Làng quê truyền thống

Một phần của tài liệu Văn hóa làng trong truyện ngắn kim lân (Trang 21 - 29)

2.1. Các kiểu loại làng quê Việt

2.1.1. Làng quê truyền thống

Nhà văn Kim Lân sinh ra và lớn lên ở làng quê Bắc Bộ. Ông gắn bó máu thịt với bờ tre, mái rạ, giếng nước, sân đình... để rồi sự am hiểu sâu sắc văn hóa làng xã ấy cùng với nhãn quan của một nhà văn đã tạo nên những tác phẩm đặc sắc. Khác với các nhà văn cùng thời, Kim Lân đã thể hiện một cái nhìn sâu sắc, toàn diện về nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám.

Với Kim Lân điều cốt lõi làm nên giá trị của tác phẩm là cái nhìn chiều sâu văn hóa. Ông từng nói: “Đất có lề, quê có thói, văn hóa được tích tụ hàng nghìn năm, hàng trăm năm. Nó tồn tại và phát triển trong mỗi con người, mỗi

17

gia đình, mỗi làng xã… và từng làng được ghép thành cộng đồng, thành dân tộc, quốc gia…” [1]. Chính bởi vậy, ông đi sâu vào tìm kiếm từng ngóc ngách những yếu tố văn hóa, nét phong tục tập quán độc đáo của làng quê cùng với đó là sự chiêm nghiệm về cuộc đời và con người. Một điểm sáng trong truyện ngắn Kim Lân là ông đã khắc họa thành công làng quê Việt truyền thống.

Làng quê truyền thống cũng chính là làng quê gốc gác lâu đời, tồn tại từ đời này qua đời khác, gắn liền với lũy tre làng, với cây đa, giếng nước, sân đình. Ở đó là nơi hội tụ của những phong tục tập quán, kiến trúc cổ xưa và lối sống tình nghĩa của con người. Lật từng trang viết của Kim Lân ta bắt gặp những nét đặc sắc văn hóa làng quê truyền thống in đậm dấu ấn văn hóa Bắc Bộ. Làng quê truyền thống được nhà văn đề cập, khai thác dưới nhiều góc độ khác nhau, có khi được hiển hiện trực tiếp bằng cái tên, địa danh cụ thể nhưng cũng có khi tồn tại dưới dạng biến thể mang đặc điểm, sắc thái, linh hồn của làng quê.

Trước hết là các tên chữ trang trọng do các bậc Nho học của làng đã đặt ra ngay từ ngày mới lập làng: Làng Trang Liệt, Đại Đình, Hạ Dương trong (Đôi chim thành). Ngoài ra còn có các địa danh khác xuất hiện trong các truyện ngắn của nhà văn: Đại Sơn, Dưỡng Mông (Chó săn), Cẩm Giang, Từ Sơn, Đình Tràng, Phù Trẩn, Phù Ninh, Đồng Kỵ (Cầu đánh vật), Cổ Pháp Đình Bảng, Bỉnh Hạ, Hàm Long (Thượng tướng Trần Quang Khải - Trạng vật), chùa Vân Điềm, làng Vân Điềm (Đuổi tà), Trang Liệt, Phủ Từ, Hà Đông, Yên Thế, Ngân Sơn (Trả lại đòn), Triều Dương, La Hiên, Đình Cả (Nên vợ nên chồng), làng Bính Hạ (Con mã mái)… Những làng quê ấy đều lưu giữ trong mình những nét đẹp về cảnh quan thiên nhiên, phong tục tập quán ngàn đời. Đó là những tên gọi gần gũi, thân quen của làng quê Việt nói chung và của xứ Kinh Bắc quê hương ông nói riêng. Cái tên cổ kính của mỗi ngôi làng có thể lấy tên của những vị anh hùng dân tộc để đặt hoặc là cách đặt

18

tên gắn liền với địa hình, địa lý cư dân của vùng và luôn mang trong mình một ý nghĩa nhất định. Trong hầu hết những câu chuyện mà Kim Lân viết đều nhắc đến địa danh của các ngôi làng mà hiện nay vẫn tồn tại qua năm tháng ở Bắc Ninh. Như vậy, một điều ta có thể khẳng định được rằng những tên chữ Nho gia trang trọng đã được Kim Lân khéo léo đưa vào trong từng tác phẩm của mình để từ đó làm nổi bật lên nét đẹp truyền thống văn hóa quê hương mình, ngôi làng cổ kính gắn liền với bao kí ức đẹp đẽ về quê hương Kinh Bắc.

