Nhân vật nhỏ bé, đời thường

Một phần của tài liệu Văn hóa làng trong truyện ngắn kim lân (Trang 52 - 61)

2.2. Những kiểu nhân vật đặc trưng trong truyện ngắn Kim Lân

2.2.3. Nhân vật nhỏ bé, đời thường

Quan điểm sáng tác của Kim Lân là viết cho người nghèo. Bởi vậy như một lẽ tự nhiên, Kim Lân đã trở thành nhà văn của những con người nghèo khổ trong xã hội. Cũng do đó chiếm số lượng nhiều nhất trong các sáng tác của Kim Lân là những nhân vật nhỏ bé, đời thường, kiểu nhân vật thấp cổ bé họng. Đây là mẫu nhân vật “đầu thừa đuôi thẹo” vô danh tiểu tốt ở chốn làng quê nông thôn Việt Nam nói chung trong cả hai giai đoạn trước Cách mạng và sau Cách mạng tháng Tám.

Có thể nói, nhìn người nông dân ở góc độ con người văn hóa, nhà văn Kim Lân không chỉ dừng lại với những con người thượng võ, tài hoa, bặt thiệp mang thứ “phong lưu đồng ruộng”. Hay nói cách khác, ông không chỉ làm sống lại những phong tục, những thú chơi, những sinh hoạt văn hóa truyền thống của con người ở làng quê Bắc bộ Việt Nam. Kim Lân còn muốn tạo dựng cái cốt cách tâm hồn của con người Việt - cái cốt cách mà ông cho là rất cao quý, những con người nghèo mà Kim Lân gọi họ là “Những con người mà như là những đầu thừa đuôi thẹo ở khắp xó xỉnh của cuộc sống” [15].

Mỗi con người một số phận, một cảnh ngộ khác nhau. Người thì trôi dạt khốn cùng bởi chiến tranh, đói khát cùng đường, người bị chà đạp, áp bức, bóc lột, khinh rẻ. Ngòi bút Kim Lân tập trung miêu tả số phận của những con người đầu thừa đuôi thẹo. Những mẫu người ấy có diện mạo, hồn cốt riêng biệt, ấn tượng trong nhiều tác phẩm của nhà văn. Họ là những người nghèo khổ, khốn cùng vậy nhưng dưới ngòi bút của Kim Lân vẫn lấp lánh một vẻ đẹp tâm hồn, lòng vị tha và đức hy sinh, niềm khát khao sống và thiết tha

48

hạnh phúc. Những nhân vật nhỏ bé đời thường, thấp cổ bé họng, đầu thừa đuôi thẹo là sự hiện thân của cái nghèo đói, cái khổ, một đứa con người cô đầu bị mẹ nhẫn tâm bỏ rơi sống chơ vơ, tủi cực trong cuộc sống mưu sinh (Đứa con người cô đầu), hay người kép già hết thời chỉ biết vùi dập cuộc đời còn lại của mình trong làn khói thuốc phiện, nghèo túng, mơ màng về thời trẻ (Người kép già)… Nhiều hơn cả là những người nông dân nghèo không sống nổi ở làng phải bỏ làng đi phiêu bạt khắp nơi, tất cả họ đều giống nhau ở cái đói, cái nghèo. Ta còn bắt gặp thế giới của những người nông dân nghèo khổ vốn là hạ lưu của cái xã hội cũ, những người nông dân hiền lành chất phác ở miền xuôi mất nhà, mất ruộng đất xiêu dạt lên miền ngược, túp vào một xó chợ bên sông, một góc phố núi hay ven một đồn điền, một xóm trại, tiếp tục vật lộn với miếng cơm manh áo hàng ngày. Trong truyện ngắn Vợ nhặt đó là anh cu Tràng, người vợ nhặt, bà cụ Tứ và cả những con người sống vất vưởng trong xóm ngụ cư, lúp xúp, tối om, một vùng đất ảm đạm, tối tăm của kiếp người nhỏ bé trong xã hội. Bản thân họ đều mang thân phận của người nông dân sống trong bối cảnh xã hội trước Cách mạng tháng Tám nghèo đói, khốn khổ và phải xiêu dạt đến nơi khác chỉ vì miếng cơm, manh áo. Cuộc sống cùng cực, họ phải đi tha hương cầu thực từng ngày, từng bữa kiếm miếng ăn để mưu sinh. Hình ảnh người vợ nhặt, áo quần “tả tơi như tổ đỉa”, gầy sọp trên cái “khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt” [12, 153] cũng vất vả trong cuộc sống mưu sinh, ngồi đợi nhặt hạt rơi, hạt vãi, hay có công việc gì gọi đến thì làm và chẳng ai biết thị đến từ đâu, tên họ là gì và dường như cũng không có ai quan tâm đến thị… Nhân vật như một minh chứng rõ nét cho hạng người bần cùng trong xã hội hiện thực đương thời.

