2.1. Các kiểu loại làng quê Việt
2.1.4. Làng xóm tản cư
Tiếp nối không gian làng Việt cổ truyền là không gian làng tản cư, hay nói một cách xác định hơn đó là những làng kháng chiến thời chống Pháp xuất hiện trong sáng tác Kim Lân. Lấy bối cảnh không gian như vậy, Kim Lân đã tái tạo lên một bức tranh chân thực nhất về đời sống nông thôn. Trong thời kì đất nước vùng lên đấu tranh, làng quê bị phá hủy xơ xác, tiêu điều nhưng vẫn ánh lên ngọn lửa ánh sáng đó là niềm tin vào Đảng, Cách mạng, Bác Hồ. Tình cảm cá nhân nhường chỗ cho tình yêu quê hương, xóm làng, để từ đó bộc lộ lên những phẩm chất đáng quý của người nông dân và qua đó phát huy truyền thống văn hóa dân tộc.
Đọc truyện Con chó xấu xí, Kim Lân cũng đã khắc họa bức tranh tản cư của nhân dân “tin giặc nhảy dù Thái Nguyên, rồi có tin giặc từ Bắc Giang đánh lên, Bắc Ninh đánh sang. Lối Kim Tràng, Cầu Xim, Cầu Đồng; bên núi Hia, núi Đót; dưới chợ Lữ, bến Lủi, bến Phà, đâu đâu cũng có giặc cả rồi.
Người các mạng dưới đánh trâu, bò, bồng bế, gồng gánh chạy giặc dạt lên đen kín” [12, 213]. Thông qua lời kể của nhân vật “tôi” câu chuyện tản cư dần dần hiện lên. Gia đình anh cũng khăn gói tản cư đến vùng đất khác trước sự tàn phá nặng nề của giặc: “Tôi biết vợ con tôi đã chạy vào đồng Kĩnh. Từ mấy tháng nay, mỗi bận tôi về nhà, hay viết thư về cho nhà, tôi đều căn dặn vợ tôi lúc nào cũng phải hết sức gọn gàng, phòng giặc đánh lên, hoặc nhảy dù là có thể bế con chạy ngay được…”; “Người chạy giặc vẫn kéo lên mỗi lúc một đông. Có tốp tiếp tục đi mãi vào trong mạn rừng, có tốp nghỉ lại ở đây. Cái túp nhà ông cụ bếp Móm chặt lèn những người” [12, 214]. Vào cái buổi ấy không chỉ có vợ con nhân vật “tôi” chạy tản cư mà còn biết bao nhiêu gia
33
đình khác. Khung cảnh ấy hiện dần ra trong truyện ngắn Kim Lân với cảnh người, cảnh đời đua chen nhau đi tản cư từ vùng xuôi lên mạn ngược.
Rồi cả bức tranh quê hương trước sự tàn phá nặng nề của quân giặc nhảy dù: “Hàng ấp cũng không còn nhà nào ở lại. Xóm ngõ vắng tạnh, súng giặc nghe rền từng chập...” [12, 214]. Đó còn là bóng tối khuya vắng lẫn tiếng khóc, tiếng gọi thưa, tiếng than thở, “Đêm tối vẫn rùng rùng bóng người, bóng trâu bò chạy giặc. Người ở vùng dưới chạy lên đây, người ở đây lại chạy mãi vào những mạn ven rừng… Chỗ nào cũng nghe thấy tiếng trẻ con khóc, tiếng gọi thưa, tiếng than thở, chửi rủa” [12, 214]. Kim Lân không chỉ dừng lại ở đó ông còn đi sâu vào miêu tả cảnh làng quê bị đốt cháy “ngọn lửa quân xâm lăng tàn bạo nó đốt nhà, đốt cửa” [12, 216]. Chen lẫn tiếng toán loạn hoảng hốt của từng đoàn người là tiếng bom, tiếng chó kêu, tiếng của đám cháy rừng rực bốc lên. Làng quê bấy giờ không còn được nguyên vẹn như những thuở ban đầu nữa, đó là mùi của bom đạn, khói lửa chiến tranh.
Viết về nông thôn trong giai đoạn tản cư, truyện ngắn Làng được nhà văn dựng lên với khung cảnh làng quê thông qua lời khoe của ông Hai về làng của ông trước kháng chiến, trong kháng chiến. Đồng thời qua nhân vật ông Hai bạn đọc sẽ phát hiện tấm lòng người dân tản cư đối với quê hương bản quán của họ. Có thể nói ông Hai là hình ảnh tiêu biểu, điển hình cho mẫu người nông dân Việt Nam với truyền thống vốn có là yêu nước, yêu làng. Rõ ràng ông Hai là người nông dân, sinh ra tại làng, lớn lên làm lụng, lấy vợ sinh con đẻ cái, sống chết ở làng. Ông ít khi có điều kiện đi xa khỏi làng. Ông đã tự nguyện gắn bó với nơi đây. Dường như chính cái cộng đồng làng này đã hút chặt lấy ông, thậm chí xóa mờ cái tư cách cá nhân của ông. Ông buồn vui cùng làng, khổ đau cùng làng. Cái tâm thức làng như là một giá trị được hình thành và chi phối mạnh mẽ đến ông nói riêng, đến mỗi thành viên trong cộng
34
đồng ấy nói chung. Do đó ông luôn tự hào về làng của mình, đi đâu ông cũng khoe khoang về làng của mình. Ngày trước thì ông khoe cái sinh phần của viên tổng đốc làng ông “Hồi còn đế quốc Pháp, mỗi bận đi đâu xa, khoe làng ông chỉ khoe cái sinh phần của viên tổng đốc làng ông”. Ông có vẻ hãnh diện cho làng có được cái sinh phần ấy lắm: “Chết! Chết! Tôi chưa thấy cái dinh cơ nào lại được như cái dinh cơ cụ thượng làng tôi. Có lăm lắm là của. Vườn hoa, cây cảnh nom như động ấy. Thấy bảo còn hơn cái lăng cụ thiếu Hà Đông nhiều cơ mà!” [12, 129].
