử” [310] Ta thấy Hải Thanh cũng chú trọng đặc trưng “hư cấu” nhiều hơn yếu tố
“lịch sử”, nhưng “hư cấu” phải làm cho “lịch sử” trở nên “sáng tỏ hơn”, cụ thể, chân thực, xác tín hơn
1.2.3 Quan niệm coi trọng yếu tố “lịch sử” hơn “hƣ cấu”
Bên cạnh hai luồng ý kiến nói trên, chúng tôi thấy còn có luồng ý kiến thứ ba thiên về yếu tố “lịch sử”, cho rằng nhà văn phải coi trọng “tính chân thật của lịch sử”, trung thành với “sự thật lịch sử” hơn là “hư cấu” sáng tạo Tiêu biểu cho quan niệm này, chúng
tôi thấy có một số ý kiến như Nguyễn Trường Thanh khẳng định: “vấn đề cốt tử vẫn phải đảm bảo tính chân xác, trung thực, khách quan của nhân vật lịch sử, sự kiện lịch sử, làm sáng lên tinh thần tự tôn dân tộc, nhân lên sức mạnh tình yêu cuộc sống, yêu quê hương, đất nước” [143 ; 179] Bên cạnh đó, Tạ Ngọc Liễn trong bài “Mối quan hệ giữa sử và văn”,
Trang 26cho rằng: “ngòi bút hư cấu của nhà văn không thể tùy tiện, phải có mức độ, đặc biệt khi viết về những sự kiện lịch sử quan trọng, những nhân vật có tầm vóc lớn, thân thế và sự nghiệp của họ đã gắn liền với vận mệnh đất nước, số phận nhân dân” [214; 468] Cùng trong quan điểm trên, ta phải kể đến A.Tônxtôi nói rằng tác phẩm của ông viết về nước Nga là: Bộ tiểu thuyết của ông “chính xác như một tác phẩm nghiên cứu lịch sử, đó chính
là sức mạnh của nó” [214; 19] Lời khẳng định của A.Tônxtôi cho thấy ông đề cao, coi trọng tính “chính xác” của lịch sử hơn tính hư cấu của tiểu thuyết nói chung Các sự kiện,
hiện tượng và con người chủ yếu của TTLS phải là người thật việc thật được chép trong sử liệu Đây là đặc trưng quan trọng đầu tiên của thể loại TTLS để phân biệt với thể loại tiểu thuyết nói chung
Ngoài ra ba luồng ý kiến nói trên, các nhà khoa học còn đề cập đến nội dung “thế sự”, các “mã lịch sử”, “mã văn hóa”, “mã ngôn ngữ” trong TTLS, đặc sắc nghệ thuật và nhiều vấn đề lý luận về thể loại TTLS như Đan Thành cũng nêu lên suy nghĩ của mình về con người thế sự trong TTLS, ông nói “các nhân vật lịch sử không phải là thần thánh Họ cũng
là người thường, nhiều ham muốn, thậm chí tầm thường” [318] Chủ nghĩa tân lịch sử với
tác giả tiêu biểu là Hayden White, cho rằng “tất cả những cái gì của lịch sử có thể còn lại trước mắt chúng ta đều không phải là bản thân lịch sử, mà chỉ là những biểu hiện của nó”
và “lịch sử còn lại chỉ là những văn bản trần thuật”, nên “không tránh khỏi thành phần tưởng tượng và hư cấu” [204] Khi nghiên cứu về quan điểm của ông này, Phương Lựu đã
chỉ ra cơ sở của chủ nghĩa tân lịch sử là đặt trên “quan hệ chủ thể - lịch sử”, nên không thể
tránh khỏi “thiên hướng cá nhân” mang tính chủ quan và hư cấu Do đó chúng ta “không thể nào đi đến được một chân lý tuyệt đối khách quan vốn có trong lịch sử” [204] M Foucault xem xét mối quan hệ “chủ thể với lịch sử”, cho rằng mọi sự lí giải về TTLS gắn với các nhân vật có thật chỉ có thể giữ “nguyên ý” cốt lõi của lịch sử, đó là cuộc đối thoại lớn với lịch sử và thời đại Tóm lại, hầu hết các ý kiến nói trên đều gợi mở các vấn đề lý luận về lý thuyết thể loại TTLS, và sự phân luồng các quan điểm nói trên chỉ mang tính
tương đối
Đến thời gian gần đây nhất, các bài viết của các nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Kim Tiến, Nguyễn Văn Dân, Đỗ Hải Ninh, Nguyễn Quang Thiều, Hà Phạm Phú, đã đề cập trực tiếp
đến TTLS của giai đoạn đương đại Song đó chỉ là những bài báo đề cập đến một vấn đề
riêng biệt của TTLS như vấn đề quan niệm về con người, hay vấn đề ngôn ngữ, vấn đề tiếp cận và đổi mới tư duy nghệ thuật, vấn đề chân lí và nhân cách lịch sử Riêng nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Dân có phác thảo một bức tranh phát triển của TTLS Việt Nam đương đại, với ba xu hướng và tác giả đại diện tiêu biểu Nhưng, trong khuôn khổ hạn hẹp của một bài báo, đó cũng mới chỉ là những đề xuất đại cương, chưa đi sâu phân tích được thấu triệt các khía cạnh nghệ thuật của từng xu hướng Để làm được điều này, cần có một công trình chuyên luận có khả năng triển khai phân tích các lớp cấu trúc của mỗi xu hướng TTLS Việt Nam đương đại, phát triển được những ý tưởng đề xuất của Nguyễn Văn Dân, cũng như bổ sung cho công trình luận án của các tác giả Nguyễn Thị Tuyết Minh, Nguyễn Văn Hùng, Ngô Thanh Hải Vì thế, việc chọn đề tài này là một việc làm hợp lý, cần thiết,
Trang 27có ý nghĩa lý luận và thực tiễn Đề tài “Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại- nhìn từ góc độ thể loại” sẽ bao quát các vấn đề lý thuyết thể loại qua sự phát triển ba xu hướng và
đi vào phân tích các lớp cấu trúc thể loại, chỉ ra đặc điểm, sự đổi mới của mỗi xu hướng Với đề tài đã chọn, chúng tôi tiếp tục nghiên cứu những khoảng trống lý thuyết thể loại qua việc tìm hiểu ba xu hướng phát triển của TTLS Việt Nam đương đại: TTLS sử bám sát sử liệu, TTLS dụ ngôn hóa sử liệu, TTLS đối thoại với sử liệu
1.3 Quan niệm của luận án về tiểu thuyết lịch sử và các xu hướng tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại
1.3.1 Quan niệm của luận án về tiểu thuyết lịch sử và cơ sở lý thuyết để nghiên cứu đề tài
Luận án quan niệm về thể loại: TTLS gồm các tác phẩm tự sự cỡ lớn mà viết về đề tài lịch sử, phục hiện lại đời sống quá khứ, không khí thời đại, làm sống lại lịch sử dựng và giữ nước của các thế hệ đi trước, liên quan đến các cuộc chiến tranh, sự thay đổi chế độ qua các triều đại với các sự kiện, biến cố, nhân vật có thật trong những khoảng không- thời gian cụ thể được trần thuật theo nguyên tắc vừa tôn trọng lịch sử, vừa hư cấu sáng tạo
ở giới hạn phù hợp để tường thuật lịch sử, dụ ngôn hóa sử liệu, đối thoại, phản biện hay
dự phóng, làm mới lịch sử theo quan điểm thẩm mĩ riêng của mỗi nhà văn nhằm đạt đến độ chân thật lịch sử, độ chân thực đời sống theo logic lịch sử, đảm bảo không xuyên tạc bản chất lịch sử Việc xử lý yếu tố lịch sử và hư cấu trong các lớp cấu trúc nội dung và hình thức thể loại tùy thuộc vào quan niệm nghệ thuật của mỗi nhà văn trong từng xu hướng, có những người đề cao yếu tố lịch sử hơn hư cấu nhằm tường thuật, mô tả, minh họa lịch sử theo tinh thần bám sát sử liệu để phổ biến kiến thức lịch sử, lại có những người khác kết hợp hài hòa yếu tố lịch sử và hư cấu nhằm dụ ngôn hóa sử liệu để gửi gắm các bài học giáo huấn hay một số người lại đề cao yếu tố hư cấu hơn yếu tố lịch sử, muốn đảo lại lịch
