Thực trạng du lịch thành phố Hà Nội

Một phần của tài liệu Tiềm năng du lịch văn hoá hà nội (Trang 84 - 90)

CHƯƠNG 3. BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA NHẰM PHÁT TRIỂN DU LỊCH HÀ NỘI

3.3. Phát huy giá trị các di sản văn hóa tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển

3.3.1. Thực trạng du lịch thành phố Hà Nội

Ngày nay, trên phạm vi toàn thế giới, du lịch đã trở thành nhu cầu quan trọng trong đời sống văn hóa xã hội. Hoạt động du lịch đang phát triển một cách mạnh mẽ, trở thành một ngành kinh tế quan trọng ở nhiều nước trên thế giới. Với xu hướng chung, du lịch Việt Nam từng bước hòa nhập vào trào lưu phát triển của du lịch khu vực và thế giới. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, thời gian qua kinh tế Việt Nam ngày một tăng trưởng, chính trị ổn định, đường lối ngoại giao được đa dạng hóa, đa phương hóa với tinh thần Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới... cùng với nhiều sự kiện trọng đại khác như Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) sẽ là tiền đề to lớn thúc đẩy sự phát triển của du lịch Việt Nam trên đường hòa nhập vào du lịch thế giới.

Sự phát triển của du lịch văn hóa ở Hà Nội trong thời gian qua ngoài các yếu tố về cơ chế chính sách, cải thiện các điều kiện hạ tầng cơ sở vật chất kỹ thuật và sự phát triển của đội ngũ cán bộ nhân viên trong ngành, luôn gắn liền với việc khai thác các tiềm năng du lịch đa dạng trên địa bàn thành phố.

Trong những năm qua, việc khai thác các tiềm năng di sản văn hóa ở Hà Nội đã được chú trọng và trên thực tế góp phần đắc lực mang lại hiệu quả cho hoạt động kinh doanh du lịch cũng như đáp ứng được nhu cầu tham quan, tín ngưỡng, vui chơi giải trí của mọi tầng lớp nhân dân cả nước cũng như du khách quốc tế.

Bên cạnh các hoạt động tích cực, nhiều tiềm năng du lịch có giá trị ở Hà Nội do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan vẫn chưa được đầu tư

khai thác xứng đáng. Đây là vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu nhằm đưa vào khai thác mọi tiềm năng ấy góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển du lịch Hà Nội. Là vùng đất được mệnh danh có nhiều nguồn tài nguyên du lịch đặc sắc, thế nhưng trong thời gian vừa qua, các nguồn tài nguyên thiên nhiên và các giá trị văn hóa của Hà Nội chưa được khai thác, đầu tư và quan tâm đúng mức, và tự thân ngành du lịch Hà Nội cũng chưa thực sự thu hút du khách. Mặc dù khi nghe giới thiệu về các địa điểm du lịch ấy, ai cũng một lần muốn tìm đến. Theo một số thống kê cho thấy Hà Nội chưa phải là một thành phố hấp dẫn du lịch đặc biệt là với du khách quốc tế, thành phố chỉ là điểm chuyển tiếp trong hành trình khám phá Việt Nam của họ. Năm 2007, lượng khách quốc tế đến Hà Nội chỉ gần bằng một nửa so với thành phố Hồ Chí Minh. Năm 2008, lượng khách quốc tế đạt 1,3 triệu du khách trên tổng số 9 triệu khách tham quan Hà Nội [11,15].

Có những thời gian dài, ngành du lịch chưa ý thức hết được tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa du lịch, nhất là các giá trị văn hóa phi vật thể, thậm chí có những cái nhìn đầy định kiến, sai lầm, muốn xóa bỏ nó khỏi đời sống xã hội để rồi khi nhìn đúng giá trị của nó, thì thực tế các giá trị văn hóa ấy đã xuống mai một và mất đi những vẻ đẹp mà tự thân nó vốn có trong lịch sử. Nhiều di tích lịch sử văn hóa bị thu hẹp về không gian diện tích, bị sử dụng sai mục đích dẫn đến tình trạng bị xuống cấp trầm trọng.

