NGUYÊN LÝ CHẨN ĐOÁN X QUANG
3. Các phương pháp chụp X quang
J . / ế Chụp X quang nổi (Stéréo radiographie)
Một tấm phim X quang thường không cho ta thấy bề sâu của cơ quan. M uốn biết một vật ở phía trước hay ờ phía sau trong cơ thể, người ta chỉ có cách chụp nghiêng, hoặc xem hình vật ấy lớn lên nhiều hay ít, hoặc rõ hay mờ, khi so sánh hình chụp ở tư thế khác nhau (sấp hay ngửa).
Nhưng còn có phương pháp chụp nổi, tốt hơn: người ta chụp hai phim tiếp theo. Mộ!
phim đặt tiêu điểm của bóng cách đường giữa 3 cm bên phải và phim kia 3cm bên trái (khoảng cách của hai đồng tử mắt là 6cm). Đến khi xem phim đã chụp thì dùng một đèn đọc phim đặc biệt có tấm che ở giữa để ta có thể mỗi mắt chỉ nhìn vào mộc tám phim;
mắt phải nhìn vào phim chụp với bóng ở bên phải, mất trái nhìn vào phim chụp với bóng ở bên tráiỗ Như thế ta sẽ thấy hình nổi hẳn lên.
3.2ệ Thực hiện hình cắt lớp bằng phim chồng nhau (série scopie Ziedses des Plantes):
Đây là một phương pháp dùng hai tám phim chụp n ồ djttjA y g ỉên mộc cái đỀa đọc phim và xê xích qua lại để cho những hình ảnh của nhftlg v p ở vào cùng một mặt phẩng
với nhau lần lượt chổng lên nhau. Đối với mỗi vị trí của hai tấm phim chỉ những hình ảnh trùng nhau chổng khít với nhau thì thấy rõ, còn những hình ảnh khác thì sẽ mờ. Như thế ta có thể thực hiện được những hình ảnh theo từng lớp của cơ thể.
Theo lý thuyết thì nếu ta chụp nhiều cập phim chụp nổi chừng nào thì có lợi chừng ấy, nhưng nếu chổng nhiều phim lên nhau quá thì hoá tối, nên người ta chỉ dùng hai cặp phim chụp theo hai đường thẳng góc với nhau. Hiện nay phương pháp này ít dùng, và người ta chỉ dùng kỹ thuật chụp cắt lớp dưới đây:
J ắ3. C hụp cắt lớp (tomographie)(hình 1.30)
Trên phim chụp thường, nhiều khi thương tỏn bị che lấp vì hình ở những mặt phẳng khác nhau chồng lên nhau. Mục đích của phương pháp này là làm cho ta chỉ thấy hình ảnh một lớp mỏng nào đó của một bộ phận trong cơ thể, còn các lớp khác thì xoá nhoà đi.
Hlnh 1.30A. Chụp Xquang cắt lớp
(I) Mặt nghiêng, (II) Đứng phía đầu bệnh nhân nhìn xuống Điểm G1D1 Hình ảnh của GvàD, sẽ giữ nguyên vị tri khi phim di chuyển từ trái qua phải (P1qua P2); Nhưng điểm H1 hình của H, ở đầu xa măt phảng SS
sẽ không cố định trên phim nên bị xoá nhoà.
Nguyên lý kỹ thuật đó như sau:
Bóng X quang (B) và cát-sét phim F gắn liền vào hai đầu một thanh sắt dài (PP). Thanh này có thể qua lại chung quanh một trục ở khoảng giữa D. Bệnh nhân (BN) nằm trên bàn bóng sẽ chạy qua lại tmớc mặt: khi bóng chạy xuôi thì phim dưới bàn sẽ chạy nguợc.
Sự di chuyển của bóng và phim phải theo hai nguyên tắc: đổng nhịp, song song ngược nhau và theo IĨ1ỘI tỷ lộ nhất định.
Ở đây ta thấy bóng (B) và phim (F) di chuyén ngược nhau và tỷ số đường đi của chúng là K1/K2.
39
Ví dụ: ta lấy một điểm D trong cơ thể ờ ưong mặt phảng SS’ cùa trục quay. Hình của nó trên phim là D l. Khi bóng di chuyên từ PI qua P2 thì hình DI cùa đíẽm D di chuyển từ DI qua D2. Tỷ số đường đi cùa nó và đường đi cùa bóng đúng iheo tỳ lộ K1/K2. Vì vậy đường đi của nó bằng đường đi cùa phim, không dài hơn. khỏng ngản hơn. Do đó trong quá trình di chuyên hình cùa điêm D luôn luôn cô dịnh ưèn phim và hình của nó sẽ là một điểm rõ nét.