sử, đối thoại, phản biện lịch sử một cách khách quan, công tâm trên tinh thần nhân văn, hiểu đúng bản chất và quy luật lịch sử để gửi gắm quan điểm thẩm mĩ mang tính cá nhân Chính những điều này chi phối việc tổ chức các lớp cấu trúc nội dung và hình thức nghệ thuật, chọn lựa thời điểm lịch sử, những sự việc và con người có thật, miêu tả bối cảnh văn hóa với các yếu tố lịch sử đặc trưng, chi phối việc tổ chức điểm nhìn, cốt truyện, thời gian, không gian, người kể chuyện, ngôn ngữ, nhân vật, giọng điệu ở mỗi xu hướng vừa có sự giống nhau lại vừa có sự khác nhau
Về cơ sở lý thuyết để nghiên cứu đề tài, chúng tôi chắt lọc, vận dụng tổng hợp, các
thành tựu lý thuyết của chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa hình thức, mỹ học tiếp nhận, tự sự học, lý thuyết cổ mẫu Các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã bàn rất nhiều về mối quan hệ giữa nhà văn- tác phẩm- bạn đọc, mối quan hệ giữa các yếu tố nội dung và hình
thức nghệ thuật của tác phẩm Thật vậy, chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa hình thức đã đưa ra
hệ thống quan điểm nói về vai trò, chức năng, cấu trúc nhân vật trong việc khái quát hiện thực, tác động thẩm mỹ, thúc đẩy tiến bộ xã hội và mối quan hệ mật thiết, gắn bó hữu cơ,
thống nhất giữa hình thức và nội dung tác phẩm
Trang 28Thứ nhất, chủ nghĩa cấu trúc ở Tây Âu đã tập trung vào thể loại tự sự (mà tiểu thuyết
lịch sử là thể loại tự sự), nghiên cứu “những tầng cấu trúc và phương thức trần thuật, […],
giữa cốt truyện với sự thật lịch sử” [199; 492], quan tâm đến mô thức tự sự với việc “lấy
nhân vật làm trung tâm” và “lấy tình tiết làm trung tâm”, miêu tả “tâm lý” cùng những cảm xúc thể nghiệm của nhân vật, miêu tả “hành động” để khắc họa “tính cách” của nhân vật, hành động có ý nghĩa thúc đẩy các tình tiết của cốt truyện phát triển Các nhà cấu trúc chủ
nghĩa đã chỉ ra chức năng của một đơn vị tự sự cơ bản phải qua 3 bước: hình thành “tình huống” để tạo ra tính khả năng hoặc tính tất yếu của hành động, nhân vật thực hiện “một loạt hành động” sau tình huống, “kết quả” của hành động là thành công hoặc thất bại [199;
491- 497] Chủ nghĩa cấu trúc khẳng định: “nội dung cũng bền vững và có ý nghĩa như hình thức Nội dung dựa trên hình thức và hình thức là hình thức của một nội dung cụ thể” [100; 14-19]
Thứ hai, chủ nghĩa hình thức chú ý đến “kết cấu hình thức, vừa coi trọng mối quan hệ
giữa văn học với hiện thực xã hội” Đặc biệt là Clive Bell nhấn mạnh: “Nghệ thuật là hình
thức có ý nghĩa” để nói về mối quan hệ thống nhất “gắn chặt giữa hình thức với nội dung”
Nội dung là tình cảm thẩm mỹ của chủ thể với hình thức độc đáo được khơi gợi từ khách thể, “chất liệu hiện thực, chất liệu tư tưởng, tâm lý, triết lý” làm nên “tính văn học”- đối tượng nghiên cứu đích thực của văn học C Bell cho rằng: “tất cả các đối tượng có thể khơi gợi nên tình cảm thẩm mỹ của chúng ta” chính là bản chất của nghệ thuật và đó là
“những hình thức có ý nghĩa”- tính chất cơ bản chung cho mọi tác phẩm nghệ thuật Nội dung (ý nghĩa) bắt nguồn từ tình cảm thẩm mỹ của nghệ sĩ, thể hiện ở “những tình cảm thẩm mỹ độc đáo của nghệ sĩ tiềm ẩn bên trong những hình thức ấy […], chính những hình thức của nghệ sĩ đã biểu hiện những tình cảm độc đáo, cho nên hình thức mới có ý nghĩa” Như vậy, ta có thể hiểu luận điểm của Bell khẳng định “nghệ thuật là hình thức chứa đựng tình cảm thẩm mỹ của nghệ sĩ đối với cái thực tại tự nó […] Cái làm cho tác phẩm thành văn học, đó chính là hình thức Hình thức của tác phẩm văn học không phải chỉ là phương tiện mà còn là mục đích […] Hình thức là trung tâm của văn học” [199; 492, 205- 210] C Bell cho rằng: “Hình thức của văn học không chỉ là hình tượng […], mà còn là ở những thủ pháp nghệ thuật cùng sự sắp xếp nó, làm sao đem lại cho người đọc những cảm xúc nhân sinh mới lạ” [199; 492, 212, 213] V Skhlovsky đã đưa ra khái niệm về “thủ pháp nghệ thuật lạ hóa” gợi những cảm xúc thẩm mỹ đối với cuộc sống, làm cho con người cảm nhận được sự vật Chủ nghĩa hình thức xem văn học là một cấu trúc nghệ thuật dùng chất liệu hiện thực, chất liệu ngôn từ trong một hệ thống những thao tác, thủ pháp nghệ thuật để nhào nặn nên các hình tượng nghệ thuật, hình tượng nhân vật nhằm khơi gợi hứng thú, sức lôi cuốn, thuyết phục người đọc
Trần Đình Sử cho rằng nghiên cứu TTLS phải vận dụng lý thuyết của Roman Ingarden
và phải bám sát văn bản tác phẩm Roman Ingarden là tác giả tiêu biểu của trường phái Mỹ học tiếp nhận, ông cho rằng “kết cấu của tác phẩm văn học vốn hàm chứa những điểm chưa xác định chờ người đọc bổ sung xác định theo ý hướng của mình [ ], nhiều nhà phê bình có uy tín vẫn có những khám phá khác nhau đối với cùng một tác phẩm […], có thể
Trang 29tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật của văn học với những phương thức đa dạng” [199; 381] Điều này có nghĩa là các tác phẩm văn học nói chung và TTLS nói riêng phải được người đọc cảm thụ, thưởng thức, “cụ thể hóa” một cách năng động, sáng tạo Người đọc bám sát các tác phẩm TTLS để “hoàn hình” cho mỗi lần đọc kiến tạo nên cấu trúc mới, tích lũy thêm những kinh nghiệm thẩm mỹ mới, đồng sáng tạo với nhà văn, phát hiện ra một hiện thực mới trong tác phẩm, biến tác phẩm thành đối tượng thẩm mỹ Mỹ học tiếp nhận coi trọng việc “lấy văn bản làm trung tâm”, quan tâm đến vấn đề “người đọc đã tiếp nhận văn bản nghệ thuật ra sao”, dần coi hoạt động tiếp nhận của người đọc là vấn đề then chốt, chú
ý đến “lối nghiên cứu bên trong” để phân tích “lịch sử hiệu quả” gắn với việc văn học phản ánh hiện thực và tác động đến xã hội ra sao H.R Jauss khẳng định: “Tác phẩm văn học […] phải được người đọc tiếp nhận, thì mới trở nên hoàn chỉnh […] Những kinh nghiệm
mà người ta tiếp nhận được trong khi đọc, gia nhập vào tầm đón trong đời sống thực tiễn, thay đổi sự lý giải thế giới và tác động trở lại hành vi xã hội của họ” [199; 544, 546] Trong khi đó, Mác nói: “thẩm mỹ là phương thức hành vi trừ bỏ được sự tha hóa của con người”; còn H.R Jauss cho rằng: “Cảm xúc thẩm mỹ… phải đảm nhiệm trọng trách đề kháng lại tồn tại xã hội ngày càng tha hóa” [199; 549, 550] Cảm xúc thẩm mỹ thường nảy sinh trong quá trình người đọc tiếp nhận cái đẹp thông qua việc nắm bắt các hình tượng và ý nghĩa của chúng trong các tác phẩm TTLS, giúp cảm hóa, thanh lọc, bồi dưỡng, nâng cao tâm hồn con người, hướng đến các giá trị Chân- Thiện- Mỹ Khi đọc TTLS, người đọc lấp đầy những “điểm trắng”, “tính phủ định” để có thể tạo ra cuộc đối thoại với lịch sử, tác phẩm, nhà văn, với thời đại hôm nay và mai sau Wolfgang Iser cho rằng “quá trình đọc làm nảy sinh quan hệ sinh động giữa văn bản và người đọc […] Văn bản là một kết cấu vẫy gọi […] chứa đựng những điểm trắng […] để vẫy gọi bạn đọc” [199; 552-554] Iser còn đề cập đến “tính phủ định”- chiều sâu của “kết cấu vẫy gọi”, thể hiện “những cách nhìn ít nhiều có tác dụng phản biện với những quan niệm vốn có của người đọc về các mặt chính trị, triết