Làng giờ đây hiện lên một cách thuần túy nông thôn, vừa thực, vừa sống động như những gì nó vốn có, điều đó càng chứng tỏ Kim Lân nhà văn của chốn làng quê thuần túy.

Thứ nữa, làng quê Việt truyền thống còn thấp thoáng những hình ảnh, ngôi chùa, đình làng, những di tích lịch sử. Sự có mặt của những hình ảnh này làm cho bức tranh thôn quê thêm phần chân thực và sinh động. Đó là ngôi chùa cổ Vân Điền trong truyện Đuổi tà được tác giả miêu tả với không gian:

Tĩnh mịch tôn nghiêm, có thoang thoảng hương trầm của gian tam bảo.

Những pho tượng âm thầm trong ánh đèn dầu vàng vọt bóng run run trên vách bởi ngọn gió lọt vào tưởng như đang ngồi ngây ngất thẩm âm” [12, 118]. Hay trong truyện Chó săn là cảnh ngôi chùa hoang: “Đó là một ngôi chùa chơ vơ giữa cánh đồng xung quanh bao bọc bởi một lũy tre trống trải.

Không có sư trụ trì nên càng đìu hiu, hoang vắng. Những cây muỗm sừng sững gieo lá úa đầy trên sân rêu cỏ. Mái thì ngói sụt, tường thì long lở ngổn ngang. Trong cái không khí vô cùng tĩnh mịch dãy tượng La Hán sứt mẻ ngồi nghiêm trang trong bóng chiều nhờ nhờ tối như một thế giới không có dương gian” [20]. Ở tác phẩm Trả lại đòn ngôi chùa Dận được miêu tả với khung cảnh thanh bình buồn bã thân quen khi chiều buông…

Để tô đậm cho làng quê truyền thống Việt, Kim Lân khéo léo trong việc đặt tên nhân vật hết sức giản dị. Ở nông thôn, với những người nông dân việc

19

đặt tên người hết sức giản đơn, họ thường mượn tên các dụng cụ sản xuất, đồ dùng sinh hoạt để đặt tên, ví như cái Hái, chị Dao, anh Bát, chị Chén… Họ dựa luôn vào thứ tự trong nhà để gọi: chị Ba, anh Hai, chú Năm, ông Sáu, cụ Tứ… Hoặc dựa vào những đặc điểm bên ngoài của người đó để gọi: Hai Đen, Tư Mập, Hùng Khèo… Cũng có khi dựa vào nghề nghiệp chức vụ để gọi:

Binh Chức, Bá Kiến, Cai Huy… Cách gọi tên trên trở thành thói quen thông dụng tự nhiên ở nông thôn. Trong các tác phẩm viết theo khuynh hướng phong tục, Kim Lân đã sử dụng thói quen truyền thống của dân gian để đặt tên cho các nhân vật như: Văm Lớn, Trưởng Thuận, Cả Chuẩn (Con mã mái), Trạng Sặt, Trạng Kế, Trạch Khô, Quắm Đen, Thằng Quynh (Thượng tướng Trần Quang Khải - Trạng Vật), ông Cả, anh Tư, Thân (Đứa con người vợ lẽ), Chánh Bảy, Cả Sâm (Trả lại đòn)… cách đặt tên như thế phù hợp với việc diễn tả phong tục làng quê, quen thuộc dễ gọi, gần gũi.

