1. VĂN HỌC DÂN GIAN
2.4 Một số dạng đề tham khảo
2.4.1 Đề bài về chi tiết trong truyện ngắn
- Phân tích ý nghĩa của chi tiết ngọn đèn trong truyện ngắn Hai đứa trẻ.
- Phân tích chi tiết bóng tối và ánh sáng trong truyện ngắn Hai đứa trẻ.
- Chi tiết hai chị em Liên chờ tàu trong Hai đứa trẻ.
- Chi tiết lời giáo huấn của Huấn Cao dành cho quản ngục: “Ở đây lẫn lộn. Ta khuyên thầy quản nên thay chốn ở đi. Chỗ này không phải là nơi để treo một bức lụa trắng với những nét chữ vuông tươi tắn nó nói lên những hoài bão tung hoành của một đời con người … Thầy Quản nên tìm về nhà quê mà ở, thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ. Ở đây, khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi.”
- Chi tiết lời cảm tạ của quản ngục sau khi được Huấn Cao cho chữ: “Ngục quan cảm động, vái người tù một cái, chắp tay nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào: “kẻ mê muội này xin bái lĩnh”.
2.4.1.1 Dàn ý
- Mở bài: Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm và chi tiết cần phân tích.
- Thân bài
+ Bước 1: Khái niệm: chi tiết nghệ thuật.
+ Bước 2: Tái hiện lại chi tiết đó xuất hiện như thế nào trong tác phẩm (Yêu cầu phải dẫn được chính xác nguyên văn của tác giả).
+ Bước 3: Phân tích ý nghĩa của chi tiết trong mối quan hệ với:
++ Các phương diện nghệ thuật khác của tác phẩm (cốt truyện, tình huống, nhân vật, kết cấu…).
++ Tư tưởng chủ đề của tác phẩm.
- Kết bài: Đánh giá về tài và tâm của tác giả.
2.4.1.2 Đề bài minh họa
Anh (chị) hãy bình giá ý nghĩa tư tưởng và nghệ thuật chi tiết lời cảm tạ của quản ngục sau khi được Huấn Cao cho chữ: “Ngục quan cảm động, vái người tù một cái, chắp tay nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào: “kẻ mê muội này xin bái lĩnh”.
a) Mở bài
Giới thiệu tác giả, tác phẩm và chi tiết cần phân tích b) Thân bài
- Khái niệm: chi tiết nghệ thuật
- Xuất xứ của câu nói: là chi tiết kết thúc tác phẩm.
- Phân tích ý nghĩa:
+ Thể hiện cách ứng xử đầy tôn kính của quản ngục, con người tuy làm nghề thất đức nhưng lại có tấm lòng biệt nhỡn liên tài trước Huấn Cao – bậc anh hùng, đấng tài hoa, khi lĩnh nhận lời di huấn thiêng liêng, cao quý.
+ Nếu Huấn Cao không cúi đầu trước cường quyền phi nghĩa, và cúi đầu trước sở thích cao quý của một tấm lòng trong thiên hạ, thì quản ngục cũng biết cúi đầu trước cái tài, cái tâm và thiên lương, khí phách. Có cái cúi đầu làm cho con người ta trở nên hèn hạ, có những cái vái lạy làm cho con người đê tiện. Nhưng cũng có cái cúi đầu làm cho con người ta trở nên cao cả hơn, sang trọng hơn. Cái cúi đầu của viên quản ngục vái lạy Huấn Cao gợi chúng ta liên tưởng tới cái cúi đầu của Cao Bá Quát trước hoa mai:
“Nhất sinh đê thủ bái mai hoa” (một đời chỉ biết cúi đầu vái lạy trước hoa mai).
+ Dòng nước mắt và sự nghẹn ngào của quản ngục thể hiện nỗi đau đớn, bi phẫn tột cùng trước cảnh ngộ oái oăm, ngang trái, đầy bi kịch của Huấn Cao.
+ Cái cúi đầu của quản ngục trước Huấn Cao đã làm sáng tỏ tư tưởng, chủ đề của tác phẩm: quyền lực phi nghĩa vô nghĩa trước quyền uy của cái đẹp tình người, cái đẹp nghệ thuật.
c) Kết bài
- Khẳng định lại ý nghĩa của chi tiết.
- Đánh giá về tấm lòng và tài năng của nhà văn.
