CHƯƠNG 2. GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA HÀ NỘI VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH
2.1. Các giá trị văn hóa vật thể
2.1.3. Di tích kiến trúc nghệ thuật
Hà Nội ngày nay tồn tại một hệ thống di tích chùa thờ Phật. gần như làng quê ngoại thành nào cũng có chùa, thậm chí trong các phường nội thành cũng còn lại chùa- dấu tích của các làng quê xưa. Mỗi ngôi chùa Hà Nội lại có những giá trị riêng, độc đáo. Có những di tích là hệ thống nhiều chùa (như chùa Hương, chùa Thầy). Có chùa gắn với các dấu tích lịch sử như chùa Bồ Đề ở quận Long Biên được giới sử học xác định là vị trí bến Bồ Đề trong cuộc vây thành Đông Quan của nghĩa quân Lam Sơn năm 1427; chùa Hòe Nhai được xác định là vị trí chiến thắng Đông Bộ Đầu năm 1258 của nhà Trần; Chùa Bộc gắn liền với chiến tích trận Đống Đa của quân Tây Sơn năm 1789 với những dấu tích như Hồ Tắm Tượng, Loa Sơn, Thanh Miếu, Tượng Quang Trung dưới hình thức tượng Đức Ông.
Có chùa là tổ đình của những dòng tu lớn hay là trung tâm Phật giáo như: chùa Kiến Sơ (ở xã Phù Đổng thuộc dòng thiền Vô ngôn thông), chùa Hòe Nhai (thuộc dòng thiền Tào Động), chùa Non Nước (thờ Quốc sư Ngô Chân Lưu), chùa Quán Sứ (là trụ sở của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Phân viện Nghiên cứu Phật học và Văn phòng tổ chức Phật giáo Châu Á vì hòa bình ở Việt Nam).
Nhiều ngôi chùa lại là nơi lưu giữ những cổ vật độc đáo như chùa Bà Tấm (ở huyện Gia Lâm lưu giữ rất nhiều di vật đời Lý), chùa Hòe Nhai (có pho tượng kép hình một vị vua quỳ để tượng Phật trên lưng), chùa Hà (quận Cầu Giấy với pho tượng Đức Ông rất linh thiêng nên dân quanh vùng có
câu Đức Ông chùa Hà, Đức Bà chùa Hương), chùa Liên Phái (Trước cổng chùa là tháp Diệu Quang 10 tầng có hình lục lǎng, tháp Cửu Sinh xây bằng đá - là ngôi tháp cổ nhất trong nội thành Hà Nội. Chùa Kim Liên (lưu giữ được một tấm bia cổ nhất ở Hà Nội hiện nay, có từ năm 1445); Chùa Đậu (nổi tiếng với hai pho tượng của hai nhà sư Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường đã tu ở chùa vào khoảng thế kỷ 17, được tạo bằng kỹ thuật truyền thống như: bó, hom, lót, thí, mài và thếp với các nguyên liệu như sơn ta, vải màn, giấy dó, mạt cưa và đất rồi quang dầu, thếp vàng bên ngoài chính thi hài các nhà sư, không có vết đục đẽo, không có hiện tượng hút ruột, hút óc và các khớp xương dính chặt với nhau như thể tự nhiên).
Có những ngôi chùa mang những giá trị kiến trúc độc đáo như: Chùa Kim Liên (nổi tiếng nhất là tam quan chùa với kiến trúc gỗ độc đáo: một hàng bốn cột gỗ tròn, những tàu đao vút cong như hình cánh hoa sen nở); Chùa Quảng Nghiêm hay chùa Trăm Gian ở huyện Chương Mỹ, nổi tiếng với một quần thể kiến trúc độc đáo. Trăm gian là cái tên rất bình dân nói lên vẻ bề thế của ngôi chùa với 104 gian; Chùa Láng là một ngôi chùa ở quận Đống Đa.
Cổng chùa với ba mái cong không chùm lên cột mà gắn vào sườn cột, hơi giống kiến trúc cổng cung vua phủ chúa ngày xưa. Vẻ bề thế của quần thể kiến trúc hài hòa, cân xứng với không gian thoáng đãng khiến cho chùa Láng đã từng được coi là đệ nhất tùng lâm ở phía Tây kinh thành Thăng Long xưa.