Một điểm nữa chúng ta cần nhận thấy đó là cấu trúc không gian của làng quê truyền thống không phức tạp, nhưng cũng không hề đơn giản đến mức đơn điệu. Không gian làng quê trong sáng tác của nhà văn Nam Cao chủ yếu là không gian mang tính chất khép kín, tù đọng, con người dường như bị bó hẹp trong khuôn khổ chật hẹp, rặng tre, bụi tre, ánh trăng… Còn riêng với Kim Lân, ông đến với làng quê, thiên nhiên cảnh vật một cách tự nhiên nhất, lấy bối cảnh thôn quê để từ đó khởi nguồn cho bức tranh quê truyền thống của người dân Việt.

Không gian làng trong tác phẩm Trả lại đòn là khoảng không gian của làng mạc, cánh đồng lúa chín, rặng tre… từng cơn gió lướt qua cánh đồng lúa chín lào xào, đưa một mùi thơm nhẹ nhàng, đặc biệt của nơi thôn dã về vụ này. Ở những làng mạc xa xa, sương dâng lên trắng nửa mình tre, làm cho phần ngọn đen sẫm lại. Từng tiếng chuông từ gác tam quan chùa Dận buông ra không trung, vọng xa xa, ngân nga và buồn não nuột.” [12, 93]. Đó còn là

20

không gian của nhà Chánh Bảy rộng rãi bề thế “Đủ cả ao trước vườn sau.

Năm gian nhà lim, cửa bức bàn, sừng sững trổi giữa cái xóm nghèo, rúm ró những mái tranh mỏng và khúm núm, gầy guộc. Hai dẫy nhà ngang cũng lợp ngói chạy dọc trở xuống, ôm lấy chiếc sân gạch Bát Tràng rộng bát ngát. Hai dãy cau chạy thẳng tắp từ nhà trên đến chiếc tường hoa cuối xuân. Ở đấy, có một bể nước “xi măng” mui vồng, và bên trên có cây hương nhỏ. Bên ngoài dãy tường hoa là vườn cây, có dăm gốc na, vài gốc ổi, một cây chanh tứ thời, xanh tốt rườm rà. Gần bờ ao, có hai cây khế: một cây ngọt, một cây chua, và một cây sung quả chi chít, thân ngả xuống mặt ao thành một cái cầu thiên tạo. Ở giữa khoảng vườn ấy lại còn kê thêm bốn vực thóc cao lừng lững.

Vườn sau nhà lại còn rộng rãi gấp mấy. Đấy là chỗ nuôi gia súc. Có chuồng trâu, cây ăn quả mùa nào thức ấy không thiếu thứ gì” [12, 100]. Hình ảnh của một gia đình giàu có, tiền rương thóc mục, ruộng sâu ao cá, tất cả đều hiện hữu sống động trong không gian làng quê nông thôn thuần túy.

Không chỉ có vậy, bối cảnh làng quê còn hiển hiện qua tác phẩm Con mã mái mảnh sân đất nhỏ hẹp chạy dài trước ba gian nhà tranh lụp xụp”;

“Giàn thiên lí, chính giữa, thấp lè tè, cành lá xum xuê che chiếc bể cạn thả cá vàng và bốn chậu lan đặt trên đôn sứ cũ kĩ, sứt mẻ: hai chậu Bạch ngọc và hai chậu Nhất điểm. Trong bể, kê một hòn non bộ sần sùi, gân guốc; cỏ tóc tiên mọc um tùm giữ một vẻ hoang vu bí mật đối với bọn người sành bé nhỏ, đặt theo điển tích” [12, 49].

Làng quê Việt còn hiện lên với cảnh sống chật chội, nghèo túng, buồn hiu hắt cùng những biến động của đời người. Chốn thôn quê yên bình ấy xen lẫn cảnh đời sống chật vật khó khăn, túng thiếu trong bối cảng xã hội đương thời được Kim Lân miêu tả ở truyện Người kép giàMột làn không khí nhạt nhẽo bao bọc”; “gian nhà tranh lụp sụp”; “gian nhà ngói cổ”; “mấy ngọn cau đen sẫm in trên nền trời sáng đục. Tàu mềm lả là thế mà không hề lay động

21

[12, 8]. Hay tiếng gió thổi “ào ào trong lá cây. Thân cây lắc lư nghiêng ngả.

