Làng xóm thời kì cải cách ruộng đất

Một phần của tài liệu Văn hóa làng trong truyện ngắn kim lân (Trang 34 - 37)

2.1. Các kiểu loại làng quê Việt

2.1.3. Làng xóm thời kì cải cách ruộng đất

Từ bối cảnh làng Việt cổ truyền, nhà văn Kim Lân đã mở rộng ra một không gian làng trong cơn bão cải cách ruộng đất. Làng quê thời kì cải cách ruộng đất là một bức tranh có những gam màu sắc tươi sáng. Đó là tất cả làng quê với sự xuất hiện của cán bộ cách mạng làm công tác cải cách ruộng đất, lao vào đổi đời cho những nhân vật nhỏ bé, bất hạnh. Trong tác phẩm Chị Nhâm Kim Lân miêu tả sự đổi mới cuộc sống con người với đầy: “Nắng sáng lóa trước mặt một khoảng đồng ruộng bát ngát hiện ra rực rỡ. Những mái nhà, những vòm tre những mảnh ruộng, những con đường” [20]. Đó là những gam màu tươi sáng như một làn sóng mát mẻ thổi về hồn quê Việt trong truyện Nên vợ nên chồng. Nhà văn đã miêu tả không khí tưng bừng ấy và đặt trong mối quan hệ xóm làng là sự cố kết gắn bó của mỗi công dân đối với làng xã, quê hương, đất nước. Văn hóa làng được thể hiện không chỉ trong mối quan hệ gia đình mà còn mở rộng ra ở mối quan hệ xã hội. Cũng giống như bao nhiêu làng quê thôn Việt khác, mỗi đợt lại có những cuộc họp giữa các cán bộ làng xã với quần thể, quần chúng nhân dân nhằm mục đích tổng kết những hoạch định đề ra trong một đơn vị làng xóm, đồng thời trong cuộc họp là nơi thông báo triển khai những vấn đề dự định cần làm. Thế và Hòa vốn là hai thanh niên cán bộ ở trong làng. Trước khi có cuộc cải cách ruộng đất, họ đều là những con người đến từ hai vùng đất khác nhau, đói khổ và chịu nhiều nỗi oan ức, áp bức bóc lột của những tay cường hào ác bá, phải bỏ quê hương đi tha phương cầu thực và sống ngụ cư ở làng Triều Dương. Thế

30

sống ở một “túp lều con con nằm hẻo lánh trong bụi chuối ở góc vườn nhà bà cụ Tứ. Ở đây Thế chẳng chơi bời với ai, mà cũng chẳng ai chơi bời với Thế.

Một mình hiu quạnh với cái nhà, đi thì chớ, về chỉ đóng cửa im ỉm nằm bẹp một xó ngủ. Thế rất ít nói, và cũng không muốn gần gũi ai…” [12, 165]. Nhân vật Hoà cũng vậy, cô có số phận khổ cực: “Đời Hòa cũng rất khổ. Hòa không phải người ở đây. Ông bà Hòa chết đói năm bốn năm. Bố mẹ Hòa cũng đem con cái ăn xin lên đất này…” [12, 168]. Như vậy, bản thân họ vốn ban đầu nghèo khổ, không có bạn bè, không có gia đình và càng không có niềm tin vào tình yêu. Tuy nhiên, dưới ánh sáng của Đảng, của Bác Hồ trong cuộc cải cách ruộng đất, nhờ sự khai mở về tinh thần họ đến với cách mạng, qua làm việc trong hợp tác, họ đến gần với tình làng nghĩa xóm hơn. Sau buổi họp Thế có nhiều sự thay đổi “Đầu óc Thế nhẹ nhõm rạng rũa dần. Mặt mũi cũng tươi tỉnh ra, cái thành kiến giữa Thế với bà con trong xóm không còn nữa. Người ta thấy Thế đi lại chơi bời trong xóm, và bà con trong xóm cũng đi lại chơi bời với Thế. Cái nhà nhỏ bé của Thế từ bao lâu chỉ thấy đóng cửa im ỉm, lặng ngắt trong một góc vườn, bây giờ đã nghe thấy tiếng cười nói xôn xao… Làng xóm, đồng ruộng bây giờ là của nhân dân, là của những người như Thế…