Nhiều ngôi chùa lại diễn ra những lễ hội độc đáo như chùa Vua (đấu trường cờ tướng danh tiếng bậc nhất Thăng Long suốt mấy trăm năm nay. Từ mùng 6 đến mùng 9 tháng Giêng hàng năm, tại chùa mở hội thi Cờ Tướng)…
Các ngôi chùa nổi tiếng hơn cả là:
* Chùa Hương Tích
Hương Sơn là một xã ở phía nam huyện Mỹ Đức. Tại đây có nhiều dãy núi đá vôi kề bên những dòng suối uốn lượn quanh co. Trên núi và trong các hang, người ta đã cho xây dựng nhiều đền, chùa mà trung tâm là chùa
Hương trong động Hương Tích. Đời vua Lê đã có am thờ Phật dựng trên mảnh đất chùa Thiên Trù. Các ngôi chùa chính được xây dựng với quy mô lớn vào khoảng cuối thế kỷ 17. Đến đầu thế kỷ 20, khu vực này đã có hơn 100 ngôi chùa.
Để tham quan các chùa ở Hương Sơn, du khách được qua nhiều địa danh nổi tiếng như: Bến Đục, nằm bên bờ sông Đáy, Bến Yến bên suối Yến, bến Trò (bến Thiên Trù), núi Ngũ Nhạc, núi Tiên, suối Giải Oan, động Tuyết Kinh, núi Chấn Song, rừng Mơ, suối Tuyết, núi Ông Sư Bà vãi, bến Long Vân, núi Thuyền Rồng, núi Con Phượng, hòn Đầu Sư Tử, vách đá Kỳ Sơn Tú Thủy, bến Tuyết Sơn, động Ngọc Long nơi đây năm 1770, Trịnh Sâm có làm bài thơ "Đăng Tuyết sơn hữu hứng".
Kết hợp với các thắng cảnh trên là các danh lam như đền Trình, chùa Thanh Sơn, chùa Tiên, am Phật Tích, đền cửa Võng, chùa Hinh Bồng, đền Mẫu Hạ, chùa Bảo Đài, chùa Tuyết, chùa Cây Khế…
Chùa Trò - tức chùa Thiên Trù (có nghĩa là Bếp Trời), còn được gọi là chùa Ngoài. Ở đây còn có Thiên Thủy tháp là một mỏm đá mọc ngược thành một cây tháp thiên tạo. Giữa đường từ chùa Thiên Trù đến chùa Hương là chùa Giải Oan. Ở đây có giếng nước trong vắt gọi là "Thiên nhiên thanh trì"
hay còn gọi là giếng Long Tuyền. Từ chùa Thiên Trù, theo đường núi quanh co đi khoảng 2 km thì đến chùa Hương còn gọi là chùa Trong. Trong chùa còn giữ được một pho tượng Cửu Long bằng đồng rất đẹp. [58,497]
* Chùa Thầy
Chùa Thầy là một ngôi chùa ở chân núi Sài Sơn, huyện Quốc Oai. Sài Sơn có tên Nôm là núi Thầy, nên chùa được gọi là chùa Thầy. Chùa Láng gắn liền với giai đoạn đầu của cuộc đời Từ Đạo Hạnh, còn chùa Thầy lại chứng kiến quãng đời sau cùng của vị sư này. Ban đầu chùa Thầy chỉ là một am nhỏ nơi Thiền sư Từ Đạo Hạnh trụ trì. Về sau chùa gồm hai cụm: chùa Cao (Đỉnh Sơn Tự) trên núi và chùa Dưới (tức chùa Cả, tên chữ là Thiên Phúc Tự).
Tại chùa có hai pho tượng Hộ pháp lớn nhất trong các ngôi chùa Việt Nam, cao gần 4m. Tượng Hộ pháp đắp bằng đất thó, giấy bản giã nhỏ trộn với mật, trứng..., nên sau hơn ba trăm năm vẫn còn rất tốt. Ngoài ra còn các pho tượng khác như tượng Di Đà Tam tôn được tạc vào đời Mạc, tượng Từ Đạo Hạnh trong kiếp Thánh, ngồi trong một khám gỗ làm bằng cốt bằng tre, có thể cử động. Tương truyền xưa kia mỗi khi mở cửa khám thì tượng tự động nhỏm dậy chào. Sau một vị quan triều Nguyễn nói rằng "Thánh thì không phải chào ai cả", nên tháo hệ thống khớp nối, từ đó tượng ngồi yên. Pho tượng này thể hiện nghệ thuật làm rối nước của dân gian. Các di vật khác là một bệ hoa sen còn lại từ đời Lý, một bệ đá làm vào thời nhà Trần.