Chính vì thế mà trên hành trình khám phá và thể hiện những người nông dân Việt Nam ở làng quê đồng bằng Bắc Bộ, Kim Lân đã tập trung xoáy vào chủ đề sức sống mãnh liệt của con người ngay trong những lúc cùng quẫn,

49

tuyệt vọng nhất. Đây chính là một biểu hiện cụ thể nhất của con người văn hóa làng xã Việt Nam. Rất nhiều truyện của Kim Lân nói chung không chỉ khám phá và thể hiện mà còn khẳng định bản chất lành mạnh, khỏe khoắn trong nhân cách của người lao động, như khẳng định một chân lý. Điều này có lẽ tập trung tiêu biểu nhất ở nhân vật Tràng, vợ Tràng, bà cụ Tứ - mẹ Tràng trong truyện ngắn Vợ nhặt. Anh Tràng lấy vợ trong hoàn cảnh giữa nạn đói đã mang đến cho con người một niềm tin mãnh liệt về sự sống đang tắt lụi dần giữa cảnh đói khát, chết chóc, thê lương, ảm đạm. Cụ thể là Tràng đem lại cho “người vợ nhặt” - con người đói rách có cơ hết sống ấy một chỗ dựa tin cậy, tồn tại, khiến chị ta vốn chao chát, chỏng lỏn đã sớm hoàn lại tính tình hiền hậu, đúng mực. Và với bản thân Tràng cũng thế - anh tự thấy mình “nên người” hơn, anh cảm thấy phải có “trách nhiệm” và “bổn phận” đối với gia đình hơn. Tất cả càng làm cho người đọc thấm thía hơn về vẻ đẹp trong tâm hồn những con người nghèo, cần lao cơ cực, cái chết luôn cận kề sự sống nhưng họ vẫn luôn yêu thương, cưu mang, đùm bọc nhau, vẫn luôn ước ao thèm khát hạnh phúc - dù đó chỉ là hạnh phúc nhỏ nhặt, tầm thường. Đây cũng chính là một biểu hiện cơ bản cho kiểu con người duy tình của làng xã Việt Nam. Những người dân nghèo với nhau có những cư xử đẹp trong khó khăn, hoạn nạn. Lối sống duy tình ấy đã tạo nên sự giúp đỡ, tương trợ nhau gắn bó thành chất keo cố kết gia đình và cộng đồng.

Đáng nói hơn nữa, ở nhân vật bà cụ Tứ - mẹ anh Tràng - một người mẹ già nua, nghèo khó có tấm lòng nhân hậu và rất yêu thương con. Bà đã thương con mà chấp nhận người đàn bà xa lạ về nhà làm dâu mình. Thương con, bà lại càng thương hơn đứa con dâu tội nghiệp của mình. Có lẽ, có một sự đồng cảm cũng là đàn bà con gái với nhau nên bà cảm thấy xót thương cho “người vợ nhặt”. Tình thương của bà thật lớn lao và cảm động. Đó là một thứ tình thương rất gần với bản năng, một lòng thương xót tự nhiên giữa mẹ và con,