lý, đạo đức, thẩm mỹ… Văn bản tốt là vừa gợi lên những sự chờ đợi quen thuộc, vừa phủ định” [199; 555] Như vậy, các nhà TTLS căn cứ vào nguồn sử liệu khách quan và hư cấu, không chỉ viết ra những điều khẳng định phù hợp với tầm đón quen thuộc của người đọc,
mà viết cả những điều mang “tính phủ định” Sự tương tác giữa người đọc và các tác phẩm TTLS sẽ làm sản sinh thêm ý nghĩa mới của tác phẩm so với nghĩa ban đầu mà nhà văn dự kiến
Nhìn chung, chúng tôi vận dụng chắt lọc thành tựu của hệ thống lý thuyết nói trên để khảo sát, phân tích, cắt nghĩa các tác phẩm từ góc nhìn thể loại trên hai mặt nội dung và hình thức nghệ thuật để đánh giá thành công của các nhà văn, góp phần khái quát bản chất đặc trưng của thể loại, chỉ ra sự kế thừa các yếu tố loại hình truyền thống và những yếu tố đổi mới trong các lớp cấu trúc thể loại qua mỗi xu hướng và chỉ ra các xu hướng phát triển của TTLS Việt Nam đương đại từ 1986 đến nay Đây là hướng đi chuẩn xác của những người nghiên cứu Lý luận văn học, vì khi “phê bình về thể loại: phê bình tác phẩm, phê bình tác giả […] vận dụng các phạm trù thẩm mỹ vào tìm hiểu, đánh giá các hiện tượng nghệ thuật” [182; 166, 174] Tác giả Atoine Compagnon khẳng định: “lí thuyết về thể loại
Trang 30là một nhánh rất phát triển của nghiên cứu văn chương, vả chăng lại là một trong những nhánh đáng tin cậy nhất Thể loại xuất hiện như là nguyên tắc khái quát hóa hiển nhiên
nhất, giữa các tác phẩm cá nhân và các điều phổ quát của văn chương” [3; 227]
1.3.2 Quan niệm về các xu hướng tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại
Đặc biệt là ở buổi đầu văn hoá nhân loại với tình trạng văn - triết - sử bất phân, ta thấy những cuốn tiểu thuyết đầu tiên của một nền văn học dân tộc thường là những cuốn tiểu thuyết mang tính lịch sử, phản ánh chủ đề lịch sử Vì thế, TTLS xứng đáng trở thành một lực lượng nòng cốt của bất cứ một nền văn học dân tộc nào, trong đó có văn học Việt Nam
Về sau, mặc dù quá trình chuyên môn hoá đã phân tách văn với sử, nhưng chủ đề lịch sử
vẫn không bao giờ mất đi ý nghĩa giáo dục và xã hội trong văn học Từ sau ngày Đổi Mới (từ 1986 đến nay), chúng ta đã thấy xuất hiện rất nhiều tác phẩm thuộc thể loại TTLS được
công chúng đón nhận trong niềm cảm phục, tự hào, các tác phẩm ấy gây được tiếng vang trên văn đàn và trong đời sống văn học của công chúng, kể cả các cuốn tiểu thuyết nước ngoài viết về đề tài lịch sử Việt Nam dịch sang tiếng Việt TTLS giáo dục tư tưởng cho quần chúng, đem kiến thức lịch sử đến với người đọc bằng con đường tình cảm, bồi đắp những tình cảm thẩm mỹ, làm phong phú thêm tâm hồn con người, bồi đắp lòng yêu nước, truyền thống nhân đạo, niềm tự hào dân tộc và những giá trị mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam
Chúng tôi quan niệm giai đoạn đương đại tính từ năm 1986 đến nay, đây là thời kỳ Đổi Mới, đất nước hòa bình, với việc “tự do sáng tác” được mở rộng, đề tài lịch sử được quan
tâm Đặc biệt là Đảng định hướng đường lối phát triển văn hóa, văn học nghệ thuật trong NQ/TW, ngày 28-11-1987 của Bộ Chính trị với việc “tự do sáng tác”, dân chủ hóa đời sống văn học, tạo động lực thúc đẩy các nhà văn đổi mới tư duy nghệ thuật, đổi mới phương pháp sáng tác, mở rộng các xu hướng khám phá hiện thực, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm nghệ thuật của khu vực và thế giới trong quá trình giao lưu, hội nhập Vì vậy, nhà văn được tiếp thêm sức mạnh, tiếp tục sứ mệnh là người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa tư tưởng như Hồ Chí Minh nói “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”
Nếu đối sánh TTLS Việt Nam đương đại với TTLS của các giai đoạn trước đó, chúng tôi thấy có sự dịch chuyển khác biệt trong cấu trúc thể loại, cụ thể là: trong giai đoạn mở đầu
đầu mới hình thành, phần lớn TTLS Việt Nam viết theo kết cấu chương hồi, viết bằng chữ
Hán, ảnh hưởng của TTLS chương hồi Trung Quốc, ví như các tác phẩm Hoan Châu ký, Nam triều công nghiệp diễn chí, Hoàng Lê nhất thống chí, Việt Lam xuân thu, Hoàng Việt long hưng chí, Trùng Quang tâm sử TTLS Việt Nam có nguồn gốc khác với Trung Quốc: ở chỗ Việt Nam không có thoại bản, mà nó ra đời dựa trên các thần tích, thần phả được lưu lại
trong truyền thuyết dân gian Hình tượng nhân vật anh hùng dân tộc được truyền thuyết hóa, thần thánh hóa vẻ đẹp trí tuệ, thông minh, siêu phàm Chính lối viết sinh động, lôi
cuốn, hấp dẫn, thuyết phục, gây ấn tượng mạnh bởi các thần phả, thần tích lưu truyền
trong dân gian TTLS Việt Nam còn chịu ảnh hưởng của các công trình biên niên sử
như Đại Việt sử ký toàn thư, Lam Sơn thực lục, Trung hưng thực lục, Đại Nam thực lục Nhìn chung, các tác phẩm văn học nói trên mang đặc trưng của thể loại tiểu thuyết lịch sử
Trang 31ở giai đoạn đầu mới hình thành và viết theo kết cấu chương hồi Qua các tác phẩm kể trên,
ta thấy mỗi câu chuyện được chia ra làm nhiều mảnh ghép với nhiều “hồi” hoặc “tiết đoạn”
có quan hệ vừa “đóng” vừa “mở”, vừa “liên tục”, lại vừa “gián cách” ghép dán lại mà thành cốt truyện Mỗi “hồi” hoặc “tiết đoạn” có độ dài gần bằng nhau, kể lại một câu chuyện nhỏ khá trọn vẹn Mở đầu hoặc kết thúc các “hồi” hoặc “tiết đoạn” hay một bài từ hoặc một bài thơ thất ngôn Đường luật, trong “hồi” là 2 câu đối ngẫu như “muốn biết thế nào, xem hồi sau sẽ rõ” nhằm dự báo nội dung của “hồi” tiếp theo và kích thích trí tò mò của người đọc Nhìn chung vào thời kỳ, nước ta vẫn còn tình trạng “văn- sử- triết” bất phân, việc phân chia thể loại cũng chưa định hình rõ ràng, chưa rạch ròi TTLS Việt Nam
giai đoạn này ít chú trọng tới việc miêu tả tâm lý và đối thoại giữa các nhân vật, còn nghiêng nhiều về tính chất dã sử, nghệ thuật khắc họa nhân vật còn mờ nhạt, khô khan,
