Làng xóm ngụ cư

Một phần của tài liệu Văn hóa làng trong truyện ngắn kim lân (Trang 29 - 34)

2.1. Các kiểu loại làng quê Việt

2.1.2. Làng xóm ngụ cư

Phía ngoài rìa các không gian làng Việt cổ truyền có gốc gác từ lâu đời đó là không gian của những người dân trong xóm ngụ cư. Đây là không gian của bóng đen, của cái chết nặng mùi tử khí, là nơi rìa làng, đầu bãi mom sông, hội tụ những kẻ giang hồ, trộm cướp, làm thuê, dân tự do sinh sống... Trong truyện Đứa con người vợ lẽ nhân vật người mẹ là một người dân ngụ cư.

Tràng, người vợ nhặt trong Vợ nhặt cũng đều là dân ngụ cư. Cả cái xóm của Tràng ở được gọi là “xóm ngụ cư”. Những người như ông Hai trong truyện ngắn Làng thực chất cũng là thân phận ngụ cư, tuy rằng tình thế ngụ cư trong kháng chiến có khác đôi chút. Bản thân dòng máu Kim Lân cũng có đến một nửa mang dòng máu dân ngụ cư: mẹ ông quê ở Kiến An – Hải Phòng theo chồng về Phù Lưu – Kinh Bắc. Và có lẽ vì thế mà thân phận người dân ngụ cư trở thành một ám ảnh buồn bã trong truyện ngắn của ông. Gắn liền với

25

thân phận ngụ cư là hội tụ những cảnh đời phiêu tán, lưu lạc, ăn nhờ ở đợ, gá nghĩa, những mảnh đời nhỏ bé, bất hạnh…

Nếu không gian trong tác phẩm của Ngô Tất Tố và Nam Cao mang màu sắc tối tăm, ngột ngạt đến bế tắc và hình ảnh người nông dân hiện ra như một nạn nhân của sự áp bức bóc lột dẫn đến con người đánh mất nhân cách. Trong tác phẩm Một bữa no của nhà văn Nam Cao, khi mà cái đói mon men tới gần, len lách vào từng ngõ nhỏ cuộc đời những người dân lao động. Hoàn cảnh bà lão trong truyện khiến người đọc xót thương. Bản thân bà vốn đi làm người ở, ban đầu thì người ta thuê bà nhưng tuổi càng cao, sức càng yếu và rồi chẳng ai thuê bà nữa. Đối với bà lão kiếm một chỗ làm người ở không công thật khó khăn. Bà như người làm thuê mất giá, trở nên thừa thãi, không còn giá trị sử dụng và được xem là gánh nặng cho người khác. Cứ như vậy bà lão bị gạt ra khỏi xã hội, đến những việc làm thấp kém nhất trong xã hội cũng khước từ bà.

Cái chết mòn như đã được dự báo trước. Cái nghèo có thể gây chết người vì đói. Và để rồi, cái nghèo làm biến chất đạo đức và hủy hoại nhân cách con người. Bà tìm đến con cái Đĩ, đứa cháu duy nhất của bà đang đi làm con ở cho nhà bà phó Thụ, bà đến xin bữa ăn của “nhà giàu”, bị hất hủi, sỉ nhục nhưng bà vẫn ăn. Bà ăn trước sự “lườm với huýt” của chủ nhà, “bà cứ ăn như không biết gì”. Cái dạ dày nhịn đói lâu quá không chịu nổi “một bữa no” ấy khiến bà đau đớn quằn quặn thêm nửa tháng rồi bà chết [19]. Từ câu chuyện đó ta nhận thấy rằng bối cảnh hiện thực xã hội hiện lên gắn liền bi kịch của con người về giá trị vật chất, tinh thần cũng như sự băng hoại về nhân phẩm vẫn còn hiện hữu trong cảnh đời tối tăm, ảm đạm.