Đến thời kháng chiến thì ông lại khoe cái làng kháng chiến của mình với những lão du kích, với những công trình quân sự đánh giặc… “Ông khoe làng ông có cái phòng thông tin tuyên truyền sáng sủa rộng rãi nhất vùng, chòi phát thanh thì cao gần ngọn tre, chiều chiều loa gọi cả làng đều nghe thấy.
Ông khoe làng ông nhà ngói san sát, sầm uất như tỉnh”; “Ông khoe những ngày khởi nghĩa dồn dập ở làng, mà ông gia nhập phong trào từ hồi kỳ còn bóng tối. Những buổi tập quân sự, cả giới phụ lão có cụ râu tóc bạc phơ cũng vác gậy đi tập một hai…” [12, 130]. Tình yêu ông Hai đối với làng, suy cho cùng cũng chính là tình yêu đối với dân, với nước nói chung và rộng ra đó chính là tình yêu quê hương đất nước, yêu Tổ quốc.
Người Việt Nam chúng ta có một truyền thống yêu nước rất nồng nàn.
Truyền thống ấy trở thành giá trị hàng đầu, cao nhất trong bản giá trị tinh thần cao quý của dân tộc Việt Nam. Ở truyện ngắn Làng khi nghe tin làng chợ Dầu theo Tề, theo Ngụy, hai vợ chồng ông Hai cảm thấy đau đớn, nhục nhã, xấu hổ với đồng bào xung quanh, không dám ngẩng mặt lên trước người khác.
Mặc dù mới là lời đồn đại, chưa biết thực hư ra sao? Còn về phía người dân vùng tản cư, bất cứ ai khi nghe tin làng Dầu của ông Hai theo Tây, đều lên tiếng phẫn nộ, khinh bỉ “Cha tiên sư nhà chúng nó! Đói khổ ăn cắp, ăn trộm bắt được thì người ta còn thương. Cái giống Việt gian bán nước thì cứ cho
35
mỗi đứa một nhát!” [12, 138]. Chỉ riêng thái độ bất bình, xa lánh, khinh bỉ đối với những kẻ rắp tâm đi theo giặc đã phần nào nói lên tình cảm yêu nước, lòng tự trọng có tính cách quốc sĩ của những con dân nước Việt. Cũng vì hiểu lầm mà chịu sự khinh bỉ như vậy, nên ông Hai mới có niềm sung sướng, hả hê tột độ khi nghe tin cải chính nỗi oan của làng. Đứng trước một cái tin cải chính hệ trọng như vậy, ông Hai nói riêng, người dân làng Dầu nói chung đều vui mừng ra mặt. Chúng ta thấy tất cả mọi người đều vui vì không những bản thân họ không mang cái tiếng là Việt gian, mà vui hơn khi họ nhận ra toàn dân đồng lòng yêu nước, đánh giặc. Yêu làng trong trường hợp ông Hai chính là yêu nước. Họ sống bình dị lẫn vào trong lớp người mà họ đại diện nhưng tiếp xúc lâu dài, sẽ thấy ở họ một sức chịu đựng đói khổ, cực nhọc và cả đắng cay thật mạnh mẽ để vươn lên. Vượt lên trên tất cả đó chính là tinh thần cộng đồng làng. Nó làm nên sức mạnh và niềm kiêu hãnh của dân làng. Tính cộng đồng luôn được nhà văn miêu tả, không bị khép kín, tự trị mà làng luôn gắn bó với vùng miền, với đất nước. Nhất là khi Tổ quốc bị lâm nguy, tinh thần yêu làng lập tức nâng lên thành tinh thần yêu nước. Làng trở thành căn cứ địa vững chắc chiến đấu chống quân thù, làng cũng là thành lũy gìn giữ văn hóa dân tộc. Làng trong cái nhìn cảm thụ và cắt nghĩa của nhà văn thực sự đã hiện lên với sự suy tư và lòng yêu mến sâu sắc, đầy trách nhiệm của một nghệ sĩ yêu làng, yêu nước.
Tóm lại, xây dựng khung cảnh làng xóm tản cư rất tiện lợi để ngắm nhìn cuộc sống nông thôn với những sinh hoạt văn hóa, những buồn vui thế sự, những số phận, những tâm tình của con người cá nhân trong vai trò chủ thể nhận thức và tự nhận thức. Thật nhẹ nhàng nhưng cũng thật sâu sắc và tinh tế.
Ở đó, mối quan hệ giữa nhà, làng, nước trở thành tình cảm gắn bó tự nguyện của mỗi con người. Ở đó có những “ô cửa” nhìn ra thế giới để thấy được