Thi pháp văn học dân gian

Một phần của tài liệu Lí luận văn học và các đề (Trang 65 - 69)

1. VĂN HỌC DÂN GIAN

1.1 Thi pháp văn học dân gian

Hiện nay nhiều nhà nghiên cứu xem ý kiến của ông Chu Xuân Diên như một định nghĩa. Theo ông Chu Xuân Diên, “Thi pháp văn học dân gian là toàn bộ những đặc điểm về hình thức nghệ thuật, về phương thức và thủ thật miêu tả, biểu hiện, về cách cấu tạo đề tài, cốt truyện và phương pháp xây dựng hình tượng con người”.

1.1.2 Thi pháp ca dao 1.1.2.1 Ca dao là gì?

Ca dao là lời thơ trữ tình dân gian, thường có sự kết hợp với âm nhạc khi diễn xướng, được sáng tác nhằm diễn tả thế giới nội tâm của con người.

1.1.2.2 Kết cấu ca dao (theo Đỗ Đình Trị)

- Kết cấu vòng tròn: Là những chi tiết, hình ảnh được lựa chọn trong văn bản ca dao. Những hình ảnh, từ ngữ cuối cùng trong câu cuối cùng của bài ca dao bắt vần lại với từ, ngữ cuối cùng trong câu đầu.

do vậy bài ca dao sẽ được diễn xướng liên tục. lối kết cấu này thường xuất hiện ở trong đồng dao. VD,

Con kiến mà leo cành đa, Leo phải cành cụt leo ra, leo vào, Con khến mà leo cành đào, Leo phải cành cụt leo vào leo ra,…” Hay “Làm thơ mà dán cây bàng, Thiên hạ không biết nói nàng với ta, Làm thơ mà dán cây đa, Thiên hạ không biết nói ta với nàng, …”.

- Kết cấu tầng bậc: Là những chi tiết, hình ảnh được lựa chọn trong văn bản ca dao có tầng, có bậc, các chi tiết sắp xếp thu hẹp, hoặc mở rộng dần ý nghĩa. Có nhiều kiểu tầng bậc xa đến gần, chung đến riêng, bóng gió đến cụ thể, ngoài vào trong, … Ví dụ: “Anh đi anh nhớ quê nhà/ Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương/ Nhớ ai dãi gió, dầm sương/ Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao”. Kiểu kết cấu này thường xuất hiện trong các bài ca dao tỏ tình. Đây là lối nói xa xôi, bóng gió đến cụ thể.

- Kết cấu đối lập: Trong một bài ca dao tác giả nêu lên 2 yếu tố A và B nhưng 2 yếu tố này lại đối lập nhau nhằm thể hiện nội dung muốn nói. Kiểu kết cấu này rất phổ biến trong ca dao Việt Nam. Ví dụ:

“Giàu sang nhiều kẻ tới nhà, Khó khăn nên nỗi ruột rà xa nhau”.

- Kết cấu đối đáp:

Trong những bài ca dao có hình thức hỏi-đáp. Đó là những lời nhân vật trữ tình đặt câu hỏi rồi lại tự mình trả lời. Những hình thức hỏi-đáp ấy nằm trong một chỉnh thể ca dao. Ví dụ “Bây giờ mận mới hỏi đào…”.

- Kết cấu láy: Trong những bài ca dao có yếu tố được lặp đi, lặp lại nhiều lần để tập trung vào một ý nào đó. Ví dụ: “Chiều chiều em đứng em trông, Trông non non ngất, trông sông sông dài, Trông mây mây kéo ngang trời, Trông trăng trăng khuyết, trông người người xa”.

- Kết cấu liệt kê:

Kiểu này thường xuất hiện trong những bài ca dao có tính chất miêu tả, tự sự một vấn đề nào đó. Khi biểu cảm người ta ít sử dụng kiểu liệt kê. Ví dụ: “Anh đã nói với em/ Như rựa chém xuống đá/ Như rạ chém xuống đất/ Như mật rót vào tai/ Bây chừ anh đã nghe ai, Bỏ em giữa chốn thuyền chài khổ chưa!”

