Nghệ thuật truyền thống

Một phần của tài liệu Tiềm năng du lịch văn hoá hà nội (Trang 62 - 67)

CHƯƠNG 2. GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA HÀ NỘI VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH

2.2. Các giá trị văn hóa phi vật thể

2.3.3. Nghệ thuật truyền thống

Nghệ thuật truyền thống Hà Nội bao gồm rất nhiều loại hình từ tranh dân gian, văn học dân gian đến các loại hình âm nhạc, sân khấu dân gian.

* Tranh Hàng Trống, một trong những dòng tranh dân gian Việt Nam, được làm chủ yếu tại phố Hàng Trống, quận Hoàn Kiếm. Tranh Hàng Trống là kết quả của sự giao thoa tinh hoa giữa Phật giáo, Nho giáo; giữa loại hình tượng thờ, điêu khắc ở đình, chùa với những nét đẹp trong sinh hoạt văn hoá hằng ngày. Tranh Hàng Trống sử dụng kỹ thuật nửa in nửa vẽ, tranh chỉ in ván nét lấy hình, còn màu là thuốc nước, tô bằng bút lông mềm theo kỹ thuật vờn màu nên màu sắc đậm đà hơn tranh Đông Hồ. Đề tài của tranh rất phong phú nhưng chủ yếu là tranh thờ. Ngoài ra cũng có những bức tranh chơi như các bộ Tứ Bình với nội dung là tranh Tố nữ, Tứ dân, Tứ quý, Lý ngư vọng nguyệt... có khi là tranh liên hoàn từ các truyện như Nhị độ mai, Thạch Sanh, Truyện Kiều…[40,36]

* Hát ca trù hay hát ả đào là một bộ môn nghệ thuật truyền thống kết hợp hát cùng một số nhạc cụ dân tộc. Ca trù từng là một loại ca trong cung đình được giới quý tộc và học giả yêu thích. Ngày 01/10/2009, ca trù đã được UNESCO công nhận là di sản phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp.

Một chầu hát cần có ba thành phần chính: Một nữ ca sĩ gọi là đào hay ca nương sử dụng bộ phách gõ lấy nhịp; một nhạc công nam giới gọi là kép chơi đàn đáy; Người thưởng ngoạn gọi là quan viên đánh trống chầu. Không gian trình diễn ca trù tương đối nhỏ. Đào hát ngồi trên chiếu ở giữa. Kép và quan viên ngồi chếch sang hai bên. Bài bản ca trù có nhiều loại. Phổ thông nhất là hát nói, một thể văn vần có tính cách văn học cao. Nguồn gốc của thể Hát nói trong văn chương Việt Nam được giải thích bằng những nguyên nhân và các sự việc sau đây:

Hát nói là sự phàm tục hoá những thể thánh ca. Những bài hát cửa đền dần được các tao nhân, mặc khách tổ chức ngay trong những cuộc giải trí riêng của họ.

Hát nói là sự cụ thể hoá ảnh hưởng của học thuyết Lão - Trang. Được các nhà Nho thích tự do sáng tạo, gửi gắm những cảm xúc vượt ra ngoài khuôn phép với cách diễn đạt cởi mở để chống lại sự gò bó trong tư tưởng Nho giáo.

Hát nói là biến thể của song thất lục bát. Trong hát nói có Mưỡu là những câu thơ lục bát, nhiều câu 7 chữ có vần bằng, vần trắc, có cước vận, yêu vận. Nhưng khi đã phát triển, Hát nói là một thể tài hỗn hợp gồm: thơ, phú, lục bát, song thất, tứ tự, nói lối ... Trong lối Hát ả đào có nhiều loại như:

Dâng hương, Giáo trống, Gủi thư, Thét nhạc thì Hát nói là lối thông dụng và có tính văn chương lý thú nhất.

Theo thống kê của các nhà nghiên cứu, năm 2010 có 63 câu lạc bộ ở 15 tỉnh, thành phố trên cả Việt Nam có hoạt động thường xuyên và có kế hoạch luyện tập truyền nghề ca trù. Hà Nội có Câu lạc bộ Ca trù Lỗ Khê, CLB Ca trù Thăng Long, CLB Ca trù thôn Chanh (Phú Xuyên), CLB Ca trù Bích Câu. [49,18]

* Múa rối nước là một loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian truyền thống ra đời ở vùng châu thổ sông Hồng. Loại hình này thường diễn vào dịp lễ hội làng, ngày Tết, dùng con rối diễn trò, diễn kịch trên mặt nước. Trò rối nước cũng được coi là nét văn hóa phi vật thể đặc sắc của dân tộc Việt Nam.