Với Kim Lân lại khác, như chúng ta đã thấy, cũng vẫn là không gian ấy không gian cái đói, chết chóc, mùi tử khí, nhưng nó không hề bế tắc. Những con người ngụ cư thì dám chống chọi với hoàn cảnh để giữ gìn nhân cách, khẳng định sức sống và quyền sống của chính mình. Những con người ấy

26

nghèo khổ thật đấy nhưng không hèn, trang viết của ông luôn lấp lánh một sức sống, ấm áp một niềm tin mãnh liệt vào nghị lực, phẩm giá, khát vọng cao đẹp của con người. Mảng tối của khung cảnh xóm ngụ cư ấy là hiện thực buồn đau nhưng đó lại là phép đòn bẩy cho mảng sáng của tình người, của khát vọng tỏa ra ánh hào quang đặc biệt của chủ nghĩa nhân văn. Dù sống trong hoàn cảnh nào, những con người đầu thừa đuôi thẹo, thấp cổ bé họng vẫn không bị tiêu diệt, không gục ngã. Họ vươn lên và chiến thắng với những sức sống tiềm tàng, mãnh liệt phi thường. Càng trong những lúc tối tăm nhất, con người vẫn luôn khát khao hạnh phúc và tình yêu yêu thương, giữa những con người nghèo khổ càng tỏa sáng, bất diệt đầy ước mơ và vẫn luôn hướng tới ánh sáng, đặt niềm tin và tin tưởng tới tương lai. Đây là một thông điệp khác biệt của Kim Lân đối với các tác giả khác, đồng thời qua đó thể hiện phẩm chất đáng quý, truyền thống dân tộc trong kết cấu tổ chức làng xã.

Ở truyện ngắn Vợ nhặt, Kim Lân miêu tả khoảng không gian bao trùm lên truyện là khung cảnh đói nghèo, tối tăm, ảm đạm của những kiếp người quẩn quanh. Xóm ngụ cư là nơi hội tụ của những thân phận nhỏ bé trong xã hội, khổ cực lầm than tìm đến nhau từ nhiều vùng miền khá. Họ khổ quá, vì đói nên phải đi tha hương cầu thực và ngụ cư ở một vùng đất mới. Xóm ngụ cư nơi anh cu Tràng đang sinh sống cũng vậy, nghèo đói, rách rưới, buồn tủi.

Cái đói, cái chết hiện hình thành màu sắc, đường nét, âm thanh, mùi vị rõ rệt ngay trước mắt người đọc: “Hai bên dãy phố, úp súp, tối om, không nhà nào có ánh đèn, lửa. Dưới những gốc đa, gốc gạo xù xì bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma. Tiếng quạ trên mấy cây gạo ngoài bãi chợ cứ gào thét lên từng hồi thê thiết” [12, 148]. Cái đói đã khiến người ta lìa bỏ quê hương đi tha phương cầu thực “Cái đói đã tràn đến xóm này tự lúc nào. Những gia đình từ những vùng Nam Định, Thái Bình, đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma, và nằm ngổn ngang

27

khắp lều chợ.” Ngay bên cạnh những người sống vật vờ là “người chết như ngả rạ”; “ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường”. Cái đói, cái chết cất lên trong tiếng “quạ gào lên từng hồi thê thiết, tiếng hờ khóc tỉ tê lúc to lúc nhỏ của những gia đình có người chết”. Bao trùm cả không gian bởi “mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây gây của xác chết”, rồi cả “mùi đốt đống dấm ở những nhà có người chết theo gió thoảng vào khét lẹt” [12, 148]. Lấy bối cảnh hiện thực nạn đói cuối năm 1944 đầu năm 1945 đó là kiếp sống lầm than, vất vưởng của những con người sống mà tưởng chừng như đã chết. Tất cả điều đó đều hiện hữu trong cảnh nghèo đói, xơ xác, tiêu điều. Xóm ngụ cư được dựng lên trên cái nền đời tối tăm.