- Kết cấu lửng:

Bài ca dao không nói hết ý mà bỏ lửng giữa chừng. Thông thường một cặp lục – bát, có hai dòng thơ nhưng ở đây tác giả dân gian chỉ dùng một câu lục mà không hát tiếp câu bát. Ví dụ, “Đường vô xứ Nghệ quanh quanh/ Non xanh, nước biếc như tranh họa đồ/ Ai vô xứ Nghệ thì vô…”.

1.1.2.3 Không gian nghệ thuật ca dao

Không gian nghệ thuật vừa là một nội dung được phản ánh trong ca dao vừa là một phương tiện nghệ thuật tham gia vào tổ chức văn bản ca dao. Không gian nghệ thuật trong ca dao có những lớp không gian như sau:

- Không gian hiện thực khách quan: là những hình ảnh của cảnh vật quen thuộc, gần gũi mang đặc trưng của mọi làng quê Việt Nam. Đó là cổng làng, ngôi đình, cây đa, bến nước, lũy tre, ghe thuyền, sông, núi, thác ghềnh, … “Buồn trông co nhện chăng tơ/ Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai/…” hay bài “Trèo lên cây bưởi hái hoa/ Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân/ …”

- Không gian tâm lí: là không gian được tác giả dân gian cảm nhận bằng tâm trạng của mình. Hay nói cách khác là không gian được đo, đếm bằng tâm trạng của tác giả. “Ước gì sông rộng một gang/ Bắc cầu giải yếm cho nàng sang chơi”.

- Không gian địa lí – tự hào: là địa danh, tên sông, tên đất, … xuất hiện trong ca dao nhưng không chỉ nói dến địa danh mà boa giờ cũng gắn kết địa danh với một đặc điểm nổi bật nào đó của địa danh ấy

nhằm giới thiệu cảnh quan, sản vật, con người, … của nơi ấy hay những bất trắc nhằm cảnh báo. “Dù ai đi ngược về xuôi/ Nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng ba”.

- Không gian thề nguyền: Khi thề nguyền trong ca dao thường dùng những yếu tố hiện thực khách quan như: trời, núi, sông, biển, … bởi vì, đây là những hiện tượng khách quan dường như vĩnh hằng, bất biến, có tính bền vững, nổi bật, khó thay đổi. “Bao giờ cạn lạch Đồng Nai/ Nát chùa Thiên Mụ mới sai lời nguyền” hay “Bao giờ núi Ngự hết cây/ Sông Hương hết nước đó với đây hết tình”: …

- Không gian đối lập: Khi trong một bài ca dao có hai yếu tố không gian mang những đặc điểm trái ngược nhau được đặt bên cạnh nhau nhằm thể hiện nội dung đối kháng hoặc trắc trở, éo le trong quan hệ tình cảm đôi lứa.

+ “Gần nhà xa ngõ nên khó đi thăm/ Hẹn sang mười bốn, sao rằm chưa sang”

+ “Tìm en như thể tìm chim/ Chim bay bể Bắc anh tìm bể Nam”

- Không gian xã hội: là không gian dung chứa những quan hệ của nhân vật trữ tình trong xã hội. Chiều không gian nghệ thuật được xác định bởi:

+ Điểm nhìn của chủ thể. Hướng nhìn của chủ thể thường thông qua những từ ngữ chỉ phương hướng hoặc thông qua việc miêu tả vật thể được nhìn, ngắm,….

+ Khi tác giả dân gian mượn không gian mượn không gian rộng lớn dể miêu tả thì bao giờ những bài ca dao ấy cũng đầy bất trắc, éo le.

+ Kho sử dụng không gian cao rộng mà tươi sáng thì đó là những bài ca vui tươi và ngược lại.