2.4.2 Đề bài so sánh hai chi tiết trong hai tác phẩm
Kiểu bài so sánh chi tiết trong hai tác phẩm tự sự, không chỉ đòi hỏi ở học sinh kĩ năng phân tích, cảm nhận, mà còn khơi dậy ở các em khả năng tinh nhạy trong phát hiện vấn đề, kỹ năng tư duy so sánh, đối chiếu để chỉ ra sự tương đồng và khác biệt giữa hai chi tiết, từ đó làm sáng tỏ được vẻ đẹp riêng của từng chi tiết, sự sáng tạo độc đáo của mỗi nhà văn. Hơn nữa, học sinh còn phải thể hiện được khả năng cắt nghĩa, lý giải tại sao lại có sự tương đồng và khác biệt này thông qua việc vận dụng các kiến thức về bối cảnh xã hội, văn hóa mà từng đối tượng tồn tại; phong cách nhà văn; đặc trưng thi pháp của thời kì văn học…
- Cảm nhận của anh/chị về chi tiết “bát cháo hành ” mà nhân vật thị Nở mang cho Chí Phèo (Chí Phèo – Nam Cao) và chi tiết “ấm nước đầy và nước hãy còn ấm” mà nhân vật Từ dành sẵn cho Hộ (Đời Thừa – Nam Cao) (Đề khối D 2010)
- So sánh chi tiết ánh sáng và bóng tối trong hai tác phẩm “Hai đứa trẻ” và “Chữ người tử tù”
- So sánh chi tiết giọt nước mắt của Chí Phèo (Chí Phèo – Nam Cao) với Hộ (Đời Thừa – Nam Cao).
2.4.2.1 Dàn ý a) Mở bài
Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm và hai chi tiết cần so sánh.
b) Thân bài
- Bước 1: Phân tích chi tiết thứ nhất (sự xuất hiện, ý nghĩa) - Bước 2: Phân tích chi tiết thứ hai (sự xuất hiện, ý nghĩa)
- Bước 3: So sánh nét tương đồng và khác biệt giữa hai chi tiết trên cả hai bình diện nội dung và hình thức nghệ thuật.
- Bước 4: Lý giải sự khác biệt trên cơ sở hiểu biết về bối cảnh văn hóa xã hội, phong cách nhà văn; đặc trưng của quá trình sáng tạo, đặc trưng thi pháp của thời kì văn học…
c) Kết bài
Đánh giá khái quát về đặc sắc riêng của hai chi tiết và sự sáng tạo của nhà văn.
2.4.2.2 Đề bài minh họa a) Mở bài
Giới thiệu khái quát về hai tác giả Thạch Lam, Nguyễn Tuân và hai bài truyện ngắn Hai đứa trẻ, Chữ người tử tù; hai chi tiết được yêu cầu cảm nhận.
b) Thân bài
* Bước 1: Ánh sáng và bóng tối trong Hai đứa trẻ:
- Dạng thức của ánh sáng, bóng tối
+ Ánh sáng: vừa mang ý nghĩa vật lý (những nguồn sáng xuất hiện trong tác phẩm như: Phương tây đỏ rực, ngọn đèn chị Tý, bếp lửa của bác Siêu, chuyến tàu…) vừa mang ý nghĩa biểu tượng cho ước mơ, khát vọng
+ Bóng tối: vừa mang ý nghĩa vật lý (dãy tre làng đen lại, bóng tối mù mịt dày đặc trong đêm…) - Tương quan ánh sáng, bóng tối: tồn tại trong thế giao tranh từ đầu đến cuối tác phẩm trong đó bóng tối càng lúc càng chiếm ưu thế để rồi thắng thế còn ánh sáng thì nhỏ bé, tội nghiệp. Về ý nghĩa thực nó cho thấy bức tranh phố huyện nghèo nàn, tăm tối. Về ý nghĩa biểu tượng nó cho thấy những con người nhỏ bé như chị em Liên mang trong mình ước mơ, khát vọng mãnh liệt vào một tương lai tươi sáng nhưng ước mơ đã mâu thuẫn gay gắt và có nguy cơ bị bóp nghẹt bởi hiện thực tăm tối.