Trên núi có chùa Cao, trên vách chùa còn khắc những bài thơ tức cảnh của các danh sĩ như Nguyễn Thượng Hiền... Hang Thánh hóa là nơi Từ Đạo Hạnh thoát xác đầu thai làm vua Lý Thần Tông. Trên đỉnh núi có một mặt bằng gọi là chợ Trời. Từ chùa Cao, đi vòng ra phía sau là hang Cắc Cớ, là nơi tình tự của trai gái ngày xưa trong những ngày hội hè, như ca dao đã ghi lại:
Gái chưa chồng trông hang Cắc Cớ,Trai chưa vợ nhớ hội chùa Thầy.
Đi ngược lên trên là đến đền Thượng. Gần đền Thượng có hang Bụt Mọc với nhiều tảng đá được thời gian bào mòn trông như tượng Phật. Tiếp đó là hang Bò với lối vào âm u. Cách một đoạn là đến hang Gió với những ngọn gió thổi thông thốc cả hai đầu. Ở chân núi phía Tây còn có chùa Bối Am, còn gọi là chùa Một Mái. Như vậy, quanh núi Thầy, ngoài chùa Thầy còn có cả một cụm kiến trúc Phật giáo được xây dựng trong những khoảng thời gian khác nhau.
* Chùa Mía có tên chữ là Sùng Nghiêm tự nằm ở xã Đường Lâm, huyện Ba Vì, Hà Nội. Chùa Mía lưu giữ nhiều tượng nghệ thuật nhất Việt Nam: có đến 287 pho tượng lớn, nhỏ, trong đó có 6 pho tượng đồng, 107 pho tượng gỗ và 174 pho tượng bằng đất luyện được sơn son thếp vàng [76].
Trong đó có tượng Quan Âm nổi tiếng với câu ca dao:
Nổi danh chùa Mía làng ta,Có pho Tống Tử Phật Bà Quan Âm
* Chùa Một Cột là một ngôi chùa nằm giữa lòng thủ đô Hà Nội. Đây là ngôi chùa có kiến trúc độc đáo ở Việt Nam. Chùa Một Cột chỉ có một gian nằm trên một cột đá ở giữa hồ Linh Chiểu có trồng hoa sen. Đài Liên Hoa chúng ta thấy hiện nay được sửa chữa lại năm 1955. Cạnh chùa Một Cột ngày nay còn có chùa Diên hựu, là công trình được dựng để phụ vào với chùa Một Cột. Chùa Một Cột đã được chọn làm một trong những biểu tượng của thủ đô Hà Nội, ngoài ra biểu tượng chùa Một Cột còn được thấy ở mặt sau đồng tiền kim loại 5000 đồng của Việt Nam.
* Chùa Trấn Quốc nằm trên một hòn đảo phía Đông Hồ Tây (quận Tây Hồ), chùa được coi là lâu đời nhất ở Hà Nội. Kiến trúc chùa có sự kết hợp hài hoà giữa tính uy nghiêm, cổ kính với cảnh quan thanh nhã giữa nền tĩnh lặng của một hồ nước mênh mang. Chùa được xây dựng lần đầu vào thời vua Lý Nam Đế (544 - 548) ở trên bãi sông Hồng và được đặt tên là Khai Quốc. Năm 1615, nhân dân đã cho dời chùa về địa điểm ngày nay và có tên là Trấn Quốc. Chùa là một địa điểm du lịch quan trọng, rất nhiều các nguyên thủ quốc gia đã từng đến thăm chùa.
* Chùa Tây Phương ở huyện Thạch Thất. Năm 1794, chùa được đại tu hoàn toàn và có kiến trúc như ngày nay. Nơi đây tập trung những kiệt tác hiếm có của nghệ thuật điêu khắc tôn giáo bao gồm chạm trổ, phù điêu và tạc tượng. Trong chùa có 72 pho tượng bằng gỗ mít sơn son thếp vàng. Nhiều pho được tạc cao hơn người thật như tượng Kim Cương và Hộ Pháp. Phần lớn các tượng này đều có niên đại cuối thế kỷ 18. Mười sáu pho tượng Tổ với phong cách hiện thực được tạc với nhiều tư thế khác nhau.