1.1.2.4 Thời gian nghệ thuật của ca dao

- Thời gian nghệ thuật trong ca dao phần lớn là thời gian hiện tại – thời gian diễn xướng. Trong ca dao, có hai bộ phận có và không có từ biểu thị thời gian:

+ Bộ phận ca dao có từ biểu thị thời gian: trong bộ phận này thường xuất hiện một số trạng ngữ chỉ thời gian hiện tại như: Hôm qua, hôm nay, bây giờ, sáng, trưa, chiều, một mai, khi xưa, hôm qua, đêm qua, … “Bây giờ ta gặp nhau đây/ Như con cá cạn gặp ngày trời mưa”, “Chiều chiều ra đứng ngõ sau/

Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều”, “Hôm qua tát nước đầu đình/ Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen,

…”

+ Bộ phận ca dao không có từ biểu thị thời gian: “Đi mô cho thiếp theo cùng/ Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam”. Thời gian diễn xướng bài ca dao chính là thời gian nghệ thuật, là thời gian hiện tại.

- Thời gian tâm lí trong ca dao: Là thời gian được đo đếm, cảm nhận bằng chính tâm trạng của tác giả.

“Xa mình, ông trời nắng tôi nói mưa/ Canh ba tôi nói sáng, trời trưa tôi nói chiều”; “Tìm em đã tám hôm nay/ Hôm qua là tám, hôm nay là mười”.

- Thời gian đối lập: Để tạo sự đối lập về thời gian, tác giả thường dùng các cặp từ: Khi xưa - bây giờ, khi đi - khi về, nào khi - bây giờ, xưa kia - bây giờ, … “Khi xưa một hẹn thì nên/ Bây giờ chín hẹn anh quên cả mười”.

- Thời gian thề nguyền: Những con số trên trong ca dao không phải là những con số chính xác mà là những đại lượng thời gian có tính ước lệ.

+ Công thức miêu tả thời gian “Trăm năm”: “Trăm năm dẫu lỗi hẹn hò/ Cây đa bến cũ con đò vẫn đưa”, …

+ Công thức miêu tả thời gian “đêm khuya”: Những bài ca dao bắt đầu bằng “đêm khuya”, “đêm năm canh”, “đêm nằm, “đêm qua”,… nhân vật trữ tình ở trong tâm trạng sầu muộn, hoàn cảnh cô đơn, trong ngóng, chờ đợi, buồn bã: “Đó có đôi ăn rồi lại ngủ, Đây có một mình thức đủ năm canh”.

+ Công thức miêu tả thời gian “đêm trăng thanh”:

Trăng thanh, trăng tỏ, trăng tròn, trăng rằm,… là những hình ảnh chỉ thời khắc đêm mới đến, trăng mới lên. Kết hợp với nó là không gian thơ mộng, rạng rỡ, thanh mát, tất cả gợi cho con người bao điều mơ ước cần bộc bạch, giải bày, ngỏ ý trao lời với nhau: “- Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng/ Tre non nửa lá đan sàng nên chăng/ - Đan sàng thiếp cũng xin vâng/ Tre vừa đủ lá non chăng hỡi chàng”.

+ Công thức miêu tả thời gian “chiều chiều”: “Chiều chiều ra đứng ngõ sau/ Trông về que mẹ ruột đau chín chiều”; Chiều chiều mây phủ Sơn Trà/ Lòng ta thương bạn nước mắt và lộn cơm”.

1.1.2.5 Mô típ của ca dao - Em như, Thân em như…

- Chiều chiều,…

- Thân cò,…

1.1.2.6 Ngôn ngữ và thể thơ ca dao

- Ngôn ngữ ca dao là ngôn ngữ thuần Việt, đời thường nên nó có tính chất bình dân, mộc mạc, giản dị, dễ hiểu: “Thò tay mà ngắt ngọn ngò/ Thương em đứt ruột giả đò làm ngơ”.

- Ngôn ngữ ca dao là một thứ ngôn ngữ bóng bẩy, mượt mà, nhuần nhụy trong việc diễn đạt tình và ý.

“Gánh cực mà đổ lên non/ Còng lưng mà chạy cực còn chạy theo”, hay “Lấy chồng từ thủa hồi thu/ Mắc chi ra bến ngồi ru nỗi buồn”,…

- Lối so sánh ví von, giàu hình ảnh.