chưa sắc nét do không phát huy tính hư cấu Các nhà văn vẫn dùng lối kết cấu của tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc, dung hòa với lối viết gia phả, thần phả, thần tích, có sử dụng yếu tố “hư cấu” và “lịch sử”, kết cấu thời gian tuyến tính với các biến cố lịch sử được trình bày theo các niên đại của triều vua, không chú ý các lớp thời gian đa chiều, ít đảo ngược, ít xáo trộn các chiều thời gian hiện tại- quá khứ- tương lai
Sang giai đoạn hiện đại từ đầu thế kỷ 20 đến những năm 1985, TTLS giai đoạn này vẫn kế
thừa các lớp kết cấu thể loại của giai đoạn trước, còn ảnh hưởng thể loại tiểu thuyết chương hồi của Trung Quốc, song cũng ảnh hưởng tích cực bởi văn học phương Tây, nhất là văn học
Pháp Ví dụ như các tác phẩm Hoàng Việt hưng long chí (1904, in 1993) của Ngô Giáp Đậu; Phan Yên ngoại sử tiết phụ gian truân (1910) của Trương Duy Toản; Hưng Đạo Đại vương (1912) của Phan Kế Bính ; Hoàng Lê nhất thống chí (1912) của nhóm tác giả Ngô gia văn phái; Trùng Quang tâm sử (1913- 1917) của Phan Bội Châu; Nam cực tinh huy (1924) của Hồ Biểu Chánh; 4 tác phẩm gồm ia Long tẩu quốc (1926), iọt máu chung tình (1925- 1926) và ia Long phục quốc (1926), Hoàng tử Cảnh như Tây (1931, đậm chất thế sự) của
Tân Dân Tử; năm tác phẩm gồm Việt Nam anh kiệt - Vì nghĩa liều mình (1926), Việt Nam Lý trung hưng (1929), Lê triều Lý thị (1926), Tiền Lê vận mạt (1925), Trần Hưng Đạo (1933)
của Phạm Minh Kiên; Tam Yên di hận (xuất bản ở Bến Tre năm 1927) của Nguyễn Văn Vinh; Việt Nam Lê Thái Tổ (1929) của Nguyễn Chánh Sắt; 10 tác phẩm gồm Tiếng sấm đêm đông (1928), Đinh Tiên Hoàng (1929), Vua Bố Cái (1929), Lê Đại Hành (1929), Hai bà đánh giặc (1929), Vua Bà Triệu Ẩu (1929), Mai Hắc Đế (1930), Lý Nam Đế (1930), Trần Nguyên chiến kỉ (1935-1936), Việt Thanh chiến sử (1936) của Nguyễn Tử Siêu; 3 tác phẩm: Lịch sử Đề Thám (1935), Vua Hàm Nghi và việc kinh thành thất thủ (1935) và ia đình Tổng trấn tả quân Lê Văn Duyệt (1937) của Ngô Tất Tố; Phan Trần Chúc có 7 tác phẩm như Vua Hàm Nghi (1935), Vua Quang Trung (1940), Hồi chuông Thiên Mụ (1940), Cần Vương (1941), iọt máu sau cùng (1943), Thưởng trì cung (1943), Từ nhà Chùa đến nhà Chúa (1942); Lê Thái Tổ (1941) của Chu Thiên; Lan Khai có các tác phẩm như Chiếc ngai vàng (1937), Cái hột mận (1938), Ai lên phố Cát (1937), Trong cơn binh lửa (1942), Treo bức chiến bào (1949); Sương khói Dâm Đàm của Hoàng Giá; Nguyễn Triệu Luật có 3 tác phẩm như Hòm đựng người (1936), Bà chúa Chè (1938), Loạn kiêu binh (1939), Chúa Trịnh Khải
Trang 32(1940); Nguyễn Huy Tưởng có 3 tác phẩm là Đêm hội Long Trì (1942), An Tư (1944), Lá cờ thêu sáu chữ vàng (1960); Thanh gươm Bắc Việt (1950) của Toan Ánh; Bóng người Lam Sơn (1952, viết về đức Lê Thái Tổ) của Huyền Quang; Quận He khởi nghĩa (1963) của Hà Ân; Thái Vũ có 4 tác phẩm như Cờ nghĩa Ba Đình (1963, 2 tập), Trần Hưng Đạo- Thế trận những dòng sông, Những ngày Cần Vương, Biến động(1984); Hùng khí Thăng Long (1960)
và Bóng nước Hồ ươm (1970, 2 tập) của Chu Thiên; Tổ quốc kêu gọi (1973) và Người Thăng Long (tập 1 in năm 1981 và tập 2 in chung với tập 1 vào năm 2002, lấy tên là Khúc khải hoàn dang dở) của Hà Ân; Núi rừng Yên Thế (viết xong 1978, in tập 1 vào 1981, 2 tập) của Nguyên Hồng; Kỳ tích Chi Lăng (1981) của Nguyễn Trường Thanh; Đô đốc Bùi Thị Xuân (1982) của Quỳnh Cư; Sao Khuê lấp lánh (1984) của Nguyễn Đức Hiền Nhìn chung,
các nhà văn bước đầu khám phá nhân vật từ góc nhìn đời tư, thế sự, nhưng chưa sâu, càng về các giai đoạn sau thì nội dung thế sự dần được quan tâm nhiều hơn TTLS có nhiều cách tân đáng kể về mặt tư duy nghệ thuật, cách kể chuyện, dùng các kỹ thuật tự sự hiện đại hơn và các biện pháp nghệ thuật gây hứng thú với người đọc, có sự kết hợp các yếu tố “lịch sử” và
“hư cấu”, dùng lối văn biền ngẫu và các điển tích, điển cố, dần quan tâm đến việc phân tích tâm trạng nhân vật, chưa địnhg hình thành các xu hướng rõ rệt như giai đoạn đương đại TTLS Việt Nam đương đại từ giai đoạn Đổi mới (1986) đến nay phát triển nở rộ, vượt bậc, đạt nhiều thành tựu quan trọng Nhiều tác phẩm lớn ra đời, tạo nên bức tranh phong phú, đa dạng của tiểu thuyết nói chung, đáp ứng yêu cầu giáo dục truyền thống yêu nước, nhân đạo, giáo dục đạo đức, lối sống Đúng như nhà văn Nguyễn Trường Thanh cho rằng:
“chúng ta đã chạm đến được một đề tài rất hay - điểm tựa của lòng tự tôn dân tộc Công cuộc đổi mới cho ta nhiều thành tựu, nhưng cũng đặt ra những thách thức về sự suy thoái đạo đức, lối sống Lâu nay, ta cũng để dòng văn học giải trí chiếm lĩnh quá nhiều Tôi nghĩ thanh, thiếu niên thời nào cũng tốt, vấn đề là ta phải làm sao giúp họ tiếp cận với những tấm gương liệt oanh, là người thật, việc thật” [312] Nhà văn phải lao động nghệ thuật nghiêm túc, dày công nghiên cứu để có kiến thức sâu rộng về lịch sử mà miêu tả hình tượng nhân vật trong trang phục, lời nói, hành động, suy nghĩ… cho phù hợp, đảm bảo
“tính khách quan của lịch sử” Qua các nhân vật, nhà văn phát hiện, khẳng định, ca ngợi lí tưởng tốt đẹp, các giá trị nhân văn, lòng yêu nước, tư tưởng nhân đạo và phủ định những cái xấu, cái ác, các hiện tượng tiêu cực; bày tỏ sự đồng cảm, chia sẻ, xót thương, cảm thông với những nỗi khổ của con người và tỏ thái độ yêu mến, trân trọng, nâng niu, xúc động, tự hào, đề cao, ngợi ca những nhân vật lịch sử chính diện là các bậc vua hiền hết lòng chăm lo dân nước, các anh hùng cách mạng kết tinh vẻ đẹp toàn diện của dân tộc, thời đại và phê phán, lên án, tố cáo các nhân vật lịch sử phản diện- thế lực đen tối biểu tượng cho cái xấu, cái ác, các dục vọng sai trái, tội lỗi trong con người cần loại bỏ Qua các hình
tượng, TTLS thực hiện chức năng giáo huấn, đưa ra nhiều cách luận giải về các vấn đề lịch sử, luận giải về những khả năng có thể xảy ra của lịch sử, luận giải về cuộc đời, số phận con người, những góc khuất lịch sử, tạo sức hấp dẫn, gây hứng thú đặc biệt, lan
truyền cảm xúc thẩm mỹ sang người đọc
Trang 33TTLS Việt Nam đương đại (sau 1986 đến nay) có nhiều đổi mới trong nghệ thuật phân tích tâm lý, tính cách, chất thế sự sâu sắc hơn các giai đoạn trước Các nhà văn chú trọng
lối tư duy chính luận sắc bén, chặt chẽ khi khám phá các vấn đề lịch sử từ nhiều góc nhìn,
kể cả góc nhìn văn hóa, phong tục, tôn giáo Nhiều nhà văn coi trọng “sự thật lịch sử”, phân tích nguồn “sử liệu” tỉ mỉ, công phu, tái hiện lại một cách sinh động không khí lịch