* Bước 2: Ánh sáng và bóng tối trong Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân - Dạng thức của ánh sáng, bóng tối:
+ Ánh sáng: vừa có dạng thức vật lý (ngọn đèn của Quản ngục, ánh sáng của vì sao Hôm , ngọn đuốc tẩm dầu..) vừa mang tính biểu tượng cho vẻ đẹp của nghệ thuật cao quý và thiên lương trong sáng tốt đẹp của con người.
+ Bóng tối: Vừa có dạng thức vật lý (Bóng tối bao trùm trong đêm quản ngục ngồi suy nghĩ cùng cái chật hẹp, tối tăm, bẩn thỉu của buồng giam..) vừa mang tính biểu tượng cho hiện thực đen tối, ngột ngạt, bạo tàn của nhà ngục nói riêng và xã hội nói chung
- Tương quan ánh sáng, bóng tối và ý nghĩa: Có sự giao tranh gay gắt nhưng ánh sáng đã nổi bật trên nền cái tăm tối, bẩn thỉu (như ánh sáng của bó đuốc và màu trắng của tấm lụa nổi bật trên nền của nhà giam bẩn thỉu, chật chội; như vẻ đẹp trong thiên lương của Huấn Cao và Quản ngục đã nổi bật trên nền hiện thực khắc nghiệt)
* Bước 3: So sánh:
- Điểm tương đồng:
+ Cả ánh sáng và bóng tối trong hai tác phẩm đều xuất hiện với một tần số lớn
+ Ánh sáng đều biểu tượng cho những điều tốt đẹp còn bóng tối biểu tượng cho hiện thực đen tối, nghiệt ngã.
+ Ánh sáng và bóng tối ở cả hai tác phẩm đều tồn tại trong thế giao tranh với nhau một cách gay gắt + Đều được xây dựng bằng bút pháp tương phản đối lập đặc trưng của chủ nghĩa lãng mạn.
- Điểm khác biệt:
+ Trong Hai đứa trẻ, ánh sáng nhỏ bé, yếu ớt còn bóng tối bao trùm, chiếm ưu thế còn trong Chữ người tử tù ánh sáng lại nổi bật rực rỡ trên nền bóng tối.
+ Thông điệp mà Thạch Lam muốn gửi gắm là hãy thay đổi hiện thực để con người có thể sống trọn vẹn với ước mơ hi vọng của mình còn của Nguyễn Tuân lại là cái đẹp có một sức mạnh kì diệu, nó có thể nối liền mọi khoảng cách, có thể thanh lọc tâm hồn cho con người
+ Về Nghệ thuật: Thạch Lam miêu tả ánh sáng, bóng tối bằng thứ ngôn ngữ giàu chất thơ, giàu nhạc điệu hình ảnh còn Nguyễn Tuân sử dụng ngôn ngữ góc cạnh, giàu tính tạo hình.
* Bước 4: Lý giải điểm tương đồng khác biệt:
- Có những điểm tương đồng là do cả Nguyễn Tuân và Thạch Lam đều là những nhà văn lãng mạn, cùng sống trong hiện thực tăm tối trước 1945
- Có điểm khác biệt là do yêu cầu bắt buộc của văn học (không cho phép sự lặp lại) và do phong cách riêng của mỗi nhà văn
c) Kết bài
- Khẳng định đây đều là hai chi tiết nghệ thuật đặc sắc thể hiện rõ phong cách của hai nhà văn.
2.4.3 Đề bài về lý luận
Để làm tốt kiểu bài này, yêu cầu học sinh phải nắm vững kiến thức về tác phẩm, có kĩ năng phân tích, bình giá tốt. Ngoài ra, các em phải được trang bị đầy đủ kiến thức lý luận về đặc trưng của thể loại truyện ngắn, đặc biệt là chi tiết nghệ thuật. Kiểu đề này sẽ rèn luyện cho các em khả năng phân tích định hướng, phân tích chi tiết nghệ thuật để làm sáng tỏ một vấn đề lý luận. Mặt khác, dạng bài này còn kiểm tra sự tinh nhạy của học sinh trong khâu chọn dẫn chứng. Các em phải chọn được những dẫn chứng đặc sắc, đích đáng để soi tỏ được nhận định của đề bài.
- Macxim Gorki quan niệm: “Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn”. Suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến trên.
- Bàn về truyện ngắn, có người cho rằng: “Yếu tố quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là những chi tiết cô đúc và lối hành văn mang nhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết” (Từ điển thuật ngữ văn học của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 1997, tr 315)
Anh (chị) hiểu thế nào về ý kiến trên và hãy chứng minh qua một số truyện ngắn tiêu biểu.