- Thể thơ: Ca dao sử dụng nhiều thể thơ khác nhau, thể lục bát rất phổ biến.

1.1.3 Thi pháp truyện cổ tích 1.1.3.1 Cốt truyện cổ tích

- Cốt truyện là hệ thống những biến cố, hành động, những sự kiện,…tạo thành những bộ phận quan trọng của câu chuyện nhằm chuyển tải nội dung của câu chuyện. Những biến cố đó là những sự kiện bất thường được chia làm 6 phần:

Giới thiệu: là phần mở đầu ở đây chưa có biến cố, xung đột xảy ra

Phần thắt nút: Thường là một biến cố quan trọng. Đây là nút mở đầu cho chuỗi biến cố sẽ xảy ra ở phần sau

Phần phát triển: là phần trung tâm của câu chuyện. Phần này là chuỗi biến cố xảy ra theo trục thời gian, các biến cố có mức độ tăng dần đến một biến cố căng thẳng, quyết liệt nhất.

Phần đỉnh điểm: (còn gọi là cao trào) Đây là phần giải quyết mâu thuẫn, xung đột.

Phần kết thúc: (còn gọi là phần mở nút) Đây là phần giải quyết số phận của nhân vật.

Phần vĩ thanh: là phần bài học được rút ra từ câu chuyện.

- Truyện cổ tích cũng có đầy đủ 6 phần cơ bản của cốt truyện như đã nêu trên. Truyện cổ tích thường ngắn gọn, đơn giản, ít tình tiết, biến cố. Vì vậy, cốt truyện cổ tích thường đơn giản, sơ lược, khuôn mẫu.

Cốt truyện cổ tích thường xây dựng trên cơ sở cuộc đời của nhân vật Chính diện. Những xung đột tạo nên biến cố trong cốt truyện cổ tích có thể xảy ra trong phạm vi gia đình, xã hội nhưng cũng có khi chuyển từ phạm vi gia đình ra ngoài xã hội. Những biến cố ấy có mức độ đơn giản đến phức tạp, có khi chuyến sang gây cấn, quyết liệt.

1.1.3.2 Thời gian nghệ thuật truyện cổ tích

- Thời gian nghệ thuật truyện cổ tích là lớp thời gian quá khứ có tính chất phím chỉ thể hiện rõ nhất là cụm từ mở đầu truyện: “Ngày xưa, …” hay “Ngày xửa, ngày xưa,…..”. Điều này khác với truyền thuyết là thời gian được xác định cụ thể. Đó là thời gian của lịch sử.

- Thời gian trong truyện cổ tích có thể nhanh hoặc chậm tùy theo nhịp điệu trần thuật về những biến cố đã được lựa chọ, xắp xếp của người kể chuyện. do vậy không có sự quy đảo về thời gian. Nhân vật được giới thiệu là được tác giả dân gian đạt vào trục đối kháng, mâu thuẫn và cứ thế trôi theo dòng sự kiện ấy, không cảm nhận thời gian theo cảm xúc chủ quan. Vì thế, nhân vật của truyện cổ tích khi đứng trước những biến cố có những hành động cụ thể, không quay lại để hồi tưởng, băn khoăn, không ưu tư, suy nghĩ,… không có biểu hiện của tâm trạng. Ví dụ trong truyện “Tấm Cám”, cô Tấm có rất nhiều lần đã khóc. Nhưng việc “khóc” của cô Tấm không phải nằm trong một tâm trạng gì cả mà đó chỉ là một hành động “khóc” như mọi hành động khác trong truyện mà thôi. Cũng chính vì thế mà trong truyện cổ tích không bao giờ có thời gian “Tâm lí” (tâm trạng). Và khi câu chuyện kết thúc là khi hành động đối kháng được giải quyết./.

1.1.3.3 Không gian nghệ thuật truyện cổ tích

- Không gian nghệ thuật truyện Cổ tích là không gian định lượng, không xác định, mơ hồ và phiếm chỉ: “tại một làng nọ”, “vùng đất kia”, “nhà kia”, … Không gian này làm cho truyện cổ tích gần gũi, thân thuộc với người nghe, làm cho người nghe dễ đồng cảm với nhân vật bất hạnh trong câu chuyện.