sử, sự kiện, nhân vật có thật Bên cạnh đó, ta thấy cũng có những nhà văn lại đề cao nghệ thuật “hư cấu”, lấy yếu tố “hư cấu” làm mục đích chính để đặt giả thuyết, phân tích, luận giải các vấn đề của lịch sử, tô đậm chất thế sự, đời tư, văn hóa, phong tục, đảm bảo nguyên tắc thể loại Nếu xếp theo trình tự thời gian, ta phải kể đến hàng loạt các tác giả với các tác
phẩm viết về đề tài lịch sử như “Đinh Tiên Hoàng đế” (1988) của Hà Công Tài; hai bộ TTLS của tác giả người Pháp viết về lịch sử Việt Nam là cuốn “Vạn Xuân” (1989) và “Lãn Ông” (2000) của Yveline Féray với các vấn đề nhạy cảm gắn với con người bản năng đậm
chất thế sự, không né tránh vấn đề “cấm kỵ” khi viết về vô thức bản năng của con người;
Ngô Văn Phú có 6 tác phẩm như “ ươm thần Vạn Kiếp” (1991), “Tuyên phi họ Đặng” (1996), “Ấn kiếm trời ban” (1998), “Cờ lau dựng nước” (1999), “Uy Viễn tướng công” (2003), “Lý Công Uẩn” (2006) Ta có thể kể ra hàng loạt tác giả Việt kiều với các tác phẩm
được xuất bản lần đầu tại Mỹ vào năm 1991 và in lại lần 2 vào năm 1998 tại Việt Nam là
“Sông Côn mùa lũ” của Nguyễn Mộng Giác; “Bể dâu”, “Đất trời”, “ ió lửa” (1999, in tập 1 ở Canada) của Nam Dao – Việt kiều sống tại Canada; “Tây Sơn bi hùng truyện” (
2006, 2 tập) của Lê Đình Danh- Việt kiều sống tại Mỹ Trong nước, ta phải nhắc đến 4 tác
phẩm của Hoàng Công Khanh là “Danh tướng Trần Hưng Đạo” (1995), “Vua Đen” (1996); “Hoàng hậu hai triều vua Dương Vân Nga” (1996) được tặng giải thưởng Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, “Vằng vặc sao Khuê” được tặng giải thưởng Thăng Long vào 1998 Nguyễn Trường Thanh có 4 tác phẩm như “Hoa trong bão” (1994); “Tướng không phong hàm” (1998); “Nữ điệp báo Lạng thành” (1999) Nhiều nhà văn khác như Nguyễn Xuân Khánh với tác phẩm “Hồ Quý Ly” (1999), trao giải năm 2000; “Vạn Thắng Vương” (Đinh Bộ Lĩnh) (2000) của Lữ Giang; Trần Bá Chí có tác phẩm “Quân sư Nguyễn Trãi” (2001); Nguyễn Quang Thân có tác phẩm “Con ngựa Mãn Châu” (2001); Vũ Ngọc Đĩnh có 4 tác phẩm như “Mười hai sứ quân” (1999) viết về sự
kiện lịch sử có thật “loạn 12 sứ quân” được khoa học lịch sử ghi chép và người anh hùng
Đinh Bộ Lĩnh đã dẹp loạn, mở ra trang sử mới cho đất nước; “Bắn rụng mặt trời”
(2000) viết về sự kiện lịch sử quân dân nhà Trần chống quân xâm lược Nguyên- Mông;
“Hào kiệt Lam Sơn” (1995) viết về anh hùng Lê Lợi trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đánh đuổi giặc Minh xâm lược; “Ứng vận Thần Vũ” (2005) viết về vua Lê Đại Hành chống giặc ngoại xâm nhà Tống; bộ sáu tiểu thuyết “Bão táp triều Trần” của Hoàng Quốc Hải được xuất bản lần đầu năm 2003, sau khi bổ sung thêm hai tập “Đuổi quân Mông – Thát”,
“Huyết chiến Bạch Đằng”; hai tác phẩm: “Anh hùng Đông A dựng cờ bình Mông” (1998, chương hồi, 2 tập), “Anh hùng Tiêu Sơn” (2003, chương hồi, 4 tập) của Trần Đại Sỹ đã tái
hiện lại lịch sử với quy mô lớn gắn với sự hình thành và suy vong, kết thúc của cả một
triều đại cụ thể trong lịch sử; Hàn Thế Dũng có 5 tác phẩm là “Lê Lợi” (2002), “Bà Triệu”
Trang 34(2004), “Đinh Bộ Lĩnh” (2004), “Lý Công Uẩn” (2006), “Lý Nam Đế” (2006); “Giàn thiêu” của Võ Thị Hảo được trao giải thưởng của Hội nhà văn Hà Nội năm 2004; “Thăng Long ký” (2004) của Nguyễn Khắc Phục; Nguyễn Xuân Khánh viết “Mẫu thượng ngàn” (2005); “Đàn đáy” (2006) của Trần Thu Hằng; “Cổ Trai xuất đế” (2006) của Phạm Thuận Thành nhận giải thưởng của UBTQ Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam; “Vua Minh Mạng” (2006) của Hoài Anh; bộ bốn tiểu thuyết “Tám triều vua Lý” của Hoàng Quốc Hải
viết năm 2007 và hai tác phẩm vừa nêu của Hoàng Quốc Hải đã được nhận giải thưởng vào
năm 2008; bộ TTLS “Đất Việt trời Nam” (2007, 3 tập) của Đan Thành (Phạm Thành); Nguyễn Trường Thanh có 6 tác phẩm như “Một thời biên ải” tập I và II (2000- 2008); “Ngôi nhà của cha” (2007); “Hương ngàn” (2008); “Hoa bất tử” (2009); “Phò mã Động iáp” (2010); “Dặm dài ải Bắc” (2012, đây là cuốn TTLS thứ 10 của ông): các tác
phẩm này làm toát lên những bài học lịch sử có ý nghĩa sâu sắc trong cuộc sống đương đại:
đó là bài học xây dựng Thế trận lòng dân nơi biên cương phên dậu trọng yếu của đất nước [137]
Trong giai đoạn đương đại từ sau 1986 đến nay, ta còn phải kể đến hàng loạt các tác
phẩm khác như “Hội thề” (2009) của Nguyễn Quang Thân; “Không phải huyền thoại” (2009, viết về Đại tướng Võ Nguyên Giáp) của Hữu Mai; “Minh sư” (2010) của Thái Bá Lợi và tác phẩm này đã nhận giải thưởng văn học Đông Nam Á vào năm 2013; “Hoàng Đế cờ lau” (2010) của Nguyễn Khắc Triệu; “Nẻo về Vạn Kiếp” (2011) của Lê Đình Danh;
“Đội gạo lên chùa” (2011) của Nguyễn Xuân Khánh; “Thế kỷ bị mất” của Phạm Ngọc
Cảnh Nam (2012) được bằng khen năm 2012; Hoàng Quảng Uyên có 3 tác phẩm gần 2000
trang: “Mặt trời Pác Bó” (2010), “ iải phóng” (2013), “Trông vời cố quốc” (2017); “Đinh Tiên Hoàng và công cuộc thống nhất đất nước” (2012) của Phạm Trường Khang; Nguyễn Thế Quang có 3 cuốn TTLS như “Khúc hát những dòng sông” đạt giải thưởng của Ban Tuyên giáo Trung ương vào 2013, “Thông reo Ngàn Hống” của ông được trao giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam vào năm 2015, ngoài ra ông còn có tác phẩm Nguyễn Du (2015); tác phẩm “Biên bản chiến tranh 1- 2- 3- 4.75” của Trần Mai Hạnh đạt giải thưởng Văn học Đông Nam Á vào năm 2015; “Sương mù tháng iêng” (2015) của Uông Triều;
“Thị Lộ chính danh” (2015) của Võ Khắc Nghiêm; “Phùng Vương” (2015) của Phùng Văn Khai; “Trần Khánh Dư” (2016) của Lưu Minh Sơn; “Đinh Bộ Lĩnh và nước Đại Cồ Việt”(2017) của nhóm Lương Duyên; “Vạn Thắng Vương Đinh Bộ Lĩnh” (2018) của Trương Bửu Sinh; “Đinh Tiên Hoàng” (2018) của Vũ Xuân Tửu, “Đinh Tiên Hoàng Đế - anh hùng mở nền thống nhất quốc gia” (2018) của Trương Đình Tưởng, “Từ Dụ Thái hậu”
(2019) của Trần Thùy Mai… Có thể nói, TTLS Việt Nam đương đại từ sau năm 1986 đến nay phát triển sôi động hơn bao giờ hết, đạt được nhiều thành tựu quan trọng, đội ngũ sáng tác trong và ngoài nước đông đảo, phát triển theo nhiều xu hướng phong phú, đa dạng, vừa
kế thừa truyền thống vừa đổi mới theo lối viết hiện đại
Nhìn chung, sự cách tân của TTLS Việt Nam đương đại thể hiện trong nhiều lớp cấu trúc thể
loại của các tác phẩm thuộc ba xu hướng Nội dung yêu nước, nhân đạo và thế sự của các giai đoạn trước cũng được kế thừa và phát huy Đặc biệt là chất“thế sự” gia tăng đậm hơn nhiều so với các tác