Lá tre, lá găng không biết từ đâu bay rụng tới tấp xuống sân. Mây đen từ phía đông lừ lừ tiến lên, che khuất mặt trăng. Trời tối sẫm lại” [12, 9]. Cứ như vậy, bức tranh xã hội nông thôn Việt Nam được Kim Lân khắc họa đậm nét, ở đó tất cả các phương diện.

Tài năng Kim Lân còn được thể hiện ở trong các sáng tác viết về nông thôn, làng quê truyền thống được hiện lên qua các phong tục dân gian, có thể thấy trong các tác phẩm: Con mã mái, Đôi chim thành, Chó sănĐọc các truyện ngắn Kim Lân, người đọc được chứng kiến thú chơi thả chim hay chọi gà, chơi chó săn được tác giả tái hiện tỉ mỉ qua cách miêu tả từ cách nuôi, cách chăm sóc, cách chơi, qua đó thấy được sự quan sát, vốn hiểu biết dày dặn của tác giả về thú chơi dân dã thôn quê. Văn hóa làng quê truyền thống còn được thể hiện gián tiếp thông qua thú chơi cổ truyền, tinh thần thượng võ của nhân dân ta, đó là đấu vật, đánh võ. Biểu tượng làng không được gọi tên cụ thể như trên mà được nói đến qua các hoạt động văn hóa của làng, các địa điểm tổ chức hoạt động văn hóa ấy, đó là cái xới vật, xới võ. Trong truyện Thượng tướng Trần Quang Khải - Trạng vật, Kim Lân đã gợi lại không khí đậm chất văn hóa dân gian của những vùng quê đồng bằng Bắc Bộ vào những dịp lễ hội đặc sắc đầu xuân. Đánh vật, đấu võ là phong tục có từ lâu đời được nhân dân yêu thích. Nó không chỉ là thú vui mà bên cạnh đó còn là rèn luyện sức khỏe, rèn luyện ý chí con người.

Một điểm nữa khi viết về làng quê truyền thống, những thú chơi tao nhã, Kim Lân thường tập trung xoay quanh nét sinh hoạt văn hóa tinh thần của những người dân quê. Nhưng rõ ràng đọc sâu, ngẫm kĩ ta mới thấy ẩn đằng sau những câu chữ ấy là khám phá, phát hiện nền giá trị cổ truyền của dân tộc ta mà trong đó tình cảm của con người hiện lên rất rõ. Đó là thú “phong lưu

22

đồng ruộng” thân thuộc có từ ngàn đời. Làng trong truyện ngắn Kim Lân quả thật là một thực thể sống động ẩn chứa nhiều trữ lượng văn hóa.

Thực ra, trong văn chương Việt Nam, không riêng gì Kim Lân sở trường về các thú chơi tao nhã của người xưa mà còn có nhiều cây bút cự phách khác cũng có sở trường trong lĩnh vực này. Mỗi người một vẻ, họ đã làm đẹp thêm cho bản sắc văn hóa của dân tộc mình qua văn chương chữ nghĩa như Nguyễn Tuân, Vũ Bằng… Nếu Nguyễn Tuân đã làm sống lại những nét son xưa của lịch sử văn hóa Việt Nam qua những thú chơi tao nhã cao đẹp. Truyện Hương cuội là nền nếp gia phong, là cách uống rượu, ngâm thơ, thưởng hoa của các nhà Nho Hà Nội, rồi đến thú uống trà trong Những chiếc ấm đất, Chén trà sương rồi Phở Hà Nội… Uống là thế, ăn là thế bên cạnh đó Nguyễn Tuân còn khắc họa lại nét đẹp văn hóa của người Hà Thành với thú chơi rất văn hóa nữa là thú viết chữ đẹp của các bậc Nho gia trong Chữ người tử tù…; Vũ Bằng cũng vậy, ông đã nâng ẩm thực lên thành một nghệ thuật tạo nên những trang viết xuất thần về Miếng ngon Hà Nội. Còn với Kim Lân, ông đến với nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc, nhưng cái đẹp đó không phải bắt nguồn từ văn hóa của thành thị, của Hà Nội huyên náo với văn hiến, văn hóa lịch sử lâu đời mà đó là thú chơi tao nhã “phong lưu đồng ruộng”, bắt nguồn từ cuộc sống dân dã thôn quê, mảnh đất xứ Kinh Bắc. Từ đó, Kim Lân đã giúp người đọc hình dung được những tố chất và vẻ đẹp của con người quê hương ông.

