CHƯƠNG 3. BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA NHẰM PHÁT TRIỂN DU LỊCH HÀ NỘI
3.1. Thực trạng bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa tại Hà Nội
Nằm trong khu vực đồng bằng sông Hồng, một vùng đất có bề dày văn hóa truyền thống, nơi có nhiều tiềm năng và nguồn lực thiên nhiên cũng như nguồn lực con người, Hà Nội giữ một vai trò, một vị trí xứng đáng trong việc phát triển du lịch. Trải qua những biến đổi lịch sử, những thăng trầm trong đời sống xã hội, Hà Nội là vùng đất có nhiều giá trị văn hóa và nhân văn. Dựa trên những giá trị văn hóa ấy, tiềm năng du lịch văn hóa của Hà Nội đã có một điểm tựa bền vững nhằm đưa ngành du lịch phát triển. Để phát triển du lịch văn hóa, công việc hàng đầu là bảo tồn các giá trị di sản văn hóa.
* Công tác quản lý di sản văn hoá:
Việc bảo tồn các giá trị văn hóa được sự quan tâm của các cấp quản lý.
Là trung tâm văn hóa của cả nước, Hà Nội lại sở hữu một hệ thống các di sản văn hóa lớn. Việc quản lý hệ thống di sản này được giao trực tiếp cho ngành văn hóa Hà Nội mà cơ quan chủ quản là Ban quản lý di tích danh thắng với nhiều phòng ban chức năng khác nhau. Ở các địa phương lại có các cán bộ chuyên trách quản lý di sản văn hóa tại phòng văn hóa, quận, huyện… Một số di tích trọng điểm còn thành lập các Ban quản lý riêng trực thuộc UBND thành phố. Các cơ quan quản lý văn hóa này có đội ngũ cán bộ đông đảo và nhiều kinh nghiệm. Hàng năm, các cán bộ quản lý thường xuyên được tập huấn nghiệp vụ. Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ còn được bổ sung thường xuyên từ những sinh viên tốt nghiệp tại các trường đào tạo nghiệp vụ về văn hóa.
Tuy nhiên công tác quản lý còn một số tồn tại. Do các di tích được phân bố trên một diện rộng nên công tác quản lý bị phân tán với nhiều cấp nhiều ngành. Một số di tích còn thuộc quyền quản lý của các cá nhân doanh nghiệp đặc biệt như các di tích là nhà thờ danh nhân hiện đang dưới sự quản lý của các dòng họ hay như các di tích cách mạng kháng chiến hiện đang thuộc sự quản lý của các cơ quan ngoài ngành văn hóa…
* Với di sản văn hóa vật thể
Hà Nội đã lập hồ sơ khoa học cho hàng trăm di tích. Số lượng các di tích được xếp hạng luôn đứng đầu cả nước. Ngay trong đợt xếp hạng đầu tiên vào năm 1962, Hà Nội đã có 13 di tích và Hà Tây (cũ) có 7 di tích được xếp hạng cấp quốc gia. Tổng số di tích được xếp hạng cấp quốc gia theo con số thống kê chưa đầy đủ tính đến tháng 7 năm 2008 là 806 di tích [9,353]. Số lượng các di tích còn ngày môt tăng lên do công tác điều tra nghiên cứu được triển khai thường xuyên kỹ lưỡng. Qua hệ thống các di sản văn hóa vật thể có thể thấy Hà Nội có lượng di tích phong phú đa dạng nhiều di tích mang tầm cỡ quốc gia và quốc tế.
Nhiều di tích được đầu tư kinh phí ngân sách tu bổ nâng cấp, việc tu bổ tôn tạo các di tích này được tiến hành theo quy định của luật di sản văn hóa, được lập thành các dự án và được các cấp có thẩm quyền phê duyệt theo một quy trình khoa học đảm bảo giữ gìn tối đa các yếu tố nguyên gốc của di tích.
Nổi bật nhất là việc trùng tu đình Chu Quyến từ năm 2007- 2010 với những kỹ thuật trùng tu hiện đại. Dự án trùng tu đình Chu Quyến đã được giải thưởng quốc tế về bảo tồn di sản kiến trúc châu Á- Thái Bình Dương năm 2010. Bên cạnh những di tích được Trung ương và thành phố quản lý đầu tư và tu bổ lớn, các quận huyện xã thậm chí một số cơ quan doanh nghiệp trường học cũng tổ chức nghiên cứu đầu tư (tuy có hạn hẹp) để tu bổ các di tích tại địa phương.