Mặc dù khung cảnh xóm ngụ cư ảm đạm, thê lương song trên cái nền đen tối ấy lại ánh lên ngọn lửa của tình thương yêu, sự vực dậy về tâm hồn, nhân cách cao đẹp sáng ngời. Khi con người lâm vào thảm cảnh thê lương nhưng họ vẫn chìa tay ra cứu vớt đồng loại, điển hình cho điều đó là tấm lòng tốt bụng của anh cu Tràng và tình yêu thương con cái của bà cụ Tứ với những điều mong ước nhỏ nhoi trong kiếp sống mưu sinh cuộc đời. Xóm ngụ cư tối tăm ấy bỗng tươi vui hẳn lên, tình yêu thương lòng cảm thông sâu sắc giữa con người với con người hiện hữu ngay trong những điều bình dị nhỏ nhặt nhất. Nếu như người vợ nhặt là hiện thân của niềm khát khao sống, thì Tràng là niềm khát khao hạnh phúc. Vậy nên, giữa thời điểm đói kém nhất, một anh nông dân nghèo như Tràng dám biến câu chuyện bông đùa, một lời rủ đùa thành một lời cầu hôn. Thực ra khi “nhặt” vợ về anh Tràng ấy không phải là không lo vì thóc gạo, đến “cái thân mình chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng”. Nhưng rồi anh ta tặc lưỡi dám đánh cuộc với cái đói để được sống đầy đủ cuộc sống bình thường như mọi người khác, có nghĩa là khát vọng làm người đã xui khiến Tràng liều lĩnh. Nhìn bề ngoài thì đó là thái đội bất cần nhưng xét kĩ ra, đó chính là tình cảm cưu mang đồng loại, không nỡ bỏ rơi kẻ

28

đói khổ hơn mình. Cho nên Tràng nâng niu trân trọng cái hạnh phúc nhỏ bé của mình đến thế “Hắn chặc lưỡi: Vợ mới vợ miếc cũng phải cho sáng sủa một tí chứ, chả nhẽ chưa tối đã rúc vào ngay, hí hí…” [12, 150]. Ẩn sau câu nói đùa ấy là niềm vui không phải tầm thường. Thật cảm động khi giữa không gian tối sẫm, xơ xác của năm đói, Tràng vẫn chuẩn bị thắp sáng cho chính cuộc đời mình. Bởi vậy, ánh sáng của ngọn đèn đã trở thành biểu tượng của hạnh phúc, của niềm tin vào tương lai. Vượt lên trên tất cả đó chính là tình yêu thương, sự gắn bó tình người của những con người đầu thừa đuôi thẹo, cuối đáy của xã hội. Làng xóm ngụ cư bấy giờ cũng đã thắp lên niềm vui sướng, mang đến cái không khí chật hẹp, hẻo lánh ấy chút ánh sáng.

Làng xóm ngụ cư trong tác phẩm của Kim Lân còn được hiển hiện qua những trang viết rất đời thực. Đó là thói quen, nền nếp sinh hoạt của họ, hình ảnh người nông dân được đặt trong mối quan hệ làng xóm láng giềng. Mặc dù họ là những người dân đến từ nhiều nơi khác nhau trên địa hình đất nước nhưng ở họ lại toát lên lối sống chan hòa, bình dị, yên ả. Trong cái xóm ngụ cư ấy khi nhìn thấy anh cu Tràng dắt theo một người đàn bà lạ mặt về nhà, họ ngạc nhiên, bàn tán xôn xao. Để rồi cái không khí của xóm ngụ cư ấy “mỗi chiều xôn xao lên một tí” (Vợ nhặt). Có thể thấy quan hệ láng giềng hàng xóm của những con người ngụ cư nơi đây là mối quan hệ mở rộng theo tinh thần, không gian bị gò bó trong cái nạn đói, khép kín trong một vùng nhất định nhưng ở họ lại có sự gắn kết tình hữu đơn sơ.

Nhìn chung, tính cách đặc trưng của con người nơi xóm ngụ cư ấy được thể hiện rõ. Nhà văn Kim Lân đã phát hiện ra cái chân thực, chân thực ở đặc điểm tâm lí vì cộng đồng, vui cái vui của làng, buồn cái buồn của làng. Bản thân Kim Lân là người dân xuất thân từ chốn làng quê, ông sống chan hòa, tình cảm thắm thiết với những người xung quanh mình, tìm hiểu cặn kẽ, kĩ lưỡng với những thói quen phong tục, nếp sống của họ. Bên cạnh những mặt

29

hạn chế trong suy nghĩ, thói quen tò mò, tọc mạch, trong nhà chưa tỏ ngoài ngõ đã thông… của những người nông dân xuất thân từ chốn làng quê Việt ấy còn là cả lối sống chan chứa, chan hòa, tình nghĩa của những con người nơi thôn dã. Tất cả những điều đó đã tạo nên nét đẹp về văn hóa làng xã, mối quan hệ cố kết, gắn kết với cộng đồng.

Một phần của tài liệu Văn hóa làng trong truyện ngắn kim lân (Trang 29 - 34)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(61 trang)