- Truyện cổ tích còn có một lớp không gian nữa đó là lớp không gian thần kì , kì ảo – không gian không cản trở. Không gian này tạo sự hấp dẫn, li kì, cuốn hút.

- Trong truyện cổ tích hai lớp không gian hiện thực và không gian thần kì đan xen lẫn nhau. Nhân vật cổ tích đi về giữa hai lớp không gian ấy, giữa hai cõi mơ và thực. nó không hoàn toàn là hiện thực và cũng không hoàn toàn là mơ. Chuyện của cổ tích luôn chuyển hóa linh hoạt giữa mơ và thực, thực và mơ.

Từ những yếu tố không gian nghệ thuật cổ tích đã nêu, ta có thể khẳng định: không gian nghệ thuật cổ tích không có không gian tâm lí (tâm trạng).

1.1.3.4 Nhân vật truyện cổ tích

- Nhân vật trong truyện cổ tích rất đa dạng, phong phú và sinh động. Nó phản ánh hầu như toàn bộ mọi hạng người, mọi loại nghề nghiệp trong xã hội. Nhân vật cổ tích còn là nhân vật của các quan hệ gia đình, thân tộc, xã hội. Nhân vật xuất hiện trong cổ tích bao giờ cũng nêu lên những mâu thuẫn trong quan hệ xã hội, quan hệ gia đình,…

- Nhân vật trong truyện cổ tích được phân tuyến và chia làm hai tuyến nhân vật chính đó là: tuyến nhân vật chính diện và tuyến nhân vật phản diện. hai tuyến nhân vật này tiêu biểu cho hai lực lượng chính trị đối lập nhau trong xã hội đó là: thống trị - bị trị; Thiện- Ác; Cao cả - Thấp hèn; Tốt – Xấu,…

- Nhân vật trong truyện cổ tích còn là nhân vật cực tuyến. Nhân vật cổ tích thường được đẩy đến cực điểm của một tính chất nào đó. Thường thì rất tốt, rất thiện hoặc rất ác, rất xấu,… Việc xây dựng nhân vật cực tuyến còn được xem là một thủ pháp nghệ thuật. đó là nhân vật được phóng đại, hư cấu theo tình cảm yêu hay ghét mãnh liệt và chủ quan của tác giả dân gian.

- Nhân vật trong truyện cổ tích còn là loại nhân vật chức năng. Loại nhân vật này là kiểu nhân vật phổ biến của cổ tích thần kì. Đó là những nhân vật có đặc điểm phẩm chất cố định không thay đổi từ đầu cho đến cuối truyện, không có đời sống nội tâm, sự tồn tại và hành động của nhân vật chỉ nhằm thực hiện một số chức năng nhất định nào đó.

- Nhân vật trong truyện cổ tích nhất là cổ tích thần kì, con người gần như không già đi, không ốm đau, không thất bại trước một thế lực phản diện nào,… thậm chí họ còn có thể biến hóa vào thế giới của muôn loài.

1.1.4 Thi pháp truyền thuyết

1.1.4.1 Hiện thực và tưởng tượng trong truyền thuyết

- Hiện thực trong truyền thuyết là hiện thực xã hội loài người nhưng được nhìn bó hẹp trong phạm vi từ bộ tộc cho đến bộ lạc rồi tiến dần lên xã hội có nhà nước chuyên chế. Bộ phận truyền thuyết nói về sự xây dựng quốc gia phong kiến, sự tranh chấp giữa các bộ lạc và sự xâm lấn giữa các quốc gia là bộ phận có yếu tố hiện thực cao hơn, yếu tố hoang đườn[g huyền thoại giảm đi rõ rệt. Bộ phận truyền thuyết này thường ca ngợi công tích của vị lãnh tụ bộ lạc và những người anh hùng chiến trận. Yếu tố thần thánh trong nhân vật anh hùng là sự suy tôn cá nhân có tài có công với cộng đồng.

