Tư tưởng nhân nghĩa trong thơ văn Nguyễn Trãi

Một phần của tài liệu Lí luận văn học và các đề (Trang 90 - 94)

1. VĂN HỌC DÂN GIAN

2.5 Tư tưởng nhân nghĩa trong thơ văn Nguyễn Trãi

Trong lịch sử dân tộc, Nguyễn Trãi (1380 – 1442) là một trí thức lớn, một trong những lãnh tụ kiệt xuất của phong trào khởi nghĩa Lam Sơn. Ông đã có những đóng góp to lớn trong việc hoạch định đường lối, chính sách, chiến lược, sách lược chống quân Minh xâm lược, giải phóng dân tộc. Hơn thế, Nguyễn Trãi còn là một nhà tư tưởng lớn của dân tộc Việt Nam ở thế kỷ XV. Ông đã có công tổng kết, khái quát những vấn đề có tính quy luật của sự nghiệp dựng nước và giữ nước trong điều kiện lịch sử – cụ thể của Việt Nam; từ đó, nâng tư duy của người Việt Nam lên một tầm cao mới. Thông qua các tác phẩm chủ yếu và tiêu biểu của ông, như Quân trung từ mệnh tập, Bình Ngô đại cáo, Ức Trai thi tập, Quốc âm thi tập, Dư địa chí, chúng ta thấy tư tưởng Nguyễn Trãi đã phản ánh nhiều mặt của đời sống nước ta đương thời:

về chính trị, quân sự, ngoại giao, văn hoá; về vai trò của nhân dân, về lý tưởng xã hội, v.v.. Những tư tưởng ấy của Nguyễn Trãi không chỉ có giá trị về mặt lý luận và thực tiễn đối với xã hội đương thời, mà còn có ảnh hưởng sâu sắc trong toàn bộ lịch sử tư tưởng Việt Nam nói chung.

Suốt nhiều trăm năm qua, ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu về tư tưởng Nguyễn Trãi trên nhiều phương diện chính trị, văn hoá, văn học, nghệ thuật,… Tuy nhiên, việc nghiên cứu tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi vẫn còn là khá mới mẻ. Trong bài viết này, chúng tôi muốn đề cập đến tư tưởng nhân nghĩa – một triết lý sâu sắc, cốt lõi, bao trùm toàn bộ cuộc đời và hoạt động cống hiến của nhà tư tưởng kiệt xuất này.

Đối với Nguyễn Trãi, nhân nghĩa là một tư tưởng, hơn nữa, là một phương pháp luận hết sức quan trọng. Trong toàn bộ tác phẩm của Nguyễn Trãi mà chúng ta còn lưu giữ được thì chữ “nhân” đã được nhắc đến 59 lần và chữ “nghĩa” – 81 lần. Tổng cộng hai chữ “nhân”, “nghĩa” được ông sử dụng đến 140 lần. Qua đó, có thể thấy, một trong những quan điểm nền tảng trong hệ thống tư tưởng của Nguyễn Trãi là

“nhân nghĩa”. Tất nhiên, ở đây cần nhấn mạnh rằng tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi, mặc dù kế thừa tư tưởng nhân nghĩa của Khổng – Mạnh, nhưng cũng đã có sự khác biệt rất lớn so với tư tưởng Khổng – Mạnh – nó mang ý nghĩa tích cực, mở rộng và nâng cao hơn.

Nhân nghĩa, trong quan điểm của Nguyễn Trãi, trước hết được gắn chặt với tư tưởng vì dân an dân:

“việc nhân nghĩa cốt ở an dân”, “dùng quân nhân nghĩa cứu dân khổ, đánh kẻ có tội”, “đại đức hiếu sinh, thần vũ bất sát, đem quân nhân nghĩa đi đánh dẹp cốt để an dân”. Như vậy, nhân nghĩa chính là yêu nước, thương dân, là đánh giặc cứu nước, cứu dân. Nguyễn Trãi đã coi “an dân” là mục đích của nhân nghĩa và

“trừ bạo” là đối tượng, là phương tiện của nhân nghĩa. Vì vậy, người nhân nghĩa phải lo trừ “bạo”, tức lo diệt quân cướp nước. Người nhân nghĩa phải đấu tranh sao cho “hợp trời, thuận người”, nên có thể lấy

“yếu chống mạnh”, lấy “ít địch nhiều”, lấy “đại nghĩa thắng hung tàn”, lấy “chí nhân thay cường bạo”.