Con rối làm bằng gỗ sung, hình thù của con rối thường tươi tắn, ngộ nghĩnh, tính hài và tính tượng trưng cao. Phần thân rối là phần nổi lên mặt nước thể hiện nhân vật, còn phần đế là phần chìm dưới mặt nước là nơi lắp máy điều khiển cho quân rối cử động. Máy điều khiển và kỹ xảo điều khiển trong múa rối nước tạo nên hành động của quân rối nước trên sân khấu, đó chính là mấu chốt của nghệ thuật trò rối nước.

Buồng trò rối nước là nhà rối hay thủy đình thường được dựng lên giữa ao, hồ với kiến trúc cân đối. Sân khấu rối nước là khoảng trống trước mặt buồng trò. Buổi diễn rất nhộn nhịp với lời ca, tiếng trỗng, mò, tù và, chen tiếng pháo thăng thiên từ dưới nước lên, trong ánh sáng lung linh và màn khói huyền ảo.

Trò rối nước là trò khéo lấy động tác làm ngôn ngữ diễn đạt. Âm nhạc điều khiển tốc độ, giữ nhịp, dẫn dắt động tác với tiết tấu truyền thống giữ vai trò chủ đạo của trò rối nước, nhạc rối nước thường sử dụng các làn điệu chèo hoặc dân ca đồng bằng Bắc Bộ. Trong kho tàng trò rối nước của Việt Nam, các trò diễn thường được mở đầu bằng sự giới thiệu của chú Tiễu. Nội dung một vở múa rối nước thường là: những công việc nhà nông hay lễ hội, trích đoạn một số tích cổ: Thạch Sanh, Tấm Cám... [74]

Một số phường rối nước quanh Hà Nội như Đào Thục, Đào Xá - Huyện Đông Anh, chùa Nành - Gia Lâm...

* Hát Chèo là một loại hình nghệ thuật mang tính quần chúng và được coi là một loại hình sân khấu của hội hè dân gian. Chèo bắt nguồn từ âm nhạc và múa dân gian, nhất là trò nhại từ thế kỷ 10. Qua thời gian, người Việt đã phát triển các tích truyện ngắn của chèo dựa trên các trò nhại này thành các vở diễn trọn vẹn dài hơn. Nội dung các vở chèo lấy từ những truyện cổ tích, truyện Nôm được nâng

lên một mức cao bằng nghệ thuật sân khấu mang giá trị hiện thực và tư tưởng sâu sắc; ca vũ nhạc từ dân ca dân vũ; lời thơ chủ yếu là thơ dân gian. Lối chèo thường diễn những việc vui cười, đả kích những thói xấu của người đời.

Nhân vật trong chèo thường mang tính ước lệ. Những nhân vật phụ của chèo có thể đổi đi và lắp lại ở bất cứ vở nào, nên hầu như không có tên riêng.

Có thể gọi họ là thầy đồ, phú ông, thừa tướng, thư sinh, hề... Diễn viên đóng chèo là những người không chuyên, hợp nhau trong những tổ chức văn nghệ dân gian gọi là phường chèo... Đây là loại hình nghệ thuật kể chuyện bằng sân khấu, lấy sân khấu và diễn viên làm phương tiện giao lưu với công chúng, và có thể được biểu diễn ngẫu hứng. Các nghệ sỹ tham gia diễn chèo thường ứng diễn. Do vậy, vở kịch kéo dài hay cắt ngắn tuỳ thuộc vào cảm hứng của người nghệ sỹ hay đòi hỏi của khán giả. Không giống các vở opera buộc các nghệ sỹ phải thuộc lòng từng lời và hát theo nhạc trưởng chỉ huy, nghệ sỹ chèo được phép tự do bẻ làn, nắn điệu để thể hiện cảm xúc của nhân vật.

Đặc điểm nghệ thuật của chèo bao gồm yếu tố kịch tính, kỹ thuật tự sự, phương pháp biểu hiện tính cách nhân vật, tính chất ước lệ và cách điệu.

