Siêu âm tim là phương tiện cận lâm sàng không xâm nhập hữu ích nhất trong phát hiện BTBS, chẩn đoán xác định, lượng giá tiên lượng, chỉ định phẫu thuật và theo dõi lâu dài sau phẫu thuật.
Hiện nay, nhờ sự phát triển của siêu âm tim, hầu hết các trường hợp BTBS có thể có chỉ định phẫu thuật mà không cần thông tim chụp mạch (16) (17). Hạn chế của siêu âm là xác định tổn thương xa các mạch máu ngoài tim (TD : các nhánh ĐMP …) lúc đó có thể cần ảnh cộng hưởng từ (MRI) hoặc thông tim chụp mạch
6.1 Thoâng lieân nhó
Có 4 dạng thông liên nhĩ là thông liên nhĩ lỗ thứ phát, thông liên nhĩ lỗ tiên phát, xoang tĩnh mạch và xoang vành.
Siêu âm tim qua thành ngực có thể phát hiện dễ dàng thông liên nhĩ lỗ thứ phát và thông liên nhĩ tiên phát nhưng thông liên nhĩ xoang tĩnh mạch thường khó phát hiện với siêu âm qua thành ngưc vì vậy phải cần dùng đến siêu âm qua thực quản.
Siêu âm tim trong thông liên nhĩ phát hiện luồng thông trái – phải, lớn nhĩ phải và thất phải, vách liên thất vận động nghịch thường.
Có thể đóng thông liên nhĩ qua da bằng dụng cụ thường gọi là dù. Siêu âm tim qua thực quản có vai trò quan trọng trong việc xác định kích thước lỗ thông và vị trí chính xác lỗ thông liên nhĩ so với các
mốc giải phẫu như động mạch chủ, van hai lá, tĩnh mạch chủ trên, tĩnh mạch chủ dưới, xoang vành, tĩnh mạch phổi, để đặt dụng cụ bít hoàn toàn lỗ thông liên nhĩ.
A B
C D
Hình 24 : Cạnh ức trục dọc 2D và TM - ghi nhận vận động nghịch thường của vách liên thất. Thất phải dãn lớn, đường kính thất phải đo được là 43mm (A-B). Mặt cắt 4 buồng cạnh ức: khảo sát Doppler màu dòng máu chảy qua lỗ thông liên nhĩ từ trái sang phải. Phổ Doppler dòng máu ngang lỗ thông có dạng 3 đỉnh ( C-D). ( pulm.v: tĩnh mạch phoồi).
6.2 Thoâng lieân thaát
Thông liên thất gồm các dạng quanh màng, buồng nhận, buồng tống, cơ bè. Siêu âm giúp phát hiện và định vị trí lỗ thông liên thất. Siêu âm doppler liên tục có thể đo vận tốc và độ chênh áp của lỗ thông qua siêu âm, lỗ thông lớn sẽ có độ chênh áp nhỏ và ngược lại.
A B
C D
Hình 25 : Mặt cắt cạnh ức trục ngang - ngang van động mạch chủ cho thấy thông liên thất phần màng (A-B). Dòng máu xoáy màu xanh lục lập thể ngang qua lỗ thông liên thất (C). Khảo sát Doppler liên tục dòng máu qua thông liên thất .Độ chênh áp lực thất trái - thất phải là 77.09 mmHg(D) .
6.3 Còn ống động mạch
Là sự thông thương giữa động mạch chủ lên và thân động mạch phổi, siêu âm tim phát hiện được ống động mạch nhờ vào có sự thông thương về mặt giải phẫu và sự hiện diện dòng máu giữa động mạch chủ xuống và động mạch phổi, khi bệnh nhân có tăng áp động mạch phổi thì trên siêu âm tim qua thành ngực và siêu âm tim qua thực quản khó phát hiện vì áp lực ngang bằng giữa hai động mạch, ngược lại khi vận tốc qua ống động mạch cao gợi ý một áp lực động mạch thấp.