Bên cạnh việc bảo tồn, các cấp quản lý di sản cũng chú ý tới việc phát huy giá trị các di tích. Nhiều di tích được bổ sung cán bộ thuyết minh chuyên trách. Một số di tích được viết tài liệu hoặc tờ gấp nhằm mục đích tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân. Một số di tích quan trọng còn có phần trưng bày bổ sung nhằm tăng tính hấp dẫn và tạo điều kiện thuận lợi cho khách thăm quan khi tìm hiểu di tích.
Một số tồn tại trong quản lý và bảo tồn di sản văn hóa vật thể có thể nhận thấy như: do chưa thống nhất được việc quản lý, nhiều di tích bị tác động rất lớn của xã hội nên phần lớn không giữ được nguyên vẹn như ban đầu và đang biến dạng. Rất nhiều di tích bị sử dụng sai mục đích (đặc biệt là các di tích thuộc các cơ quan doanh nghiệp quản lý như Nhà khách Chính phủ, lăng Hoàng Cao Khải…). Một số di tích nằm trong tình trạng tranh chấp đất đai, bị thu hẹp về diện tích (như nhà thờ danh nhân Nguyễn Văn Siêu…).
Thậm chí có di tích không còn tồn tại ở dạng di tích mà chỉ còn được ghi trong sách hay tồn tại trong ký ức của người dân (như nhà số 8 Lê Thái Tổ nơi ký hiệp ước Sơ bộ ngày 06/03/1946). [9,221]
Việc quản lý trông coi di tích cũng chưa thật đầy đủ. Phần lớn các di tích không có người thường trực hàng ngày. Việc vệ sinh môi trường trong di tích chưa tốt, nhiều biển kỷ niệm di tích bị hư hỏng, phai mờ không được thay thế. Trên thực tế, những di tích lớn có ý nghĩa trọng điểm, có giá trị khai thác kinh tế cao thường được đầu tư quản lý tốt hơn. Rất nhiều di tích ở trong tình trạng bị bỏ quên, đặc biệt là các di tích cách mạng kháng chiến. Trường hợp di tích lăng Hoàng Cao Khải là một ví dụ, được xếp hạng ngay từ đợt đầu năm 1962 nhưng ngày nay lăng bị biến dạng, bị xâm chiếm do không được quản lý (không hệ thống bảo vệ, không biển báo).
Công tác đầu tư tu bổ nâng cấp di tích cũng có nhiều bất cập. Nhiều di tích được tu bổ sơ sài, thiếu đồng bộ, diễn ra trong thời gian dài. Nhiều di tích lại diễn ra quá trình tu sửa tùy tiện thay đổi công năng thực tế công trình,
thậm chí trong nội thất di tích do ảnh hưởng của những đòi hỏi cao hơn của con người trước sự biến đổi của kỹ thuật xây dựng, của những yêu cầu thẩm mỹ mới đã làm cho di tích trở nên chắp vá hay lai căng một cách kệch cỡm (điều này rất dễ nhận thấy tại các ngôi chùa khi được bê tông hóa).
* Với di sản văn hóa phi vật thể:
Hệ thống di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn Hà Nội vô cùng phong phú và đa dạng. Nhưng khác với việc bảo tồn các di sản văn hóa vật thể, công tác bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể gặp nhiều khó khăn hơn. Ngay trong công tác quản lý, nếu như các di tích có một cơ quan quản lý về mặt nhà nước là Ban quản lý di tích và danh thắng thành phố thì các di sản văn hóa phi vật thể lại không được như vậy. Cán bộ quản lý văn hóa đặc biệt là ngành bảo tồn văn hóa gần như không có chuyên gia hiểu biết trên một số lĩnh vực di sản phi vật thể. Nguyên nhân là do di sản phi vật thể thuộc nhiều loại hình đòi hỏi phải có chuyên gia riêng cho từng loại hình như: nghệ thuật, nghề truyền thống… Bản thân trong loại hình nghệ thuật cũng có nhiều loại hình nhỏ hơn như chèo, ca trù, hát xẩm… mà việc nắm bắt hiểu biết giá trị các loại hình này đòi hỏi cán bộ văn hóa phải được đào tạo rất kỹ. Chính vì vậy, việc quản lý các di sản văn hóa nghệ thuật thường do các đoàn nghệ thuật thực hiện. Việc quản lý di sản văn hóa thuộc một số loại hình khác như nghề truyền thống, ẩm thực dân gian… gần như được thả nổi. [59,210]
Một khó khăn nữa trong công tác bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể là trong một thời gian dài, do những quan niệm chưa đúng về giá trị các di sản nên rất nhiều di sản bị mai một, bị tìm cách làm cho xóa bỏ. Hát ca trù từng bị coi là tàn dư của lối sống trụy lạc dưới chế độ thực dân phong kiến, hát chầu văn bị coi là mê tín dị đoan. Hát xẩm lại bị coi là phương tiện kiếm sống của những người ăn xin nên bị khinh rẻ.