Trang 35phẩm từ năm 1985 trở về trước Có thể nói, các nhà văn có sự chọn lựa yếu tố “lịch sử” khác nhau,
có nhà văn tập trung miêu tả nổi bật những nhân vật lịch sử nổi tiếng, có nhà văn phục dựng lại cả một thời kỳ lịch sử gian khổ hào hùng với nhiều nhân vật, sự kiện lịch sử có thật; có nhà văn mượn lịch sử để hư cấu, gửi gắm các bức thông điệp về đời sống nhân sinh thế sự, đặt ra giả thuyết về lịch
sử, khơi sâu vào hư cấu những góc khuất của lịch sử, tái hiện các vấn đề chính trị, lịch sử, văn hóa, phong tục, hình dung về những khả năng có thể xảy ra của lịch sử… Tóm lại, dù viết theo khuynh hướng nào, các nhà văn vẫn phải quán triệt tư tưởng trung thành với các sự kiện có thật, phản ánh đúng bản chất lịch sử, đảm bảo nguyên tắc không xuyên tạc “lịch sử chính trị” của đất nước theo chiều hướng tiêu cực
Bàn về các xu hướng phát triển, ta thấy TTLS phát triển theo nhiều xu hướng, hệ đề tài được
mở rộng, có nhiều cách tân đáng kể, tùy thuộc vào quan điểm nghệ thuật mà mỗi nhà văn ở từng xu hướng sẽ có cách xử lý khác nhau với 2 yếu tố “lịch sử” và “hư cấu” theo nguyên tắc thể loại Các tiêu chí của thể loại dần nới lỏng, có tác phẩm có nhiều sự kiện và nhân vật lịch sử có thật, nhưng cũng có những tác phẩm chỉ có ít nhân vật, sự kiện lịch sử có thật, lại có những tác phẩm kết hợp cân đối, hài hòa giữa các nhân vật, sự kiện lịch sử có thật với các nhân vật, sự kiện được hư cấu hoàn toàn để tái hiện lại bức tranh hiện thực của đời sống quá khứ nhằm đúc rút các bài học kinh nghiệm cho cuộc sống đương đại
Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Dân cho rằng từ thời kỳ Đổi Mới đến nay, TTLS Việt Nam đương
đại phát triển theo ba xu hướng chính: đó là “tiểu thuyết lịch sử chương hồi khách quan”, “tiểu
thuyết lịch sử giáo huấn”, “tiểu thuyết lịch sử luận giải” [72] Nhưng bài viết này của ông chưa đi
sâu, chưa làm rõ được đặc trưng thể loại và sự cách tân trong các lớp cấu trúc thể loại Trong luận án này, chúng tôi căn cứ vào quan điểm nghệ thuật của nhà văn trong việc xử lý các yếu tố “lịch sử” và
“hư cấu” theo nguyên tắc thể loại để phân chia thành ba xu hướng chính là: xu hướng TTLS bám
sát sử liệu, xu hướng TTLS dụ ngôn hóa sử liệu và xu hướng TTLS đối thoại với sử liệu, để làm rõ đặc điểm của ba xu hướng này trong các chương sau của luận án, chúng tôi có dùng thao tác lập luận
so sánh để đối sánh với sử liệu trong quá trình tìm hiểu từng xu hướng
Trong xu hướng TTLS bám sát sử liệu, ta thấy vẫn có tác giả viết theo kết cấu chương hồi, có
tác phẩm chia thành các “chương” mà không chia thành “hồi”, nhưng thực chất nó vẫn là chương
hồi, tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc thể loại, đề cao yếu tố “lịch sử” hơn “hư cấu”, các sự kiện lịch
sử có thật được quan tâm, đẩy lên hàng đầu Xu hướng TTLS bám sát sử liệu miêu tả những sự kiện
lịch sử có thật, các biến cố, bước ngoặt quan trọng của lịch sử ở các giai đoạn cụ thể gắn với những nhân vật lịch sử có thật theo đúng quá trình diễn biến của những cái đã xảy ra trong lịch sử mà sử liệu đã ghi chép và lưu lại đến ngày nay Nhân vật được “nhìn” chủ yếu bằng các chi tiết bên ngoài, nên tâm lí và cá tính của nhân vật chưa được phân tích sâu sắc, sinh động như hai xu hướng TTLS dụ ngôn hóa sử liệu và TTLS đối thoại với sử liệu Vì tôn trọng sự thật lịch sử và bám sát sử liệu, phản ánh đúng bản chất lịch sử theo quan điểm của cộng đồng, nên các nhà văn vẫn xây dựng hệ thống nhân vật có thật theo lối cổ điển, miêu tả cụ thể, tỉ
mỉ các chi tiết về nguồn gốc, xuất thân, quá trình hoạt động, công trạng, sự nghiệp gắn với những sự kiện lịch sử lớn mà sử liệu ghi chép Xu hướng này thiên về mô tả lịch sử nhằm
phổ biến kiến thức lịch sử, các nhà văn xây dựng nhân vật có thật theo kiểu nhân vật hành
Trang 36động theo đúng nguyên mẫu, nhân vật được miêu tả trong các trận chiến kịch tính, căng
thẳng, quyết liệt Xu hướng này hầu như không chấp nhận sự hư cấu khi miêu tả nhân vật lịch sử có thật, nhưng thực tế vẫn có nhà văn hư cấu chút ít, nên đã nhận về cả những ý
kiến trái chiều khá gay gắt Nhìn chung, xu hướng này không chú trọng đến việc tạo ra nhiều nhân vật hư cấu hoàn toàn để soi sáng nhân vật có thật như xu hướng TTLS đối thoại với sử liệu Nhân vật có thật được đặt vào những câu chuyện đại sự, chưa được phân tích sâu về mặt tâm lý bên trong, chất thế sự mờ nhạt
Đặc trưng cơ bản của xu hướng TTLS dụ ngôn hóa sử liệu là “tính chất ngụ ý, bóng
gió”, “lời nói bí ẩn” nhằm gửi đến người đọc các bài học giáo huấn mang tính răn dạy qua tấm gương người thật việc thật trong lịch sử được nhà văn tổ chức trong một “hệ thống nhân vật” lịch sử gắn với những sự kiện có thật trong các lớp “truyện kể” của cấu trúc trần thuật [283] Do vậy, các yếu tố lịch sử “buộc người ta phải tuân thủ” được đưa vào tác phẩm mang tính dụ ngôn hóa thể hiện qua các nhân vật có thật và sự kiện lịch sử nhằm gửi gắm những bài học “bao giờ cũng nghiêm túc, có tính chất giáo huấn”, gắn với quan điểm thẩm mĩ của nhà văn [282] Xu hướng này quan niệm “Lịch sử ghi lại các mốc của sự kiện xảy ra vào một thời gian, không gian cụ thể nào đó” [143; 263] Sự thật trong chính sử là
“thứ sự thật câm nín, vô hồn” mà nhà văn phải lật xới, vừa tôn trọng sự thật lịch sử gắn với nhân vật và sự kiện có thật để “đánh giá công tâm”, vừa hư cấu theo nguyên tắc thể loại, làm cho lịch sử hiện lên đầy đặn, đạt tới độ chân thực lịch sử, gửi đến người đọc những bài học giáo huấn sâu sắc Đặc biệt là những bài học giáo huấn về lòng yêu nước, chủ nghĩa nhân đạo, các vấn đề tôn giáo- chính trị, vấn đề đại đoàn kết dân tộc được đúc rút từ những thăng trầm của lịch sử qua bức tranh toàn cảnh về một giai đoạn cụ thể Xu hướng TTLS
dụ ngôn hóa sử liệu coi trọng việc kết hợp hài hòa 2 yếu tố “lịch sử” và “hư cấu” Các tác
phẩm trong xu hướng này thường có nhiều nhân vật lịch sử có thật được xây dựng theo
kiểu cấu trúc nhân vật tính cách đúng nguyên mẫu trên tinh thần đặc biệt tôn trọng lịch
sử và sáng tạo về mặt tâm lý, đời thường Tuyến nhân vật hư cấu hoàn toàn có vai trò phụ
trợ, bổ sung, giải thích, làm sáng rõ nhân vật có thật nhằm phục hiện lại bức tranh đời sống quá khứ một cách sinh động cho tác phẩm để truyền đến người đọc những bài học giáo huấn sâu sắc Nhà văn cũng quan tâm đến việc hư cấu để phân tích tâm lý, khắc họa tính cách của nhân vật rõ nét hơn, chất thế sự đậm hơn so với xu hướng TTLS bám sát sử liệu