50

giữa con người với con người. Tình thương này đặc biệt tiêu biểu cho tấm lòng của người phụ nữ Việt Nam có từ ngàn đời. Nhưng điều quan trọng là ở bà cụ Tứ, chính là niềm tin và khát vọng sống lớn lao trong tâm hồn bà. Chính bà đã thắp lên ngọn lửa hy vọng vào cuộc sống cho vợ chồng Tràng. Bữa cơm đầu tiên, bà đón tiếp nàng dâu mới chỉ với vài bát cháo loãng cùng lùm rau chuối thái (cả nhà cùng ăn) và một nồi “chè khoán” nấu loãng cám mà bà cho là “ngon đáo để”, “xóm ta khối nhà chả có cám mà ăn đấy!” [12,160]. Bà nói toàn là chuyện vui, chuyện sung sướng sau này. Trên cái khuôn mặt bủng beo của bà, luôn hiện lên niềm vui và cả sự lo âu khi gia đình có thêm thành viên mới. Tình thương của bà cụ Tứ thật lớn lao và cảm động. Chính tình thương này đã góp phần xua đuổi cái bóng đen của đói khát và cái chết ra khỏi cuộc sống của con người. Đó cũng chính là vẻ đẹp thuộc về tâm hồn Việt, văn hóa Việt [15].

Nhân vật Đoàn trong truyện ngắn Ông lão hàng xóm cũng vậy. Đoàn bị quy oan theo quốc dân Đảng, đang bị truy bức, làm nhục. Không chỉ có Đoàn, mà cả đồng đội của anh - những chiến sĩ trung kiên của Cách mạng như Mùi cũng bị quy oan và đã bị bắt. Những lời hát của ông lão hàng xóm như một ngụ ý về thói đời oan nghiệt, về nỗi oan khúc của kiếp người, về lòng đồng cảm đầy ân tình, cảm động nhưng không dám công khai trong tình cảnh khắc nghiệt lúc bấy giờ. Điều đáng nói là nhân vật Đoàn trong lúc bị đày ải, bị ép cung, bị dồn tứ phía, kể cả bà con và người thân, nhưng anh đã hai lần tâm niệm, như tự thề nguyền với lương tâm và dũng khí của mình: “phải sống”.

Tác giả để cho Đoàn tâm niệm: “Và Đoàn chết đi, liệu đã thoát chưa? Hay là rồi đây người ta sẽ cho rằng Đoàn trốn đấu tranh? Bị đồng bọn cắt đứt đầu mối? Không, Đoàn phải sống! Cho dầu hoàn cảnh có đắng cay, tủi nhục đến chừng nào đi nữa, Đoàn cũng phải sống. Tình thương yêu và bổn phận làm cha, làm chồng day dứt trong lòng, Đoàn không thể trốn mà đi được” [12,

51

206]. Hai lần, hai tiếng “phải sống” vang lên như một sự quyết đấu, giành lại chỗ đứng của thân phận giữa thời buổi đảo điên đó. Đây là kiểu con người bất hạnh, chịu nhiều đau khổ trong cuộc đời, nhưng vẫn luôn tiềm ẩn trong người một khát vọng sống, một niềm tin, niềm hy vọng vào tương lai, vào cuộc sống mới có thể làm thay đổi cuộc đời. Có thể nói rằng sức sống của nhân dân là bất tử, không sức mạnh nào có thể hủy diệt được. Cường quyền, bạo lực, bom đạn, cái đói, tất thảy đều trở nên bất lực đến mức thảm hại trước sức sống mãnh liệt của con người. Các tác phẩm của Kim Lân như những bài ca ngợi ca sự sống, ngợi ca sự bất tử của con người, rộng hơn là của người Việt, tính cách Việt, tâm hồn Việt. Và đó cũng chính là cốt cách của con người văn hóa làng xã.

Khi nhìn vào loại nhân vật này với tư cách là con người văn hóa, chúng ta không thể không nhắc đến tình cảm và trách nhiệm tự nhiên của họ đối với số phận và sự tồn vong của đất nước. Phải kể đến là nhân vật ông Hai trong tác phẩm Làng. Với ông Hai, yêu làng tức là yêu nước, gắn bó với số phận và danh dự của làng cũng chính là gắn bó với số phận và danh dự của đất nước.