Những trang viết của ông trở thành những đường chỉ dẫn văn hóa về các ngón chơi của những cao thủ làng vật (Thượng tướng Trần Quang Khải - Trạng vật; Ông Cản Ngũ), hay chọi gà (Con mã mái), thả chim (Đôi chim thành), đi săn (Chó Săn)… Phải quan sát nhiều và tìm hiểu kĩ lưỡng, Kim Lân mới miêu tả được như thế. Qua những trang viết của nhà văn, bạn đọc như được trực tiếp tham dự vào những thú chơi làng quê thật ấn tượng. Đó là tinh thần thượng võ, niềm say mê trong những cuộc thi tài đấu trí mang đậm bản sắc

23

dân gian từ chính cuộc sống, sinh hoạt thường ngày của xứ sở quê hương.

Biểu tượng về làng quê Việt được nhà văn thể hiện qua những phong tục văn hóa từ ngàn đời. Qua đó thể hiện niềm tự hào về văn hóa dân tộc, đồng thời nhà văn cũng cảm nhận được sức mạnh của cộng đồng trong các truyền thống văn hóa đó.

Những tục lệ, hủ tục còn tồn tại trong xã hội cũng được đưa vào trong các truyện ngắn Kim Lân. Ngô Tất Tố nhà văn tiếp cận đời sống nông thôn từ bình diện phong tục. Trong các phóng sự Việc làng, Tập án cái đình Ngô Tất Tố đã phơi bày và lên án những thói tục ở nơi góc điếm sân đình. Sự tàn nhẫn của những hủ tục đó khiến nhiều người khánh kiệt gia tài, phải bỏ làng đi vì lo cỗ “vào ngôi”, “cỗ phạt vạ”, cỗ cưới xin, ma chay, cầu cúng… Qua những hủ tục đó, nhà văn đã bóc trần bộ mặt của giai cấp thống trị nông thôn dựa vào những hủ tục, vào sự dốt nát của người dân quê để bòn rút bóc lột. Mặt khác, tác giả cũng cho thấy những thói xấu, thiển cận của người nông dân và sự tha hóa của cuộc sống làng quê trong xã hội thực dân nửa phong kiến. Tuy nhiên, việc phản ánh phong tục tập quán chỉ dừng lại ở mức độ nào đó. Kế thừa những giá trị cội nguồn dân tộc, Kim Lân cũng đã dùng tài năng của mình với vốn am hiểu sâu sắc về đời sống, văn hóa phong tục. Kim Lân cũng đã viết lên những trang văn về phong tục chốn làng quê. Tác phẩm Đuổi tà là một trong những minh chứng rõ nét nhất về điều này. Có thể nói, đây là truyện phản ánh tục lệ cổ truyền của dân tộc - tục đuổi tà đêm ba mươi Tết của người nông dân. Tập tục độc đáo được Kim Lân miêu tả trong không khí thiêng liêng đón Tết cổ truyền của dân tộc. Đối với người nông dân, việc đuổi tà đầu năm rất quan trọng vì nó sẽ “ảnh hưởng đến sự thịnh đạt suy vi của cả dân làng sang năm mới”. Cho nên “Dẫu là nhà giàu hay nghèo, ai ai cũng cúng một cách vui vẻ, coi như là bổn phận” [12, 120]. Bởi vậy, họ tin tưởng rằng sau khi đuổi tà thì cuộc sống sẽ bình an, thịnh vượng hơn trong tương lai. Vì

Một phần của tài liệu Văn hóa làng trong truyện ngắn kim lân (Trang 21 - 29)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(61 trang)