Xu hướng TTLS đối thoại với sử liệu thường đề cao yếu tố “hư cấu” hơn yếu tố “lịch sử”, nhà
văn tạo ra nhiều nhân vật hư cấu hoàn toàn và phân tích sâu hơn về mặt tâm lý, chất thế sự nổi bật hơn hẳn so với hai xu hướng trên Xu hướng TTLS đối thoại với sử liệu quan tâm đến việc hư cấu
để phản ánh được không khí lịch sử của thời đại, họ không quan tâm nhiều đến tính chân xác của lịch sử Họ coi lịch sử chỉ là phương tiện để thể nghiệm những suy tư cá nhân về lịch sử bằng quan điểm nhân đạo, gửi gắm những bức thông điệp thẩm mĩ của nhà văn Khác với xu hướng TTLS bám sát sử liệu ở chỗ trong xu hướng TTLS đối thoại với sử liệu, nhà văn không nhằm truyền đến người đọc những tri thức dày đặc về sự kiện lịch sử và nhân vật có thật, mà đề cao tính hư cấu để hình dung lại không khí lịch sử của quá khứ, hiểu lối sống, nếp nghĩ, văn hóa ứng xử in dấu trong các nhân vật có thật, tạo ra nhiều nhân vật hư cấu hoàn toàn để từ đó ngẫm về hiện tại, nghĩa là lịch sử
Trang 37được “cấu trúc lại” trong sự nhận cảm và trải nghiệm cá nhân nhà văn mà không xuyên tạc lịch sử, đảm bảo logic lịch sử đã ăn sâu trong tâm thức cộng đồng Một số nhà văn mượn lịch sử để chuyển hướng khám phá lịch sử từ góc nhìn văn hóa, phong tục bằng cái nhìn đa chiều theo tâm lý của con người hiện tại, nhằm luận giải, đối thoại, tôn vinh các giá trị, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong bối cảnh hội nhập toàn cầu và chống lại sự xuống cấp đạo đức xã hội cũng là một sự đổi mới đáng ghi nhận của xu hướng TTLS đối thoại với sử liệu Trong xu hướng này, cũng có nhà văn đưa một
số ít nhân vật lịch sử có thật để tạo khung truyện, muốn đối thoại, “nhận thức lại” một số vấn đề lịch
sử, đánh giá nhân vật có thật một cách khách quan, công bằng, dân chủ Nhân vật trong xu hướng này không được khắc họa rõ nét ở hành động, tính cách như hai xu hướng trên Xu hướng này hư cấu nhằm đối thoại, biện giải về các vấn đề lịch sử, không né tránh những góc khuất lịch sử, thậm chí phản biện, giải thiêng thần tượng hay dự phóng về những khả năng có thể xảy ra của lịch sử theo tinh thần không hiểu sai bản chất lịch sử Nhà văn còn đối thoại, luận giải về các vấn đề văn hóa, phong tục hay đối thoại về cuộc đời, số phận của cá nhân kết đọng trong chiều sâu của lịch sử qua biến cố, mâu thuẫn, xung đột, bước ngoặt tất yếu của lịch sử Đây cũng là một số điểm mới so với hai xu hướng trên
Từ những năm Đổi Mới (1986) đến nay, ta thấy số lượng và chất lượng của nhiều tác phẩm đồ
sộ là minh chứng cho sự phát triển vượt bậc của TTLS Thể loại văn học này có ý nghĩa lớn, thúc đẩy tiến bộ xã hội, nhất là giáo dục thế hệ trẻ nhận thức rõ các bài học lịch sử, kinh nghiệm quý báu của cha ông, truyền thống yêu nước, nhân đạo, chính nghĩa, yêu chuộng hòa bình, luôn có ý thức xây dựng đất nước phát triển giàu mạnh và bảo vệ từng tấc đất của tổ tiên
Sự cách tân thể loại từ giai đoạn sau Đổi Mới (1986) đến nay còn thể hiện trên nhiều mặt như nội dung, hình thức nghệ thuật, sự phát triển đa xu hướng mà ở đây chúng tôi chia thành: xu hướng TTLS bám sát sử liệu, xu hướng TTLS dụ ngôn hóa sử liệu và xu hướng TTLS đối thoại với sử liệu, chủ đề lịch sử được khám phá theo nhiều quan điểm và lối tư duy nghệ thuật khác nhau, tạo nên nhiều phong cách khác nhau
Trang 38Chương 2
XU HƯỚNG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ BÁM SÁT SỬ LIỆU
2 1 Khái quát xu hướng tiểu thuyết lịch sử bám sát sử liệu
Trước sự phát triển của công nghệ thông tin, nhiều vấn đề lịch sử bị xuyên tạc trên không gian mạng xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến hình ảnh đất nước và đời sống tinh thần của nhân dân Vì vậy, các nhà văn viết theo xu hướng TTLS bám sát sử liệu muốn thế hệ trẻ yêu lịch sử, nắm chắc truyền thống lịch sử dân tộc để chống lại “sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa độc hại gây hủy hoại đạo đức xã hội” [143; 177], chống lại những ảnh hưởng tiêu cực từ những thông tin xuyên tạc lịch sử dân tộc trên mạng, giữ gìn hình ảnh đất nước, nâng cao lòng yêu nước, xây dựng cuộc sống hiện tại trong bối cảnh hội nhập toàn cầu Ngoài ra, còn nhiều lí do khác thúc đẩy sự ra đời của xu hướng TTLS bám sát sử liệu như: xuất phát từ “tình yêu lịch sử và văn học sử”, “nhu cầu nghề nghiệp” của nhà văn [143; 177], “học sinh hiện nay quay lưng lại với lịch sử dân tộc Những bài thi sử viết sai hay nhầm các mốc sự kiện và nhân vật” [143; 167]; các em thường né tránh, không dám chọn thi môn lịch sử, có năm số lượng học sinh đăng kí thi môn sử chỉ đếm trên đầu ngón tay Đó là một số nguyên nhân chính xuất phát từ thực tiễn cuộc sống, làm nảy sinh xu hướng này
Xuất phát từ quan điểm của lý luận văn học cho rằng văn học phải phản ánh hiện thực cuộc sống, xu hướng TTLS bám sát sử liệu phản ánh chân thực lịch sử khách quan, miêu tả diễn biến của các sự kiện gắn với người thật, việc thật đã từng xảy ra trong quá khứ Các nhà văn trong xu hướng TTLS bám sát sử liệu thường theo quan niệm truyền thống, cho rằng “lịch sử diễn ra chỉ một lần và không lặp lại” và “hoàn toàn cố định”, bất biến, không
ai được phép thay đổi những cái đã xảy ra trong quá khứ gắn với nhân vật có thật và các sự kiện được chính sử ghi chép Vì thế, họ đề cao yếu tố lịch sử, đặc biệt coi trọng, trung thành với các sự thật lịch sử được ghi chép trong sử liệu Các tác phẩm của họ thường liên kết chặt chẽ nguồn sử liệu, miêu tả trung thành lịch sử gắn với các nhân vật có thật và sự kiện đã từng diễn ra trong quá khứ theo tinh thần bám sát sử liệu, minh họa lịch sử bằng kỹ thuật đa điểm nhìn trong chiến lược tự sự, nhằm phổ biến đến người đọc những kiến thức lịch sử dày đặc được đan dệt trong cốt truyện Trong xu hướng TTLS bám sát sử liệu, nhà văn bao giờ cũng đưa vào tác phẩm nhiều cứ liệu lịch sử, có nhiều nhân vật chính đóng vai trò trung tâm của tác phẩm là các nhân vật có thật trong lịch sử, có nhiều sự kiện, biến cố của quá khứ được phục hiện hợp lý trong các khoảng không- thời gian của lịch sử Nếu xu hướng TTLS đối thoại với sử liệu không quan tâm nhiều đến sự kiện có thật và nhân vật lịch sử, thì xu hướng TTLS bám sát sử liệu lại ngược lại, rất chú trọng đến việc miêu tả các