Hiện nay, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch của ngành du lịch Hà Nội về kết cấu hạ tầng ban đầu còn chưa cao, chưa đạt tiêu chuẩn cần thiết để đáp ứng yêu cầu của ngành du lịch. Hệ thống giao thông đi lại trong nội thành gặp nhiều khó khăn bởi tình trạng tắc đường, khói bụi… Hệ thống nhà hàng, khách sạn còn chưa được đầu tư, phát triển đúng mức.

Đánh giá về tiềm năng du lịch Hà Nội phải đánh giá hết những yếu tố về nguồn lực, song cần phải thấy rõ cụ thể từng mặt hạn chế từ đó khai thác

đúng mức. Trong những năm vừa qua, hòa cùng với sự phát triển của cả nước trong công cuộc đổi mới, hướng vào phát triển kinh tế nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tình hình kinh tế - xã hội của Hà Nội có những chuyển hướng tích cực và đạt được những kết quả nhất định. Cơ cấu nền kinh tế của Hà Nội có những bước dịch chuyển tích cực theo xu hướng tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ. Tốc độ tăng trưởng dịch vụ bình quân hàng năm tăng cao. Nhưng sự gia tăng ấy chủ yếu nằm ở khu vực dịch vụ thương mại, tài chính ngân hàng… Riêng ngành dịch vụ du lịch vẫn còn thấp. Tỷ lệ lao động trong ngành du lịch chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng số lao động khu vực du lịch toàn thành phố.

Các số liệu về cơ sở vật chất của ngành được biết như sau: năm 2007, Hà Nội có 511 cơ sở lưu trú với hơn 12700 phòng đang hoạt động. Trong số này chỉ có 178 khách sạn được xếp hạng với 8424 phòng. Toàn thành phố có 9 khách sạn năm sao là Daewoo, Horison, Hilton Hà Nội Opera, Melia, Nikko, Sofitel Metropole, Sheraton, Softel Plaza và Inter Continetal, 6 khách sạn bốn sao và 19 khách sạn ba sao [11,17]. Tình trạng thiếu phòng nghỉ cao cấp và giá thuê phòng tại các khách sạn năm sao khá cao là một trong những nguyên nhân khiến lượng khách nước ngoài đến với Hà Nội là không cao.

Dịch vụ ăn uống tại Hà Nội, các nhà hàng sang trọng tập trung chủ yếu ở khu vực nội thành, còn chủ yếu là những nhà hàng ăn bình dân, quy mô nhỏ, đặc biệt là ở khu vực ngoại thành

Phương tiện vận chuyển, đưa đón khách tuy hiện đại nhưng vẫn chưa đáp ứng nhu cầu phục vụ khách du lịch. Tại nhiều điểm du lịch phương tiện giao thông còn thô sơ.

Các tuyến điểm, các chương trình du lịch còn chưa thực sự hấp dẫn, vẫn rất đơn điệu, chủ yếu là những tuyến quen thuộc. Về hình thức và nội dung còn đơn giản, chưa khai thác hết tiềm năng thiên nhiên cũng như các giá trị văn hóa nhân văn, các giá trị văn hóa dân tộc. Từ đó, dễ tạo sự nhàm chán

cho khách khi đứng trước tiềm năng vô cùng to lớn của du lịch Hà Nội. Qua nghiên cứu thực tế ngành du lịch chúng ta thấy sức hấp dẫn du khách tại các di sản văn hóa có nhiều khách nhau. Trên thực tế sự hiểu biết và nhu cầu được tham quan tìm hiểu thưởng thức của du khách đối với các loại hình di sản văn hóa phi vật thể thấp hơn rất nhiều so với di sản văn hóa phi vật thể. Ngay trong việc thu hút du khách tại các di tích văn hóa cũng khác nhau. Trong khu vực nội thành, những điểm tham quan chủ yếu chỉ tập trung ở khu vực: quảng trường Ba Đình, Văn miếu- Quốc tử giám và Hồ Gươm, đền Ngọc Sơn. Với khu vực ngoại thành ngoài địa điểm chùa Hương được khách tham quan thường xuyên, các di tích khác được chú ý đến thường là Cổ Loa, Bát Tràng, chùa Thầy, khu vực làng cổ Đường Lâm. Rất nhiều di sản văn hóa có giá trị khác hầu như chưa được khai thác. Trong hệ thống bảo tàng, các bảo tàng có thu hút được nhiều khách tham quan là bảo tàng Hồ Chí Minh, bảo tàng Dân tộc học, bảo tàng Lịch sử quân sự. Các bảo tàng còn lại thường trong tình trạng ít khách thậm chí không có khách tham quan (như các bảo tàng Tăng thiết giáp, bảo tàng Pháo binh…).