Những khó khăn về mặt kinh tế trong một thời gian dài lịch sử đất nước cũng góp phần làm mai một những di sản phi vật thể đặc biệt là các nghề thủ
công truyền thống. Rất nhiều lò gốm, lò đúc đồng, xưởng dệt được hợp tác hóa làm ăn trong cơ chế tập trung bao cấp, chỉ chú ý sản xuất các đồ dùng phục vụ nhu cầu cuộc sống thường nhật, xem nhẹ yếu tố sáng tạo nghệ thuật.
Sự phát triển về mặt khoa học kỹ thuật trong thời đại ngày nay đã tác động không nhỏ đến kỹ thuật làm nghề thủ công truyền thống. Nhiều sản phẩm được sản xuất nhanh hơn, đẹp hơn, nhiều hơn đã thay thế cho các sản phẩm thủ công trên thị trường tiêu dùng. Chính vì vậy nhiều kỹ thuật nghề, bí quyết nghề đã bị mai một thậm chí mất hẳn.
Trong cuộc sống hiện đại, những giá trị thẩm mỹ mới, những yêu cầu thỏa mãn các nhu cầu vui chơi giải trí mới tác động không nhỏ đến các giá trị văn hóa phi vật thể khác. Những bức tranh sơn dầu hay sơn mài hiện đại dần thay thế cho những bức tranh Hàng Trống truyền thống, những đồ pha lê nhập ngoại, đồ gỗ hiện đại dần chiếm chỗ cửa các sản phẩm gốm sứ, hàng mây tre đan cổ truyền. Sau những giờ lao động mệt nhọc người ta không còn dành thời gian thưởng thức các nghệ thuật dân gian truyền thống mà thay vào đó người ta đến các sàn nhẩy, các rạp hát… đã làm cho các loại hình nghệ thuật dân gian bị thu hẹp về số lượng khách thưởng thức.
Một số giá trị văn hóa phi vật thể lại gắn liền với các yếu tố văn hóa vật thể. Sự thu hẹp và biến đổi của văn hóa vật thể cũng kéo theo sự thay đổi văn hóa phi vật thể. Các di tích đình, đền, chùa bị thu hẹp làm cho không gian trình diễn lễ hội dân gian cũng bị thu hẹp theo. Những đám rước hội không còn được đông đúc nhộn nhịp như xưa do sự thu hẹp của những sân đình, đền, của những con đường làng. Những chiếu chèo hay những loại hình nghệ thuật trình diễn trong lễ hội cũng đang mất dần người xem bởi những trò cờ bạc đang ngày càng thu hút mọi người lao vào một cuộc đỏ đen may rủi. Lễ hội dân gian truyền thống cũng bị tác động từ cuộc sống hiện đại khi những người dân địa phương vốn là những người tham gia chính cho lễ hội đã trở nên bận hơn trong việc mưu sinh. Lễ hội dân gian còn bị thay đổi về nội dung. Những
người tham gia lễ hội xưa kia đến để thể hiệ lòng thành kính tổ tiên, tình đoàn kết làng xóm. Ngày nay, người ta đến lễ hội mang nhiều tâm tư, cầu xin lợi lộc cá nhân… [59,210]
Tuy nhiên, trong nhiều năm qua, nhận thức được giá trị của các di sản văn hóa phi vật thể, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách nhằm khôi phục và phát huy giá trị các di sản văn hóa phi vật thể làm cho công tác bảo tồn các di sản này đã có nhiều kết quả bước đầu. Một số làng nghề cổ truyền được khôi phục và phát triển trở lại. Một số loại hình nghệ thuật bước đầu được các nhà khoa học nghiên cứu, các đoàn nghệ thuật tổ chức trình diễn (như việc sân khấu hóa nghệ thuật hát chầu văn).