Nhân nghĩa là cần phải đấu tranh để cho dân tộc Việt Nam tồn tại và phát triển. Nhân nghĩa giống như là một phép lạ, làm cho “càn khôn đã bĩ mà lại thái, trời trăng đã mờ mà lại trong”. Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi , vì vậy, mang đậm sắc thái của tinh thần yêu nước truyền thống của người Việt Nam. Ở đây, có thể thấy rõ tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi đã vượt lên trên tư tưởng nhân nghĩa của Khổng – Mạnh và có sự sáng tạo, phát triển trong điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Như vậy, với Nguyễn Trãi, tư tưởng nhân nghĩa gắn kết biện chứng với tư tưởng thuận dân, an dân là một yêu cầu cao, một hoài bão lớn, một mục đích chiến lược cần phải đạt tới. Trước Nguyễn Trãi hàng

nghìn năm, nhiều nhà tư tưởng trong lịch sử triết học Trung Quốc như Mạnh Tử… đã từng nêu rõ vai trò quan trọng của dân, sức mạnh của dân, tai mắt và trí óc sáng suốt của dân. Ở Việt Nam, tư tưởng an dân đã trở thành một đạo lý vào thời Lý – Trần. Trong thời kỳ đó, những tư tưởng về thân dân, khoan dân, huệ dân, v.v. đã xuất hiện và đã góp phần tích cực vào việc làm cho thời đại Lý – Trần hưng thịnh. Đến Nguyễn Trãi, quan điểm về an dân đã được ông tiếp thu, kế thừa, mở rộng và nâng cao trong suốt thời kỳ hoạt động của mình. An dân có nghĩa là chấm dứt, là loại trừ những hành động tàn ác, bạo ngược đối với dân. An dân còn là sự bảo đảm cho nhân dân có được một cuộc sống yên bình. An dân là không được nhũng nhiễu “phiền hà” dân. Với tư tưởng an dân, Nguyễn Trãi đã đưa ra một chân lý: phải giương cao ngọn cờ “nhân nghĩa, an dân”, phải cố kết lòng dân làm sức mạnh của nước, làm thế nước. Ông chủ trương cứu nước bằng sức mạnh của dân, muốn lấy lại được nước phải biết lấy sức dân mà kháng chiến.

Đó là một chiến lược bất khả biến, có tính trường tồn, một quy luật dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.

Có một khía cạnh rất đáng quý trong tư tưởng về dân của Nguyễn Trãi, đó là tư tưởng trọng dân, biết ơn dân. “Dân chúng” vẫn luôn được ông nhắc tới và chú ý đề cao ngay cả sau khi kháng chiến đã thành công, đất nước đã giành được độc lập và bước vào xây dựng cuộc sống mới. Nguyễn Trãi nhận thức được rằng lực lượng làm ra thóc gạo, cơm ăn, áo mặc là do ở nhân dân; rằng điện ngọc cung vàng của vua chúa cũng đều do mồ hôi nước mắt của nhân dân mà có: “thường nghĩ quy mô lớn lao, lộng lẫy đều là sức lao khổ của quân dân”. Chính xuất phát từ suy nghĩ như vậy, nên khi đã làm quan trong triều đình, được hưởng lộc của vua ban, Nguyễn Trãi đã nghĩ ngay đến nhân dân, những người dãi nắng dầm mưa, những người lao động cực nhọc. Ông viết: “Ăn lộc đền ơn kẻ cấy cày”. Trong suốt cuộc đời của mình, Nguyễn Trãi đã có cuộc sống gần gũi, gắn bó với nhân dân, hoà mình vào nhân dân. Do đó, ông đã nhận thấy rất rõ những đức tính cao quý của nhân dân, hiểu được nguyện vọng tha thiết của nhân dân, thấy rõ được sức mạnh vĩ đại của nhân dân trong sáng tạo lịch sử.

