Đặc tính của cᣠloại quét

Một phần của tài liệu Bài giảng chẩn đoán hình ảnh (Trang 51 - 54)

Vấn đề quét có một tầm quan trọng đặc biệt đối vói giá trị của hình truyền hình. Sự quét là do di động của vật sáng trên tấm màn, và độ tinh vi của ảnh phát ra phụ thuộc vào sô vạch trên một đơn vị diện tích.

Có nhiều kiểu quét: quét vạch ngang, quét theo đường hình sin, theo hình xoáy ốc (hình 1.37). Trên thế giới hiện nay chỉ dùng kiểu quét vạch ngang là kiểu tốt nhất. Lọai quét này tương ứng với sự di chuyển của vết sáng trên màn ghi hình theo từng đường ngang như ta gạch trên một tờ giấy. Ở trên màn huỳnh quang của máy truyền hình chiếu hình lên cho người xem, cũng có một vết sáng kích thước đúng như thể chạy đồng bộ với vết Sáng ở máy phát và vạch những đường in hệt như thế.

49

Hinh 1.37. Các kiểu quét I .Quét xoắn ốc

2.Quét hình sin 3.Quét vạch thảng

Biết sô' vạch là bao nhiêu, người ta tính được dẻ dàng khoang cách giữa các vạch ò màn ghi hình cùa máy phát và độ tinh vi cuà hình chiêu lèn màn truyén hình cùa máy thu. Sô' vạch quét là 441 ờ châu âu, 505 ở Mỹ và sau này là 625 ớ c á t máy truyền hình công nghiệp quốc tế, kể cả của Liên Xô. Sô vạch ở Pháp đã lèn đến 819. Trong trường hợp đó tín hiệu bé nhất trên màn ghi là 9mm: 819=l/100m m . ờ màn truyén hình cao 30cm, nó tương ứng với một điểm khoảng 4/1 Omm. Kích thước đó nhìn dưới một góc phát đạt mức khả năng phân ly của mặt đứng cách khoảng lm nhìn giữa ánh sáng. Dưới khoảng cách đó mắt sẽ thấy rõ những đường vạch.

Vết sáng phải tắt đi khi đến cuối mỗi đường vạch, đé xuống dòng, và vạch tiếp đường dưới hoặc khi đi đến cuối đường vạch cuối cùng của hình để nhảy lẻn phía trén hình và vạch lại từ trên xuống dưới. Thời gian tất vết sáng đó cực kỳ nhanh, nó chiếm chỉ 1/10 thời gian của tín hiệu nên mắt không thấy được do hiện tượng hình kéo dài của võng mạc.

Tổng sô thời gian chuyển m ột hình đi là 1/25 giây. Nó tương ứng với m ột chu kỳ của dòng điện thành phố.

ffl. CHỤP X QUANG ĐIỆN ẢNH - CHỤP ẢNH HÌNH TẢNG SÁNG (Radiocinématographie- Am pliphotographie)

Vấn đề chụp X quang điện ảnh đã được nghiên cứu từ 25 nãm nay, nhưng không có kết quả, mãi đến nay nhờ sự ra đời của máy tăng sáng X quang mới đựoc giải quyết.

Khó khăn từ trước đến nay là do hình chiếu ở màn huỳnh quang quá mờ, không dủ sáng để chụp với tốc độ của phim chụp cinê, đòi hỏi chụp tối thiểu 16 ảnh một giầy.

Người ta đã dùng những ông kính rất sáng (F: 0,75 đến 0,55) nhưng két quả vản kém, còn muốn tăng cường độ tia X lên thì không thể được vì bóng không thể chiu được một cường độ cao như thế kéo dài, và cũng nguy hiểm cho bẻnh nhân.

Còn phương pháp chụp trực tiếp như chụp sêri X quang thông thttòng nhung với một nhịp độ rất nhanh rồi chụp lại các phim đó vào một cuộn phim ã n ô đế chiếu, cũng không thực hiộn được vì nhiều lý do: cường độ tia X phát n không đủ sáng, phim to, phải dùng tấm tăng quang khi thay cat-sét không làm ^ những khó khẩn nói trên, phương pháp chụp X quang chỉ nằm trong phạm vi nghteo cúu, không áp dụng được trong thực tế.