Trái lại, đối với điểm H, không ờ trong mặt phảng cùa trục quay, khi bóng di chuyển từ PI qua P2 thì hình HI của điểm H di chuvển qua H2, đường đi cùa nó đỏi với đường đi của bóng sẽ không theo tỷ lệ k l/K 2 và sẽ dài hơn đường đi của phim. Do đó hình của điểm H sẽ không cố định trên phim nên nó bị xoá nhoà (hoặc có khi bị gạt ra ngoài phim như trên hình vẽ)
Hình của tất cả các điểm ờ cùng trong một mật phẳng với trục quay (ví dụ điểm G) đều cố định trên phim khi phim di chuyển nên đều thấy rõ.
Trái lại tất cả các điểm ờ sau hay trước mật phẳng đó sẽ bị quét mờ, và càng xa mặt phẳng đó sẽ càng mờ.
Người ta điều chỉnh mặt phảng SS’ (gọi là mặt cắt) bằng cách điểu chỉnh điểm quay thanh p p \ Ví dụ chụp phổi thì ta điều chỉnh các lớp chụp cách nhau lcm , từ sau ra trước chụp 8 phim từ 5cm đến 12cm.
Phương pháp chụp cắt lớp nói trên với bệnh nhân cô định và bóng cùng phim di chuyển theo đường thảng (của Grossmann và Chaoul) là phương pháp thường dùng nhất.
Ngoài ra có những phương pháp khác: bóng và phim không di chuyển theo đường thẳng, mà theo vòng tròn (Bocage) hoặc theo đường xoáy
Có khi người ta lại đê bóng cô định và cho bệnh nhân và phim quay tròn một góc (a ) như nhau, xung quanh hai trục (O l và 0 2 ) song song tương ứng với lớp cắt (P) ờ bệnh nhân và với phim (Vallebona) (hình l ẳ 30B). Muốn điều chỉnh lớp cắt, người ta đưa bệnh nhân ra trước hoặc ra sau trục 0 1 ẽ Thuận lợi của phương pháp này là người ta có thể dùng một máy chụp X quang thông thường và bố trí thêm một bộ phận đơn giản để làm cho bệnh nhân và phim cùng quay thì chụp cắt lớp được.
Phương pháp chụp cắt lớp thường dùng để chụp phổi, mục đích để tìm những hang lao, u nang, dây chằng dính phế mạc. ung thư....mà ta không thấy rõ ở phim chụp thường. Phương pháp
này, cũng dùng để chụp xương sọ, trung thất, Hinh1.30BIMyclivpcttiapM6iVMM>ana động mạch chủ, thanh quản...
ốc.
!b
ị\ ệ I sV
Chụp cắt lớp cùng một lúc (tomograhie simultanée) (hình 1.30C)
Đối với kỹ thuật chụp cắt lớp thông thường dùng từ trước đến nay, người ta phái chụp mỗi lớp một lần. Ví dụ cần chụp 8 lớp thì phải chụp 8 lần. Như vậy liều lượng tia X mà bệnh nhân phải hấp thụ khá cao, ảnh hướng không tốt đến sức khỏe. Ngoài ra còn tổn hại máy.
Để tránh những nhược điểm nói trên, hiện nay người ta dùng phương pháp chụp tất cả các lớp cắt vào một lần. Muốn thế người ta xếp vào một cái hộp tất cả số phim tương ứng với số lớp cần chụp. Các cat-sét xếp chổng lên nhau và cách nhau 0,5 đến lcm bởi m ột lớp cao su xốp. Để đảm bảo các phim ở những lớp dưới cũng có một đậm độ như phim ở lớp trên, người ta cho vào các cat-sét nằm trên những tấm tăng quang dày han là những tấm tăng quang ở cat-xét dưới. Như vậy trong phạm vi 80-100KV của chùm tia phát Ị&np bóng, các
phim chụp các lớp khác nhau sẽ có một đậm Hình 1.30C. Chụp cắt lổp cùng một lúc
độ như nhau. Các phim được đánh số từ trên xuống dưới.