2.1.3.2. Các di tích đền
Đền là loại hình di tích thờ thần. Đền thờ tại Hà Nội đều thờ các vị thần thuộc tín ngưỡng thờ “Tứ bất tử”. Trong 4 vị thần tứ bất tử có 3 vị thần được lập
đền thờ chính tại Thăng Long - Hà Nội, đó là: Tản Viên Sơn Thánh, Thánh Gióng, và Chử Đồng Tử. Bên cạnh đó tín ngưỡng thờ thần ở Hà Nội còn bao gồm các vị tổ nghề, các vị thần phản ánh những tín ngưỡng cổ xưa của dân tộc như:
đền Đồng Cổ thờ thần Trống Đồng. Loại hình di tích đền thường có sự giao thoa về tín ngưỡng với các loại hình di tích khác như: chùa Lý Quốc Sư vốn là một ngôi đền thờ thánh Minh Không một vị sư có công chữa bệnh cho vua Lý, đền Cơ Xá thờ Lý Thường Kiệt lại là đình của làng, đền Kim Liên vốn là một trong tứ trấn Thăng long đôi khi lại mang chức năng đình làng... Đền thờ tại Hà Nội còn là nơi thờ các danh nhân văn hoá anh hùng dân tộc như Hai Bà Trưng... Bên cạnh đó Hà Nội còn có những ngôi đền không thuộc các tín ngưỡng thờ thần kể trên nhưng rất có giá trị văn hoá và là một điểm đến quan trọng của du lịch.
* Đền thờ Tản Viên Sơn Thánh
Tản Viên Sơn Thánh có lai lịch gốc tích ở vùng núi Tản Viên huyện Ba Vì. Tại đây cũng tồn tại tín ngưỡng thờ Thánh Tản với hệ thống tứ cung, trong đó, lớn nhất về quy mô cũng như về ảnh hưởng là Đền Và tại xã Trung Hưng, thị xã Sơn Tây, còn gọi là Đông Cung (Bắc Cung thuộc xã Tam Hồng, huyện Vĩnh Lạc, Vĩnh Phúc; Nam Cung thuộc xã Tản Lĩnh, Tây Cung thuộc xã Minh Quang, huyện Ba Vì, Hà Nội). Thánh Tản Viên, đứng đầu trong tứ bất tử là người anh hùng văn hoá sáng tạo trong tư duy nông nghiệp, người anh hùng trị thuỷ, chống giặc, biểu tượng của khối đoàn kết bộ tộc.
* Di tích đền thờ Thánh Gióng
Thánh Gióng là một vị thần thuộc tứ bất tử. Vị thần này được thờ tại nhiều ngôi đền trên địa bàn Hà Nội. Theo khảo sát của chúng tôi chưa tìm thấy một di tích thờ Thánh Gióng khác ngoài địa bàn Hà Nội. Những di tích quan trọng thờ Thánh Gióng là Đền Gióng Phù Đổng (huyện Gia Lâm) và Đền Sóc (huyện Sóc Sơn).
* Di tích đền thờ Hai Bà Trưng. Hai Bà Trưng được thờ tại ba ngôi đền lớn đều thuộc thành phố Hà Nội là đền Đồng Nhân, đền Hát Môn (huyện
Phúc Thọ), đền Hạ Lôi (huyện Mê Linh). Việc thờ Hai Bà Trưng, một anh hùng dân tộc cũng phản ánh tín ngưỡng thờ nữ thần của Việt Nam.
* Hệ thống đền Tứ Trấn Thăng Long: là bốn di tích liên quan đến việc hình thành và phát triển của Thăng Long - Hà Nội. Các di tích này phản ánh một tín ngưỡng thờ thần chỉ có ở Hà Nội. Tứ Trấn Thăng Long bao gồm: Đền Bạch Mã trấn giữ phía Đông kinh thành, ở 76 phố Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm thờ thần Long Đỗ - vị thần gốc của Hà Nội cổ; Đền Quán Thánh thờ Huyền Thiên Trấn Vũ để trấn giữ phía bắc thành Thăng Long khi xưa. Tại đền có pho tượng thần Huyền Thiên Trấn Vũ đúc bằng đồng đen là một công trình nghệ thuật độc đáo, đánh dấu kỹ thuật đúc đồng và tài nghệ của các nghệ nhân Việt Nam cách đây 3 thế kỷ. Đền Voi Phụcnằm tại phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình giữ phía Tây kinh thành thờ Linh Lang Đại Vương.