- Truyền thuyết lịch sử là sự tái tạo lịch sử trên cơ sở cái cốt lõi lịch sử rồi tiến hành sắp xếp lại để dựng lên tầm vóc của sự kiện và nhân vật, đưa thêm vào đó những gì mà tâm tình, thái độ của nhân dân đối với đối tượng phản ánh.

- Không những thế, truyền thuyết dân gian còn gắn vào nhân vật những yếu tố thần kỳ lấp lánh…

Những yếu tố ấy không có thực ngoài đời nhưng có thực trong tâm tình của dân gian đối với lịch sử.

1.1.4.2 Cốt truyện truyền thuyết

- Nếu thần thoại, cốt truyện chỉ xoay quanh một nhân vật thì cốt truyện truyền thuyết lại xoay quanh nhiều nhân vật, thậm chí có truyện có hai hệ thống nhân vật đối lập nhau như truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy: Một bên là An Dương Vương, Mỵ Châu, thần Kim Quy; một bên là Triệu Đà, Trọng Thủy, con tinh Gà Trắng. Như vậy cốt truyện của truyền thuyết phức tạp, đa dạng hơn thần thoại.

- Cốt truyện truyền thuyết thường theo ba đoạn đời nhân vật chính: Đoạn đời thứ nhất kể về hoàn cảnh và thân thế của nhân vật chính bao gồm một số mô típ. Mô típ sự thụ thai kỳ lạ của mẹ người anh hùng do quan hệ bí ẩn, bất thường với một hiện tượng, một sự vật nào đó. Mô típ về tướng lạ có từ khi lọt lòng như gan bàn chân có ba sợi lông trắng, có nốt ruồi đỏ trong vành tai, trên trán có ba đường chỉ ngang, tay dài quá gối,…Mô típ về sự biểu hiện khác thường, hơn người khi còn trẻ như: nâng cối đá lên cao, tay không giét cọp dữ, nhảy cao và xa khác thường, có phép lạ, không nói không cười, có chí lớn… Mô típ về hoàn cảnh xã hội: loạn lạc liên miên, giặc ngoại xâm sắp xâm lược hoặc đang thống trị hà khắc, triều đình mục nát, dân chúng lầm than… Mô típ xuất thân của nhân vật chính hoặc là con nhà nghèo đã qua thử thách cuộc đời hoặc là con nhà nòi có truyền thống thượng võ, yêu nước thương nòi, gia đình mang mối thù với giặc ngoại xâm… Đoạn đời thứ hai là quá trình hoạt động của nhân vật chính. Phần này kể lại hành động, chiến công, kì tích của nhân vật chính với nhiều tình huống thăng trầm, gian nguy, thất bại rồi thành công. Đoạn đời thứ ba là sự kết thúc của nhân vật chính. Có nhiều mô típ về giai đoạn này như mô típ về sự hoá thân, thăng hoa của nhân vật (Thánh Gióng bay lên trời, An Dương Vương theo rùa vàng xuống biển),..

1.1.4.3 Đặc trưng nhân vật truyền thuyết

- Nhân vật chính của truyền thuyết chủ yếu là người và một số nhân vật là bán thần. Ngoài nhân vật chính còn có những nhân vật phụ. Nhân vật phụ rất đa dạng, có nhân vật là người, nhân vật là thần.

- Về nhân vật, rất nhiều là anh hùng văn hoá, nhân vật anh hùng lịch sử: Nhân vật là con người như Hùng Vương, Thánh Gióng, An Dương Vương, Bà Trưng, Bà Triệu, Lê Lợi…Trong số nhân vật là con người, chỉ có Thánh Gióng mang đậm màu sắc huyền thoại, còn lại các nhân vật khác đều là nhân vật có thật trong lịch sử. Nhân vật huyền thoại Thánh Gióng mang trong mình sức mạnh thần linh, còn nhân vật lịch sử bản thân không mang sức mạnh thần linh nhưng được thần linh trợ giúp như An Dương Vương, Lê Lợi…

Một phần của tài liệu Lí luận văn học và các đề (Trang 65 - 69)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(181 trang)
w