Ở máy hiện giờ, hộp đựng cat-xét chứa được 7 cat-xét chổng lên nhau. Trước khi chụp người ta chỉ cần điều chỉnh trục quay đúng vào lớp cắt trên hết. Và chỉ bầm nút một lần cho bóng phát ra ta sẽ chụp được tất cả các lớp cần chụp.
3.4. C hụp hà n g loạt (sêri). Nhiều cơ quan chuyển động và biến đổi hình dạng nhanh như dạ dày, hành tá tràng, thực quản, đại tràng...phải chụp liên tiếp nhiểu hình mới phát hiện được hình bệnh lý. Để có thể giúp chụp nhanh và theo dõi những hình cần thiết trong khi chiếu, người ta dùng bộ phận chụp sêri có chọn lọc (seriographe sélecteur) thường dùng để chụp dạ dày. Trong kỹ thuật X quang tim mạch hiện đại, ngừơi ta dùng những máy chụp sêri với tốc độ rất nhanh, chụp được 6-8 phim một giây.
3.5ề C hụp động (kymograhie): là một phưomg pháp cho ta có thể ghi những hình ảnh một cơ quan đang chuyển động. Người ta dùng một tấm chì có những khe ngang đâm thủng song song cách đều nhau đặt vào sau tấm phim. Lúc chụp hình thì tấm phim di chuyển một đoạn chỉ dài bằng khoảng cách giữa các khe đó. Như thế trên tấm phim chụp ta sẽ thấy một dãy dải đậm song song chổng lên nhau, biểu hiện sự thay đổi hình của những lớp mỏng của cơ quan ta chụp.
Hinh1ế31. Phương pháp chụp động
Tòm chị Khi' hờ
41
Nguyên lý phương pháp chụp động:
- Giữa bệnh nhân và phim, ta đặt một tấm chì có đục thùng một khe ngang dài.
Chụp trên phim ta sẽ thấy một vạch dài AB, hai đầu A-B tương ứng với hai diêm a-b của hai bờ tim (hình 1.31)
- Nếu cho phim di chuyển trong khi chụp thì trên phim sẽ có thể hiện mót dám mờ.
Đám mờ này được tạo nên khi một dãy các đoạn AB được chụp kế tiep nhau và hình chổng khít lên nhau. Vì độ dài AB thay đổi(ở giai đoạn lâm thu thỉ ngăn lại đến giai tâm trương thì dài ra) nên đám mờ này có hình ràng cưa. Biên độ cùa các răng cưa này chính là biên độ co bóp của tim
- Nếu tăng số rãnh lên nhiều, ta sẽ ghi được một số điểm của bờ tim nhiếu hơn (ví dụ 10 điểm trên bờ Tim). Thường các rãnh rộng 0,5mm và cách nhau 45m m . Đây là loại chụp động theo đường dài. Hình X quang của tim sẽ là những dải dài, hai đẩu có răng cưa, chồng lên nhau.
Loại thứ hai là chụp động theo mặt phẳng. Nó khác ở chỗ là khi chụp thì phim đứng yên, nhưng tấm chì di chuyển, ở loại này, các khe chỉ cách nhau 15mm. H ình tim trên phim X quang giống như hình chụp thường nhưng hai đường bờ có răng cưa.
ứng dụng : Phương pháp này thường dùng để chụp tim. Phân tích hình ràng cưa trên bờ tim người ta có thể:
- Phân biệt được các vùng khác nhau của tim (tâm thất, tâm nhĩ, động m ạch chủ..ẽ) - Biết được biên độ tim đập
- Chẩn đoán một số bệnh như viêm màng tim, u cạnh tim 3.6. Chụp huỳnh quang
Dùng để kiểm ưa sức khoẻ cho tập thể các cơ quan, xí nghiệp...người ta dùng máy chụp ảnh để chụp hình X quang trên màn huỳnh quang với những phim nhỏ 24x36mm như phim điện ảnh hoặc phim 7x7cm, lOxlOcm. Thường ngừơi ta chụp phổi để phát hiện lao là chủ yếu
Với phương pháp này người ta có thể chụp được 500-600 người trong m ột buổi, tiết kiệm được phim và ưánh được nguy hiểm cho cán bộ chuyên khoa. Hình trên phim chụp huỳnh quang rõ hơn hình chiếu và nếu thấy những hình nghi ngờ người ta chụp lại với phim to ..
Chương IV