Ngoài ra, còn 9 cây muỗm cổ thụ nằm ngay trước sân đền. Những cây muỗm này có tuổi khoảng 700 năm nhưng rất đồ sộ và vẫn còn xanh tốt. Đền Kim Liên là trấn phía Nam nằm tại phường Phương Liên, quận Đống Đa. Đền Kim Liên vốn được lập nên để thờ Cao Sơn Đại Vương.
* Đền Ngọc Sơn nằm trên đảo Ngọc của hồ Hoàn Kiếm. Đền hiện nay được xây dựng từ thế kỷ 19 trong đền thờ thần Văn Xương Đế Quân chủ việc văn chương khoa cử và thờ Trần Hưng Đạo cùng một số nhân vật khác. Đền gồm các công trình kiến trúc có giá trị và ý nghĩa văn hoá cao như: Đình Trấn Ba, Đài Nghiên, cầu Thê Húc, Tháp Bút, Đắc Nguyệt Lâu... Sự kết hợp giữa đền và hồ đã tạo thành một tổng thể kiến trúc tạo vẻ đẹp cổ kính, hài hoà, đăng đối cho đền và hồ, gợi nên những cảm giác chan hoà giữa con người và thiên nhiên.[45,23]
2.1.3.3. Di tích đình làng
Đình tại Hà Nội cũng thuộc tín ngưỡng thờ thành hoàng làng Việt Nam.
Rất nhiều ngôi đình làng đã trở nên nổi tiếng. Vùng đất Sơn Tây - xứ Đoài, tiêu biểu cho nghệ thuật kiến trúc đình Việt Nam “Cầu Nam - Chùa Bắc -
Đình Đoài”. Nhiều ngôi đình làng tại Hà Nội nổi tiếng về kiến trúc điêu khắc như: Đình Chu Quyến, Đình Thuỵ Phiêu, Đình Mông Phụ, Đình Hoàng Xá...
Các ngôi đình tại xứ Đoài đều có đặc trưng kiến trúc với quy mô lớn, hệ thống sàn gỗ và không có tường bao xung quanh. Có những ngôi đình được tương truyền tồn tại đã hàng nghìn năm như: Đình Chèm tại xã Thụy Phương, huyện Từ Liêm thờ Lý Ông Trọng hay Đức Thánh Chèm. Đình làng là một địa chỉ du lịch quan trọng. Khách du lịch có thể được chiêm ngưỡng các tác phẩm điêu khắc nổi tiếng đồng thời cũng có thể được tham gia các lễ hội văn hoá độc đáo. Một số đình làng tiêu biểu như:
* Đình Tây Đằng nằm ở xã Tây Đằng, huyện Ba Vì. Đình gồm ngôi đình, tả và hữu mạc, sân đình, cổng đình, hồ bán nguyệt. Không rõ đình Tây Đằng được xây dựng vào năm nào. Trên một đầu cột của đình có ghi hàng chữ Quý Mùi niên tạo, nhưng lại không ghi niên hiệu. Các hoa văn mang phong cách cuối thời Lê Sơ (thế kỷ 16), song một số hình rồng lại mong phong cách thời Trần.
Ngôi đình Tây Đằng gồm có kết cấu trồng rường giá chiêng, gồm 5 gian. Có 8 hàng cột ngang và 6 hàng cột dọc, tổng cộng là 48 cây cột gỗ trong đó những cây cột lớn nhất có đường kính lên tới 80 cm. Các cây cột này đỡ hệ mái lợp ngói có các đầu đao cong trang trí hình rồng, phượng, lân, rùa bằng đất nung. Các chi tiết chạm khắc trên các phần gỗ theo nhiều đề tài khác nhau. Tả mạc và hữu mạc là hai ngôi kiến trúc ở hai phía sân trước ngôi đình. Cổng đình gồm 5 cây cột, không có mi. Trên đỉnh cột có trang trí hình lân. Đình vừa là nơi làm việc của các chức sắc và những người có ảnh hưởng trong làng, vừa là nơi tổ chức các lễ hội của làng, vừa là nơi thờ các thành hoàng của làng (gồm Sơn Tinh, Thánh Gióng, và Thần Nông). [58,1128]
* Đình Chu Quyến, còn gọi là đình Chàng ở xã Chu Minhhuyện Ba Vì Hà Nội ngày nay, là một ngôi đình cổ, có niên đại thuộc cuối thế kỷ 17, tiêu biểu cho kiến trúc gỗ dân gian truyền thống của Việt Nam thời Lê trung hưng (Hậu Lê). Đình Chàng làm bằng gỗ lim, thờ Nhã Lang, (tương truyền là