Ngôn ngữ chèo có những đoạn sử dụng những câu thơ chữ Hán, điển cố, hoặc những câu ca dao với khuôn mẫu lục bát rất tự do, phóng khoáng về câu chữ.

Chèo sử dụng tối thiểu là hai loại nhạc cụ dây là đàn nguyệt và đàn nhị đồng thời thêm cả sáo. Bộ gõ nếu đầu đủ thì có trống cái, trống con, trống cơm, thanh la, mõ. Có câu nói phi trống bất thành chèo chỉ vị trí quan trọng của chiếc trống trong đêm diễn chèo.

Một số vở chèo tiêu biểu như: Chu Mãi Thần, Lưu Bình Dương Lễ, Quan Âm Thị Kính, Tuần Ty Đào Huế, Trương Viên… Một số giai điệu chèo cổ như: Quân tử dịch, Sử bằng, Đò đưa, Du xuân, Đào liễu, Đường trường trong rừng, Tuyết sương, Quá giang...

Chèo sân đình là loại hình chèo cổ của những phường chèo xưa, thường được biểu diễn ở các sân đình, sân chùa. Sân khấu chèo sân đình thường chỉ là

một chiếc chiếu trải ngoài sân, đằng sau treo chiếc màn nhỏ, diễn viên và nhạc công ngồi hai bên mép chiếu. Chèo diễn theo lối ước lệ, cảnh trí chỉ được thể hiện theo ngôn ngữ, động tác cách điệu của diễn viên. [14,25]

*Hát Xẩm là một loại hình dân ca phổ biến ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ. Những người hát xẩm thường là người khiếm thị đi hát rong kiếm sống và do đó hát xẩm còn có thể coi là một nghề.

Bộ nhạc cụ đơn giản nhất để hát xẩm chỉ gồm đàn nhị và sênh. Ngoài ra, đàn đáy, trống cơm, sáo và thanh la cũng có thể hiện diện trong hát xẩm.

Xẩm có hai làn điệu chính là xẩm chợ và xẩm cô đào. Ngoài ra xẩm còn sử dụng nhiều làn điệu dân ca của vùng đồng bằng Bắc Bộ khác như trống quân, cò lả, hát ví, ru em, quan họ, chèo,... hoặc ngâm thơ các điệu bồng mạc, sa mạc. Theo môi trường biểu diễn ngoài xẩm chợ và xẩm cô đầu (hay còn gọi là xẩm nhả tơ, xẩm nhà trò, xẩm huê tình) sau này còn có một dòng xẩm của Hà Nội gọi là xẩm tàu điện thường được hát trên tàu điện.

Ca từ của xẩm chủ yếu là thơ lục bát, lục bát biến thể có thêm các tiếng láy, tiếng đệm cho phù hợp với làn điệu. Nội dung của các bài xẩm có thể mang tính tự sự như than thân trách phận; châm biếm những thói hư, tật xấu...

* Hát văn, còn gọi là chầu văn hay hát bóng, là một loại hình nghệ thuật ca hát cổ truyền trong nghi thức hầu đồng của tín ngưỡng Tứ phủ và tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần. Bằng cách sử dụng âm nhạc với các lời văn chau truốt nghiêm trang, chầu văn được coi là hình thức ca hát mang ý nghĩa chầu thánh.

Chầu văn sử dụng nhiều thể thơ khác nhau như thơ thất ngôn, song thất lục bát, lục bát, hát nói… Các nhạc cụ chính gồm đàn nguyệt, trống ban, phách, thanh la, trống cái, sáo,… Về tiết tấu, hát văn thường sử dụng nhịp đảo phách mang đến một cảm giác không ổn định trong tâm trí người nghe, đưa người nghe vào trạng thái mông lung, huyền ảo. Hát chầu văn sử dụng nhiều làn điệu (lối hát). Các làn điệu hát văn cơ bản gồm: Bỉ, Miễu, Phú Bình, Phú

Chênh, Phú Nói, Phú rầu, Đưa Thơ, Vãn, Dọc, Kiều Dương, Hãm, Dồn, Hát Sai, ngâm thơ... [49,17]

Một phần của tài liệu Tiềm năng du lịch văn hoá hà nội (Trang 62 - 67)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(133 trang)