Khi nghe tin đồn, làng mình theo giặc, ông Hai tâm niệm: “Không thể được!

Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù” [12, 143]. Đúng là một thái độ lựa chọn dứt khoát, mặc dù phải chịu đau đớn. Trong những năm tháng kháng chiến, trước họa xâm lăng, bất kể ai là con dân của nước Việt đều đem lòng mến yêu và trách nhiệm đối với sự an nguy của đất nước.

Thật tự nhiên, họ đã vô cùng gắn bó với quê hương, đất nước trong khung cảnh thời chiến. Lòng yêu nước đã trở thành một giá trị tinh thần cao quý chảy trong huyết quản của mỗi người. Có thể nói giá trị tinh thần cao nhất trong con người văn hóa đó chính là lòng yêu nước một cách tự nhiên máu thịt, cảm động và bền bỉ. Đó cũng chính là cái mạch nguồn thiêng liêng trong văn hóa Việt.

52

Có thể thấy, Kim Lân đã ưu ái hơn rất nhiều khi viết hình tượng người nông dân và đặc biệt là những số phận nhỏ bé, đời thừa của họ. Phát hiện ra những điểm đáng quý của họ để rồi từ đó ngợi ca, phẩm chất, lối sống tình làng nghĩa xóm của mỗi nhân vật. Khi soi chiếu hình tượng người nông dân dưới góc nhìn văn hóa làng xã, chúng tôi đã khẳng định lại một lần nữa giá trị của văn hóa người Việt xưa. Không gian làng xã khép kín, eo hẹp, cùng với đó là tổ chức kết cấu của mô hình cấu trúc làng xã tự quản, tự trị hiện diện trong mỗi tác phẩm. Những người nông dân chất phác, thật thà dù sống trong môi trường nào đi chăng nữa thì vẫn luôn ánh lên vẻ đẹp của tình người, tấm lòng vị tha, nhân ái và biết bao phẩm chất tốt đẹp của họ. Lối sống duy tình, duy nghĩa ăn sâu và luôn chảy trong huyết quản của mỗi người, để rồi từ đó làm thức tỉnh tâm hồn của họ bất cứ lúc nào. Tình cảm hàng xóm, láng giềng luôn gắn kết keo sơn giúp cho con người thôn quê hiểu nhau hơn, gần nhau hơn và từ đó văn hóa Việt theo mãi trong những trang viết của Kim Lân.

53 KẾT LUẬN

Từ việc đi sâu vào tìm hiểu Văn hóa làng trong truyện ngắn của Kim Lân, chúng tôi rút ra được một số kết luận sau:

1. Kim Lân là một nhà văn lớn của văn học Việt Nam hiện đại, với các tác phẩm tiêu biểu như Làng, Vợ nhặt… ông đã tái hiện lại xã hội Việt Nam một cách sắc nét qua những trang viết của mình, đặc biệt là ở hai mảng đề tài:

người nông thôn và văn hóa phong tục làng quê Bắc Bộ. Ở cả hai mảng đề tài Kim Lân đều thể hiện một cách sắc nét những hiểu biết của mình để xây dựng lên bức tranh làng quê mộc mạc giản dị và ông xứng đáng là một cây bút xuất sắc trong nền văn học Việt Nam.

2. Theo hướng tiếp cận văn học từ góc độ văn hóa, chúng tôi đã triển khai một số vấn đề cơ bản để tìm hiểu văn hóa làng trong các sáng tác của Kim Lân.