Nhưng hiện nay với máy tăng sáng, độ sáng của hình X quang phát ra cho phép chụp ciné được một cách dễ dàng. Người ta chup tốc độ bình thường: 16 đến 24 anh một giây, tốc độ nhanh : 64 ảnh, tốc độ cực nhanh: 200 ảnh. Có thể dùng phim cinê 16 hoặc 35mm.

Ngoài ra người ta còn dùng máy ảnh với cỡ phim lOxlOcm để chụp lại hình trong bóng tăng sáng với tốc độ nhanh để ghi hình.

IV. ÁP DỤNG MÁY TẢNG SÁNG XQUANG TRƯYỂN h ì n h v à c h ụ p X QUANCỈ ĐIỆN ẢNH

Hiện nay máy này được áp dụng rộng rãi trong kỹ thuật chẩn đoán xquang hiện đại cũng như trong nghiên cứu.

Áp dụng chủ yếu của Xquang truyền hình là trong kỹ thuật thông tim và chụp tim mạch bơm thuốc cản quang. Nhờ máy truyền hình, người ta có thể theo dõi rõ ràng giữa ánh sáng đường đi của ống thông cho vào tim hay vào các động mạch, theo dõi được khi bơm thuốc cản quang vào.

Kỹ thuật chụp động mạch chọn lọc, nhờ có máy truyền hình, hiện nay được áp dụng rất phổ biến. Không phải chỉ để chẩn đoán các bộ máy tuần hoàn, mà chủ yếu các bệnh ở các phủ tạng (các khối u...) ở thận, gan, lách, não...Ngoài ra máy truyền hình còn giúp các nhà phảu thuật theo dõi được giữa ánh sáng hình các cơ quan trong khi mổ (ví dụ như các ống mật bơm thuốc cản quang...), hoặc tìm các vật lạ, hay nắn xương gãy....

Máy truyền hình còn có một thuận lợi nữa là nó cho phép nhiều người cùng theo dõi được tình hình các cơ quan trong khi chiếu; hoặc giúp giảng dạy sinh viên với m ột màn hình đặt ở lớp học xa máy Xquang.

Kết hợp với phương pháp chụp điện ảnh Xquang, máy này là m ột công cụ quí giá để chẩn đoán, nghiên cứu và giảng dạy .Ta có thể theo dõi được vận động của các cơ quan trong trạng thái sinh lý bình thường cũng như trong trạng thái bệnh lý, mà với phương pháp Xquang thông thường không thấy rõ được. Ngoài ra có những cơ quan hoặc vận động quá chậm, hoặc quá nhanh, mắt thường không thấy được rõ các vận động đó, ví dụ :đối với một cơ quan vận động nhanh, ta có thể chụp nhanh và khi chiếu cho tốc độ chậm lại, nhờ đó ta có thể phân tích được các chi tiết của vận động đó, như vận động của thanh quản khi phát âm, khi hát, của hạ họng khi nuốt,...

Nhờ phương pháp chụp điộn ảnh Xquang, người ta biết rõ hơn sinh lý của nhiều cơ quan mà trước đây người ta chỉ có một khái niệm thô sơ; ví dụ: nhu động của đường mật, của bể thận, niệu quản, ống dần trứng, tử cung,w ..., trên ống tiêu hoá, dạ dày, ruột, thực quản..., ta có thể phát hiộn được những vùng cứng không có sóng nhu động và chẩn đoán sớm được ung thư.

Phim chụp cinê Xquang còn cho ta nghiên cứu được sự vận động của các cơ quan sau khi mổ. V í dụ như: cắt dạ dày và nối vị tràng, ghép thực quản hay bàng quang bằng ruột, ghép niệu quản,..

Trên đây chỉ nêu một sô' ví dụ điển hình ưong những áp dụng rộng rãi của máy Xquang truyền hình và chụp cinê. Đây chỉ mới là bưóe đầu, và chắc chắn trong tương lai có nhiểu áp dụng thiết thực hơn nữa vào việc nghiên cứu và chẩn đoán bệnh hàng ngày.

51

Một phần của tài liệu Bài giảng chẩn đoán hình ảnh (Trang 51 - 54)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(324 trang)