A
Hình 26 : Mặt cắt trên hõm ức trục dọc hơi nghiêng đầu dò giúp thấy rõ ống động mạch (mũi tên ). (A-B) (Ao Arch: Cung ĐMC; PDA: ống ĐM; DA: động mạch chủ xuống )
6.4 Tứ chứng Fallot
6.5 Hoán vị đại động mạch
Hình 27 : Mặt cắt cạnh ức trục dọc: ĐMC cưỡi ngựa trong tứ chứng Fallot (A). Mặt cắt cạnh ức trục ngang – ngang van động mạch chủ: thông liên thất phần quanh màng, đường kính = 12.6mm (B). Hình ảnh Doppler màu
Hình 28 : Sơ đồ bệnh hoán vị đại động mạch với động mạch chủ bắt nguồn từ thất phải , động mạch phổi bắt nguồn từ thất trái , có còn ống động mạch đi kèm. (Aorta : động mạch chủ, Pulmonary artery : động mạch phổi, ductus arteriosus : ống động mạch, pulmonary veins : tĩnh mạch phổi, left atrium : nhĩ trái, right atrium : nhĩ phải, right ventricle : thất phải, left ventricle : thất trái)
A B
Hình 29 : Mặt cắt dưới sườn –hình ảnh hoán vị đại ĐM với ĐMP bắt nguồn từ thất trái, 2 đại ĐM song song, ĐMP phân nhánh sớm (A-B).
6.6 Beọnh Ebstein Muùc tieõu sieõu aõm
1. Chẩn đoán xác định.
2. Chẩn đoán thể bệnh : theo phân loại của Alain Carpentier:
+ Loại A : Lá van trước lớn và vận động dễ. Lá van sau dưới, lá vách đóng thấp. Buồng nhĩ hoá nhỏ, vách còn dày và có co bóp. Dung lượng thất phải gần như bình thường.
+ Loại B : Lá van trước lớn và vận động dễ. Lá van sau dưới, lá vách đóng rất thấp. Lá vách thường bị teo và dính vào vách thất. Buồng nhĩ hoá lớn, vách mỏng và không co bóp.Thất phải nhỏ.
+ Loại C : Lá van trước vận động hạn chế. Lá van sau dưới, lá vách teo và đóng rất thấp.
Buồng nhĩ hoá lớn, không co bóp. Thất phải rất nhỏ.
+ Loại D : Cả 3 lá của van 3 lá đều bị dính vào vách. Váùch thất phải rất mỏng và co bóp yeáu.
3. Kích thước các buồng tim, chức năng tim.
4. Khảo sát động mạch phổi và các nhánh.
5. Tìm tổn thương phối hợp: thông liên nhĩ, thông liên thất, hẹp eo động mạch chủ, còn ống ẹM….
Hình 30 : Sơ đồ bệnh Ebstein với hình ảnh buồng nhĩ hóa lớn, kích thước thất phải nhỏ. ( Aorta: động mạch chủ, Pulmonary artery: động mạch phổi, left atrium: nhĩ trái, right atrium: nhĩ phải , left ventricle: thất trái, atrialized right ventricle: buồng thất phải bị nhĩ hoá, functional right ventricle: buồng thất phải chức năng).
A B
chênh giữa lá vách van 3 lá và lá trước van 2 lá là 20 mm. Buồng nhĩ phải nhỏ, buồng thất phải kích thước gần như bình thường (B).
6.7. Siêu âm tim thai
Kỹ thuật này được áp dụng trong chẩn đoán bệnh tim bẩm sinh tiền sản, đặc biệt ở những trường hợp nguy cơ cao. Siêu âm tim thai được áp dụng từ 16- 22 tuần, phát hiện được nhiều dị tật bẩm sinh giúp cải thiện tiên lượng, hướng dẫn điều trị[31,32,33]
Chỉ định:
Mẹ
Tiền sử gia đình Đái tháo đường
Sử dụng thuốc chống động kinh, indomethacin, barbiturate, salicylate, lithium, thuốc trị ung thư, vitamin A.
Nhiễm trùng Nghiện rượu Lupus
Phenyketonuria Thai
Hình dạng bất thường Đa ối
Rối loạn nhịp tim Dị dạng ngoài tim
Bất thường nhiễm sắc thể
(1) Mặt cắt bụng trên (2) Mặt cắt bốn buồng (3) Mặt cắt 5 buồng (4) Mặt cắt 3 mạch máu
(5) Mặt cắt ngang cung động mạch chủ
Hình 64: Các mặt cắt cơ bản (Nguồn: Jeanty, Chaoui, Pilu, Romero. Fetal echocardiography,2006)
Hình 65 : Mặt cắt bốn buồng (Nguồn: Jeanty, Chaoui, Pilu, Romero. Fetal echocardiography,2006)
Hình 34:Phổ qua van hai lá (Nguồn: Jeanty, Chaoui, Pilu, Romero. Fetal echocardiography,2006)