Cụ thể như sau:

Ở chương thứ hai, chúng tôi đi sâu vào tìm hiểu các sáng tác của Kim Lân về đề tài nông thôn Việt Nam trước và sau cách mạng tháng Tám qua một số đặc trưng nhất của văn hóa làng xã đó là:

Thứ nhất, xác định một số kiểu làng quê qua các thời kì: làng quê truyền thống, làng xóm ngụ cư, làng xóm trong thời kì cải cách ruộng đất và làng xóm tản cư. Đây có thể coi là biểu hiện rõ nhất theo dòng biến thiên của lịch sử. Khi đi tìm hiểu từng kiểu làng quê chúng tôi phát hiện ra những nét đặc trưng về không gian văn hóa làng quê. Chúng tôi tìm hiểu bức tranh nông thôn trong các sáng tác của Kim Lân, đồng thời là lối sống, tình cảm, thói quen của người nông dân xưa cùng với đó là đặc điểm làng xã Việt Nam. Điều đó đã khẳng định được bối cảnh không gian làng quê để từ đó tạo dựng lên những nét đặc sắc trong văn hóa làng xã.

Thứ hai, chúng tôi đi sâu vào tìm hiểu những kiểu nhân vật đặc trưng trong truyện ngắn Kim Lân. Đọc truyện ngắn của Kim Lân người đọc sẽ phát

54

hiện được những kiểu nhân vật đặc trưng sau: Kiểu nhân vật nghệ sĩ chốn làng quê, kiểu nhân vật thượng võ và những con người bình thường, nhỏ bé. Qua việc đi sâu vào tìm hiểu từng kiểu nhân vật đã tạo ra bước tiền đề cơ bản để đi sâu vào khai thác vốn văn hóa phong tục của làng quê truyền thống. Ở đó tồn tại những trò chơi dân gian như chọi gà, thả chim, đi săn, múa rối nước… thú vui của những người nông thôn xưa, và cả những phong tục, hủ tục như lễ đuổi tà trong ngày tết. Đặc biệt là xây dựng kiểu con người mang trong mình tinh thần, khí phách Việt, thể hiện sức mạnh nội lực, tinh thần dân tộc…

Hiểu rõ như thế, chúng ta sẽ có cơ sở để khám phá đầy đủ hơn về phông văn hóa, lịch sử, phong tục tập quán, con người cũng như cuộc sống trong văn chương hiện đại.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Hoài Anh (2003), “Kim Lân nhà tiểu thuyết phong tục sở trường về miêu tả trạng thái nhân thế”, Tạp chí văn (số 13), hội văn nghệ TP.HCM.

2. Lại Nguyên Ân (1986), “Văn xuôi Kim Lân”, Tạp chí Văn học (số 6).

3. Hà Minh Đức (chủ biên) (1994), Nhà văn nói về tác phẩm, Nxb Văn học, Hà Nội.

4. Lê Văn Hảo (2016) “Về khái niệm tính cộng đồng và tính cá nhân”, Tạp chí Tâm lí học số 9/24.

5. Nguyên Hồng (1978), Những nhân vật ấy đã sống với tôi, Nxb Tác phẩm mới.

6. Nguyễn Văn Hùng (2008), Từ điển tiếng Việt, Nxb Từ điển Bách Khoa.

7. Đặng Thị Huy Lam (2005), Đặc điểm truyện ngắn Kim Lân, Luận văn Thạc sĩ, ĐHSP. TP.HCM.

8. Nguyễn Đăng Mạnh (1983), Nhà văn tư tưởng và phong cách, Nxb Văn học, Hà Nội.

9. Nguyễn Đăng Mạnh (1993), Các tác giả văn học Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

10. Phan Ngọc (2006), Bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Văn học, Hà Nội.

11. Lữ Huy Nguyên (1996), Tuyển tập Kim Lân, Nxb Văn học, Hà Nội.

12. Dương Phong (2011), Kim Lân tuyển tập, Nxb Văn học.

13. Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục.

14. Đỗ Lai Thúy (1999), Từ cái nhìn văn hóa, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.

15. Nguyễn Thị Nha Trang (2009), Phong cách văn xuôi nghệ thuật Kim Lân”, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Trường ĐHSP Tp Hồ Chí Minh.

16. Nhiều tác giả (2003), “Tuyển tập 10 năm tạp chí văn học và tuổi trẻ”, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

Một phần của tài liệu Văn hóa làng trong truyện ngắn kim lân (Trang 52 - 61)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(61 trang)