[12, 171]. Đối với Hòa cũng vậy, trong Hòa nảy nở niềm vui. Nỗi vui sướng tràn ngập trong lòng Hòa khi tên địa chủ thằng Khang bị bắt, tịch thu nhà cửa, ruộng đất, vườn tược. Trong cái vui đấu tranh thắng lợi ấy còn len lỏi vào một niềm vui khác, êm dịu, bát ngát… đó là tình yêu dành cho Thế. Ở đó có cái gì đó giản đơn nhưng mang bao ý nghĩa, hi vọng của tương lai. Làng xóm trong thời kì cải cách tươi vui hơn, hạnh phúc hơn và đẹp hơn. Lối sống chan chứa tình người, sự hòa quyện giữa cảnh và người giúp cho người đọc có cảm nhận tinh tế về làng xã, về văn hóa truyền thống Việt.

Tuy nhiên, không gian trong sáng tác của Kim Lân cũng còn nhiều gam màu tối, u ám của một thời kì đất nước gặp nhiều khó khăn, trở ngại, gian

31

truân. Cũng trong không gian của làng quê cải cách ấy là những khoảnh khắc nặng nề, lặng lẽ đến lạ thường. Điều này được thể hiện khá rõ nét trong Ông lão hàng xóm cùng với đó là bi kịch của gia đình Đoàn khi bị tình nghi là kẻ phản cách mạng - nghi là người của Việt Nam quốc dân đảng. Không chỉ có Đoàn mà còn có cả đồng đội của anh - những chiến sĩ trung kiên của cách mạng như Mùi cũng bị quy oan và đã bị bắt. Những gam màu tối ấy được hiện lên trong sự u uất, căng thẳng khi những người cán bộ, anh du kích đến nhà Đoàn hỏi tội “không khí bỗng dưng chìm hẳn xuống, nghiêm khắc như sắp sửa bắt đầu một phiên tòa. Ánh sáng buổi chiều tái ngắt, rét thấu đến ruột” [12, 186]. Rồi “bóng tối từ trong các hốc cây, các xó xỉnh, khe tường, từ trong những đốm chum vại, bồ bị và những túm quần áo vắt lươm tươm trên vách lan ra chiếm hẳn gian buồng tự lúc nào. Con mối trên vách kêu “tắc tắc tắc!...” lên một hồi như người đời chép miệng. Trong nhà ngoài sân im vắng

[12, 196]. Đó không chỉ là không gian của ngôi nhà Đoàn đang sống, mà khoảng không trĩu nặng, liêu xiêu, tiêu điều cũng hiện lên trong đôi mắt của Đoàn khi nhìn sang nhà ông lão hàng xóm “Những đám mù mù che trước mặt tan đi. Ngôi nhà thờ họ Lê bên kia hiện ra đứng xiêu vẹo trong bóng tối. Một bên mái đổ gục xuống, lủa tủa những rui mè và mấy hàng cột đen sì chổng ngược lên giời. Xung quanh cỏ rậm và cây cối mọc ngổn ngang trên các lối đi và những thềm gạch cũ” [12, 197]. Bức tranh làng quê hiện lên dưới ngòi bút của Kim Lân vừa mang giá trị hiện thực đồng thời cũng mang theo những nét truyền thống văn hóa, những hủ tục lạc hậu của con người trong cách nhìn nhận phiếm diện. Làng quê trong thời kì cải cách không phải chỉ là nơi nên thơ, trong trẻo với cánh cò, đồng lúa, bờ đê,… với đầy những gam màu sáng tươi. Mặc dù lấy bối cảnh xã hội trong thời kì cải cách Kim Lân muốn reo vui cùng quần chúng nhân dân, nhưng nhìn dưới góc nhìn khách quan nhất cũng có sự phê phán và còn nhiều vấn đề về vốn văn hóa của một đất nước nông

32

nghiệp nghèo nàn, lạc hậu quanh năm bán mặt cho đất bán lưng cho trời.

Không khí nặng nề của cảnh đói nghèo, xác xơ vẫn luôn dai dẳng trong mỗi ngôi làng cho dù ở thời kì nào đi chăng nữa.

Một phần của tài liệu Văn hóa làng trong truyện ngắn kim lân (Trang 34 - 37)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(61 trang)