Khách tham quan đến các di tích thường chủ yếu thỏa mãn nhu cầu vãn cảnh thư giãn, tiếp đến là nhu cầu tâm linh. Rất ít du khách đến với mục đích tìm hiểu lịch sử văn hóa dân tộc.

Thời gian dành cho khách tham quan đến các địa điểm cũng có sự chênh lệch trong năm, những ngày nghỉ lễ, dịp nghỉ cuối tuần thường đông đảo du khách tham quan hơn cả. Với các di tích đình, đến, chùa vào các ngày Rằm và mùng 1 âm lịch cũng thu hút được một lượng khách tham quan. Cá biệt tại Văn miếu- Quốc tử giám, trước các kỳ thi quốc gia (tốt nghiệp Trung học phổ thông, tuyển sinh Cao đẳng, Đại học) khách đến đông hơn với mục đích thỏa mãn nhu cầu tâm linh, cầu mong đỗ đạt trong thi cử. Những ngày thường trong tuần chỉ có khách tham quan khi được các cơ quan bố trí, tổ chức đi theo chương trình đã định sẵn.

Nhìn vào thực tế cho thấy lực lượng lao động ngành du lịch còn hạn chế về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, thiều kinh nghiệm linh hoạt trong quản lý, chuyên môn hóa chưa cao. Đội ngũ hướng dẫn viên du lịch chưa được đào tạo đầy đủ nên chưa có kỹ năng hướng dẫn cho du khách am hiểu tận tường về giá trị của nguồn lực tự nhiên, thông qua cảnh quan văn hóa cũng như nguồn lực về nhân văn thông qua các giá trị văn hóa độc đáo hay nói cách khác đó là bản chất văn hóa dân tộc của thành phố Hà Nội. Hạn chế nhất đối với đội ngũ hướng dẫn viên du lịch Hà Nội là chưa sử dụng thông thạo tiếng nước ngoài, thiếu am hiểu sâu về các loại hình văn nghệ dân gian, hạn chế về hiểu biết lịch sử.

Mối quan hệ giữa ngành du lịch và ngành văn hóa trong việc tổ chức khai thác các điểm du lịch chưa được thống nhất. Tại nhiều điểm du lịch là di tích lịch sử văn hóa, việc quản lý và phục vụ khách du lịch đến tham quan được giao cho ban quản lý di tích danh thắng của thành phố Hà Nội. Ở một số di tích khác, các địa phương tự lập ra ban quản lý riêng cho mình để quản lý và khai thác du lịch. Tại các địa điểm này, do chưa có được sự thống nhất trong công tác quản lý nên thường xảy ra tình trạng thiếu trách nhiệm trong việc bảo vệ cảnh quan môi trường thiên nhiên, bảo vệ các giá trị văn hóa địa phương, thiếu đảm bảo an toàn tài sản cho khách tham quan… Điều này không chỉ làm tổn hại về mặt kinh tế mà còn tạo ấn tượng không tốt đối với khách du lịch làm giảm đáng kể tình trạng hấp dẫn của điểm du lịch. Những vấn đề nảy sinh trong quá trình khai thác giá trị văn hóa tại các điểm du lịch giữa ngành du lịch với ngành văn hóa, giữa ngành du lịch với một số ngành liên quan, giữa các công ty du lịch với các địa phương quản lý trực tiếp là khó tránh khỏi bởi lẽ trong quy hoạch phát triển du lịch, lợi ích của các bên thường chưa được điều hòa thống nhất mặc dù trong rất nhiều trường hợp các dự án đã được nghiên cứu với sự tham gia của các cấp các ngành.