4.3.2.1 Dàn ý a) Mở bài
Giới thiệu vấn đề cần nghị luận, dẫn dắt vào nhận định (trích nguyên văn).
b) Thân bài
- Bước 1: Giải thích nhận định: Vận dụng kiến thức lý luận về đặc trưng truyện ngắn, chi tiết nghệ thuật…. để giải thích; nêu lên vấn đề cần nghị luận.
- Bước 2: Chứng minh: Chọn những dẫn chứng tiêu biểu, đặc sắc trong các tác phẩm xuất sắc của các tác giả lớn để làm sáng tỏ vấn đề.
- Bước 3 Bình luận:
+ Khẳng định lại vấn đề cần nghị luận.
+ Đưa ra phản đề (nếu có).
+ Mở rộng, nâng cao vấn đề.
4.3.2.2 Đề bàu minh họa
Bàn về truyện ngắn, có người cho rằng: “Yếu tố quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là những chi tiết cô đúc và lối hành văn mang nhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết” (Từ điển thuật ngữ văn học của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 1997, tr 315)
a) Mở bài
- Nét đặc biệt của truyện ngắn so với các thể loại tự sự khác là tuy hạn chế về chiều dài tác phẩm nhưng độ sâu của nó lại thăm thẳm, không cùng.
- Dẫn ý kiến.
b) Thân bài
* Giải thích:
- Ý kiến này nêu lên vấn đề gì?
+ Khái niệm truyện ngắn.
+ Khái niệm chi tiết nghệ thuật.
+ Chi tiết cô đúc: là những chi tiết chứa đựng một dung lượng lớn về ý nghĩa, đặc biệt là giàu ý nghĩa biểu tượng.
+ Lối hành văn mang nhiều ẩn ý: là cách hành văn giản dị, trong sáng mà rất uyên thâm, sâu sắc, “ý tại ngôn ngoại”.
+ Những chi tiết cô đúc và lối hành văn mang nhiều ẩn ý sẽ tạo cho tác phẩm nhiều tầng bậc ý nghĩa, giống như “tảng băng trôi” ba phần nổi dành cho câu chữ và bảy phần chìm trong ý tưởng của người sáng tạo. (Hêmingway)
=> Tóm lại nhận định đã chỉ ra chính xác yếu tố quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là chi tiết nghệ thuật và cách hành văn của tác giả.
- Tại sao lại khẳng định “Yếu tố quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là những chi tiết cô đúc và lối hành văn mang nhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết”?
-> Xuất phát từ đặc trưng của truyện ngắn: Do hạn chế về số lượng câu chữ nên dung lượng cuộc sống được phản ánh trong truyện ngắn không thể so sánh được với các thể loại khác như truyện vừa, truyện dài, tiểu thuyết. Truyện ngắn chỉ thông qua một hiện tượng, một lát cắt, một khoảnh khắc của đời sống, mà khái quát lên được bản chất của cuộc đời và con người. Bởi vậy, người viết truyện ngắn phải có kỹ thuật tinh xảo, biết dồn nén tư tưởng vào trong những chi tiết đặc sắc, và cách hành văn đầy ẩn ý.
* Chứng minh: Làm sáng tỏ ý kiến thông qua những truyện ngắn xuất sắc của những bậc thầy truyện ngắn: Sê khốp, Nam Cao, Nguyễn Tuân,…
* Bình luận:
- Khẳng định đây là ý kiến đúng đắn, có giá trị, đã khái quát lên được đặc trưng của thể loại truyện ngắn.
- Ý kiến đúng nhưng chưa đủ. Ngoài chi tiết nghệ thuật và cách hành văn, sự thành công của một truyện ngắn còn được quyết định bởi rất nhiều yếu tố khác như: cốt truyện, tình huống truyện, hệ thống nhân vật, kết cấu, giọng điệu,…
* Mở rộng: Bàn về bài học rút ra đối với nhà văn và người tiếp nhận.
c) Kết bài
Khẳng định lại vấn đề
3 DẤU ẤN HIỆN THỰC VÀ LÃNG MẠN TRONG TRUYỆN NGẮN “HAI ĐỨA TRẺ” CỦA THẠCH LAM