sự kiện lịch sử và nhân vật có thật, phản ánh người thật việc thật; sự kiện lịch sử được khắc sâu một cách chân xác, được coi trọng, đề cao và đẩy lên bình diện hàng đầu, đóng vai trò trung tâm trong các lớp cấu trúc cốt truyện, đặc biệt là các sự kiện dựng và giữ nước của
Trang 39cha ông, chống giặc ngoại xâm, mở mang bờ cõi, thống nhất đất nước, xây dựng nền văn hiến Xu hướng TTLS bám sát sử liệu khác với xu hướng TTLS đối thoại với sử liệu ở chỗ không hoài nghi hay viết đảo lại lịch sử, không hư cấu tưởng tượng về những góc khuất với những khả năng có thể xảy ra của lịch sử, mà thiên về tính chất mô tả, kể lại lịch
sử qua các sự kiện gắn với các nhân vật lịch sử đã định hình trong khung cố định của sử liệu, cố gắng tạo dựng không khí thời đại đến gần sát với hiện thực lịch sử Nhưng đó không phải là sự phục dựng lại lịch sử một cách giản đơn, máy móc mà thể hiện quan điểm lịch sử sâu sắc trong việc nhìn nhận, kết nối, xâu chuỗi các sự kiện lịch sử và nhân vật có thật trong bức tranh toàn cảnh về các giai đoạn lịch sử cụ thể, làm người đọc hiểu đúng bản
chất lịch sử một cách khái quát Đại đa số các nhà văn trong xu hướng TTLS bám sát sử
liệu chỉ quan tâm đến họ tên, tiểu sử, vai trò, hành động của nhân vật trước sự kiện, biến cố lịch sử gắn với mốc thời gian xác định được ghi chép trong chính sử, mà không quan tâm nhiều đến việc hư cấu, khám phá nhân vật với tư cách là con người trần thế có nhiều trạng thái tâm lí phức hợp trong cuộc sống đời tư như hai xu hướng TTLS dụ ngôn hóa sử liệu và
TTLS đối thoại với sử liệu Tuy nhiên, trong xu hướng này cũng có một số ít nhà văn như Nguyễn Mộng iác, Nguyễn Thế Quang bước đầu dần quan tâm đến chuyện thế sự đời tư với hình tượng con người trần thế được miêu tả bám sát nguyên mẫu, có hư cấu chút ít về mặt tâm lý Qua các nhân vật có thật và sự kiện của quá khứ được phục dựng lại, người đọc
được thanh lọc tâm hồn, bồi đắp thêm lòng yêu nước, tự hào về lịch sử hào hùng của cha ông, biết đồng cảm với những mảnh đời, số phận con người
Xu hướng TTLS bám sát sử liệu xây dựng các hình tượng nghệ thuật chân thật, sống động dựa trên sự bám sát sử liệu, theo đúng nguyên mẫu nhân vật, sự kiện có thật được ghi chép trong sử liệu để tiệm cận đến “nguyên mẫu ngoài đời” và “sự thật ngoài đời” Mỗi nhà văn sẽ có sự trải nghiệm lịch sử, nhìn nhận, đánh giá nhân vật lịch sử, xâu chuỗi các sự kiện có thật theo những cách khác nhau, nhưng đều phải đảm bảo nguyên tắc phản ánh đúng bản chất tính cách của nhân vật lịch sử và sự kiện có thật theo quy luật tất yếu và logic lịch sử đúng như nó có thể đã xảy ra trong quá khứ mà sử liệu đã ghi chép Khác với các nhà văn trong xu hướng đối thoại với sử liệu, các nhà văn trong xu hướng TTLS bám sát sử liệu không đề cao việc hư cấu nhằm hoài nghi, đảo lại lịch sử, phản biện, luận giải
về những khả năng có thể xảy ra của lịch sử, không phục hiện lại lịch sử với các nhân vật
có thật và sự kiện của quá khứ một cách “khác lạ” so với những gì cộng đồng đã biết trước
từ nguồn sử liệu
Một đặc điểm nữa dễ nhận thấy là khi các nhà văn trong xu hướng TTLS bám sát sử
liệu miêu tả các trận đánh khốc liệt, các cuộc đấu trí căng thẳng, tốc độ trần thuật thay đổi
rõ rệt với những lời kể gấp gáp, nhịp nhanh, mạnh, dồn dập, căng thẳng, quyết liệt để làm nổi bật sự kiện lịch sử, tô đậm hành động và phẩm chất đạo đức, tài năng, trí tuệ của nhân vật có thật trước những bước ngoặt quan trọng trong lịch sử dựng và giữ nước của cha ông
Trang 40Điều này cho thấy xu hướng TTLS bám sát sử liệu vẫn chịu ảnh hưởng của tiểu thuyết cổ điển chương hồi của Trung Quốc, nhất là lối kết cấu chương hồi và cách đặt nhan đề các
“hồi” bằng các mệnh đề hoặc các cụm từ đối nhau chặt chẽ để kích thích trí tò mò, tăng chất kịch tính
Trong xu hướng TTLS bám sát sử liệu, các nhà văn đặc biệt quan tâm đến các sự kiện
có thật, các nhân vật lịch sử, các hình thái xã hội và đời sống quá khứ Vì thế, trong các tác phẩm, cấu trúc đặc trưng thể loại phải có yếu tố lịch sử thể hiện qua việc tổ chức, sắp xếp các sự kiện, biến cố lịch sử trong mối quan hệ với các nhân vật có thật được sử liệu ghi chép gắn với những sự thật đã xảy ra và hoàn tất trong quá khứ ở khoảng không- thời gian xác định, mà nhà văn không thể bịa đặt, không xuyên tạc sai bản chất Xu hướng TTLS bám sát sử liệu lấy các sự thực khách quan được ghi chép trong sử liệu làm đối tượng chính để mô tả, tái hiện lịch sử như nó vốn có, để tạo niềm tin cho người đọc về sự thật khách quan đã được cộng đồng công nhận Xu hướng này chưa chú ý nhiều đến việc hư cấu thời gian tâm lý của nhân vật, cảm xúc đời thường của con người trần thế, nên chưa sinh động như xu hướng TTLS dụ ngôn hóa sử liệu hay xu hướng TTLS đối thoại với sử liệu
Nhìn chung, xu hướng TTLS bám sát sử liệu kế thừa những thành tựu đã đạt được của văn học quá khứ, miêu tả con người của quá khứ trong mối quan hệ với cộng đồng quốc gia dân tộc và gắn chặt với các sự thật lịch sử được sử liệu ghi chép Qua các tác phẩm của
xu hướng này, ta thấy lịch sử được soi chiếu, phục dựng lại qua các trận chiến, các sự kiện, biến cố lớn của dân tộc Xu hướng TTLS bám sát sử liệu đạt được nhiều thành tựu quan trọng với nhiều tác phẩm lớn có giá trị, chất lượng cao, quy mô đồ sộ, có nhiều đổi mới về mặt nội dung và hình thức nghệ thuật Điều này cho thấy xu hướng TTLS bám sát
sử liệu cũng góp phần thúc đẩy sự phát triển phong phú, đa dạng của TTLS Việt Nam đương đại nói chung
2.2 Một số đặc điểm nội dung của xu hướng tiểu thuyết lịch sử bám sát sử liệu
2.2.1 Nguyên lí chính nghĩa trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Xu hướng TTLS bám sát sử liệu thường chú ý nhiều đến các nhân vật lịch sử, sự kiện
có thật Nhân vật “là phương tiện tư duy về hiện thực và định hướng giá trị của con người” [273; 118] và nhiệm vụ chủ yếu trong xây dựng nhân vật của nhà văn là “miêu tả con
người cho sinh động”, thể hiện “nội dung và tư tưởng chủ đề của tác phẩm” Nội dung
quan trọng của xu hướng TTLS bám sát sử liệu được đề cập trong nhiều tác phẩm là
nguyên lí chính nghĩa gắn với việc yên dân và dẹp nội chiến, chống xâm lược được thể hiện qua nhiều hình tượng nghệ thuật trong nhiều tác phẩm
Xu hướng TTLS bám sát sử liệu nêu lên nội dung quan trọng, đó là nguyên lí chính nghĩa gắn với việc yên dân, nghĩa là làm cho dân được sống trong yên bình, ấm no, hạnh phúc Muốn vậy, phải dẹp yên các thế lực áp bức bóc lột, làm hại dân, gây nội chiến và