Ngành du lịch chưa thực hiện tốt việc xã hội hóa du lịch để toàn dân cùng đóng góp xây dựng cho ngành du lịch Hà Nội ngày một phong phú về chất lượng, nội dung, đề tài lẫn hình thức du lịch.

Trong thời gian qua, khách đến du lịch chủ yếu là khách đi du lịch điền dã, công vụ, du lịch thăm hỏi, du lịch tôn giáo. Ngoài khách nội địa, khách quốc tế còn phải kể đến Việt kiều về thăm quê hương, Hà Nội là địa phương có nhiều Việt kiều hiện đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài. Ngoài các đối tượng nói trên, còn phải kể đến khách du lịch thuộc loại chuyên sâu, đó là các nhà khoa học, khách theo dõi thị trường... Trong đó cũng phải kể đến lực lượng khách du lịch “Tây ba lô”. Hình thức thường là du lịch theo đoàn, theo gia đình, cá nhân. Khách du lịch đến Hà Nội mang tính thời vụ. Đặc biệt vào những dịp Tết cổ truyền, Việt kiều về rất đông để thăm gia đình, thân nhân.

Kinh doanh du lịch: Trong thời gian qua ngành du lịch Hà Nội đã tham gia các nhóm hàng du lịch như du lịch khách sạn, du lịch vận chuyển khách, kinh doanh dịch vụ trong du lịch. Tuy nhiên, mức độ, quy mô còn hạn chế.

Kinh doanh khách sạn đang là nội dung chủ yếu của du lịch Hà Nội, các loại kinh doanh vận chuyển và thông tin trong du lịch chưa có điều kiện phát triển. Các loại kinh doanh từ các loại hoạt động nghệ thuật, đặc biệt là khai thác vốn văn hóa dân tộc chưa phát huy. Mặt khác, loại du lịch điền dã, thể thao, chữa bệnh, tôn giáo... ít được khai thác trong ngành du lịch thời gian vừa qua.

Đánh giá chung thực trạng du lịch của thành phố Hà Nội vừa qua có thể nhận xét như sau: thời gian qua, du lịch Hà Nội đã có nhiều cố gắng và đạt được những kết quả bước đầu. Đây là tiến đề bước đầu cho việc phát triển ngành du lịch thành phố trong thời gian sắp tới.

Hà Nội là thành phố có giàu tiềm năng về di tích lịch sử văn hóa, mỗi di tích có nội dung, giá trị văn hóa, lượng thông tin rất lớn: trong đó di tích

khảo cổ, di tích lịch sử, văn hóa nghệ thuật và các loại danh lam thắng cảnh Hà Nội chưa được khai thác triệt để phát triển ngành du lịch Hà Nội.

Nhiều thể loại du lịch mới đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của du khách, đặc biệt là loại hình du lịch xanh, một loại hình đang được khách ưa chuộng chưa được chú ý đúng mức. Trong du lịch xanh, xu hướng du lịch điền dã đến các làng cổ... ở đó mỗi vùng quê còn giữ được những nét nguyên bản của nó, phản ánh nền nông nghiệp rất thú vị, hấp dẫn cho du khách. Du lịch văn hóa là loài hình mà du khách tìm đến Hà Nội, muốn được thẩm nhận về bề dày lịch sử, bề dày văn hóa của vùng đất này, thông qua giá trị văn hóa của các dân tộc: Di tích lịch sử văn hóa, lễ hội truyền thống, phong tục tập quán... đang còn hiện diện. Việc phối hợp các ngành chưa đồng bộ đặc biệt là phối hợp cùng bảo tàng, khoa học công nghệ môi trường, nông nghiệp... nhận thức của nhân dân để thực hiện phương thức xã hội hóa chưa cao.

Công tác tuyên truyền, quảng cáo, tiếp thị còn rất hạn chế. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chuyên môn chưa được xem trọng và cuối cùng là việc chưa có kế hoạch trùng tu, tôn tạo, bảo tồn các giá trị văn hóa du lịch.

Một phần của tài liệu Tiềm năng du lịch văn hoá hà nội (Trang 84 - 90)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(133 trang)