Đặc biệt, tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi còn biểu hiện ở lòng thương người, ở sự khoan dung độ lượng, thậm chí đối với cả kẻ thù. Có thể nói, đây là nét độc đáo riêng có trong tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi. Chiến lược “tâm công” Nguyễn Trãi đã thực hiện trong kháng chiến chống Minh chính là sự thể hiện nét độc đáo riêng có ấy. “Tâm công” – đánh vào lòng người – sách lược đã được Nguyễn Trãi dày công suy xét, thu tóm cái tinh hoa trong các sách về binh pháp xưa và vận dụng sáng tạo trong thực tiễn đấu tranh giải phóng dân tộc ở Việt Nam đương thời. “Tâm công” tức là dùng lý lẽ tác động vào tinh thần, vào ý thức kẻ địch, nói rõ điều hơn lẽ thiệt, thuyết phục, cảm hoá chúng, từ đó đập tan tinh thần chiến đấu của chúng, làm cho chúng nhụt ý chí xâm lược, rã rời hàng ngũ, tiến tới chấp nhận con đường hoà giải, rút quân về nước. Tất nhiên, chiến lược “tâm công” ấy luôn được nghĩa quân Lam Sơn kết hợp chiến đấu bằng vũ khí, quân sự, ngoại giao; và thực tiễn lịch sử đã chứng tỏ rằng, chiến lược đó là hoàn toàn đúng đắn.

Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi còn nổi bật ở quan điểm về cách đối xử với kẻ thù khi chúng đã bại trận, đầu hàng. Nó thể hiện đức “hiếu sinh”, sự “khoan dung” của dân tộc Việt Nam nói chung, cũng như tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi nói riêng. Nguyễn Trãi cũng như Lê Lợi, trong chính sách đối với hàng binh, đã chủ trương không giết để hả giận tức thời, mà còn tạo điều kiện cần thiết cho chúng rút về nước một cách an toàn và không mất thể diện. Trong thư gửi Vương Thông, ông viết: “Cầu đường sửa xong, thuyền xe sắm đủ, hai đường thuỷ lục, tuỳ theo ý muốn, đưa quân ra cõi, yên ổn muôn phần”. Theo Nguyễn Trãi: “Trả thù báo oán là thường tình của mọi người; mà không thích giết người là bản tâm của người nhân”. Để dân yên vui, nước hoà bình, đó là khát vọng cháy bỏng của Nguyễn Trãi. Bởi thế, ông nói: “Dùng binh cốt lấy bảo toàn cả nước làm trên hết. Để cho bọn Vương Thông trở về nói với vua Minh trả lại đất đai cho ta, đó là điều ta cần không gì hơn thế nữa”. “Tuyệt mối chiến tranh”, “bảo toàn cả nước là trên hết” đã thể hiện lập trường chính trị nhân nghĩa của Nguyễn Trãi. Có thể nói, đó là một tinh thần nhân đạo cao cả, một triết lý nhân sinh sâu sắc.

Chiến lược đánh giặc cứu nước, cứu dân, “mở nền thái bình muôn thuở” bằng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi đã có ý nghĩa rất to lớn cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn đấu tranh cứu nước và dựng nước của dân tộc ta. Nguyễn Trãi và Lê Lợi, cùng với quân dân Đại Việt đã kiên quyết thi hành một đường lối kết thúc chiến tranh rất sáng tạo, rất nhân nghĩa: “nghĩ kế nước nhà trường cửu, tha cho mười vạn hùng binh.

Gây lại hoà hảo cho hai nước, dập tắt chiến tranh cho muôn đời”. Đó thật sự là tư tưởng lớn của một con người có tài “kinh bang tế thế” và là một tư tưởng có sức sống “vang đến muôn đời”.

Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi còn tiến xa hơn một bước nữa, đó là ý tưởng xây dựng một đất nước thái bình, bên trên vua thánh tôi hiền, bên dưới không còn tiếng giận oán sầu: “thánh tâm dục dữ dân hưu túc, văn trị chung tu chí thái bình” (lòng vua chỉ muốn dân yên nghỉ, xếp võ theo văn, nước trị

bình) ; “vua Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu Thuấn. Dường ấy ta đà phỉ sở nguyền”. Như vậy, theo Nguyễn Trãi, một đất nước thái bình sẽ là đất nước có cuộc sống phồn vinh, tươi đẹp; đồng thời, có sự hoà thuận, yên vui với các nước khác. Có thể nói, lý tưởng chính trị – xã hội của Nguyễn Trãi phù hợp với nguyện vọng, ước mơ của dân tộc, nhân dân; đạt tới tầm cao nhất và rộng nhất trong điều kiện lịch sử lúc bấy giờ cho phép. Quan niệm của Nguyễn Trãi, vì thế, là một quan niệm tích cực và đầy tinh thần nhân bản.

Tầm chiến lược, nhìn xa trông rộng và khoa học trong tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi còn được thể hiện ở tư tưởng cầu người hiền tài giúp nước, giúp dân. Nguyễn Trãi quan niệm rằng, nhân tố quyết định sự nghiệp xây dựng đất nước thái bình, thịnh trị là nhân dân. Làm thế nào để phát huy hết được những yếu tố tích cực của quần chúng nhân dân? Trong sức mạnh của nhân dân thì yếu tố nào là động lực mạnh mẽ nhất? Nguyễn Trãi đã chỉ ra, đó là yếu tố nhân tài. Trong Chiếu cầu hiền tài, ông cho rằng:

“người tài ở đời vốn không ít”, nên triều đình phải cầu hiền bằng nhiều đường, nhiều cách như học hành thi cử; hoặc tiến cử “văn võ đại thần, công hầu, đại phu từ tam phẩm trở lên, mỗi người đều cử một người, hoặc ở triều đình, hoặc ở thôn dã, bất cứ là đã xuất sĩ hay chưa, nếu có tài văn võ, có thể trị dân coi quân, thì… tùy tài trao chức”; hoặc ứng cử “người có tài ở hàng kinh luân bị khuất ở hàng quân nhỏ”, “người hào kiệt náu ở nơi đồng nội, lẫn ở hàng binh lính” phải tự mình đề đạt để gánh vác việc dân, việc nước.

Như vậy, rõ ràng rằng, Nguyễn Trãi đã rất chú trọng đến việc đào tạo, bồi dưỡng, phát triển và sử dụng nhân tài vào việc trị quốc, an dân. Có thể nói, chiến lược con người của Nguyễn Trãi, cho đến nay, vẫn mang đậm tính thời sự đối với chúng ta.

Tóm lại, tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi là nội dung cốt lõi trong toàn bộ hệ thống tư tưởng triết học – chính trị của ông. Tư tưởng ấy có phạm vi rộng lớn, vượt ra ngoài đường lối chính trị thông thường, đạt tới mức độ khái quát, trở thành nền tảng, cơ sở của đường lối và chuẩn mực của quan hệ chính trị, là nguyên tắc trong việc quản lý, lãnh đạo quốc gia.

Không chỉ có ý nghĩa to lớn trong thời đại mình, tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi, một mặt, tạo nên một dấu ấn đặc sắc trong lịch sử tư tưởng Việt Nam; mặt khác, còn có ảnh hưởng sâu rộng đến thực tiễn chính trị của đất nước trong những thời đại sau này.

2.6 Ngòi bút nhân đạo của Nguyễn Du

Tác phẩm chính của Nguyễn Du ngoài Truyện Kiều - kiệt tác đỉnh cao của văn học Việt Nam - là 250 bài thơ chữ Hán. Bên cạnh đó các tác phẩm Chiêu hồn thập loại chúng sinh, Sinh tế Trường Lưu nhị nữ văn (Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu) cũng đều là những áng văn chương đặc sắc đậm đà chủ nghĩa nhân đạo. Mỗi tác phẩm văn chương đích thực là một giá trị độc đáo, bởi vậy việc khái quát những đặc điểm chung nào đó là công việc có ý nghĩa tương đối, đó là chưa nói đến khả năng (không khó xảy ra) khái quát sai lệch. Đối với chủ nghĩa nhân đạo của văn chương Nguyễn Du mà chỉ nói đến một đặc điểm nào đó, thực sự là việc bất đắc dĩ.

Một đặc điểm nổi bật và cũng là một trong những cống hiến của thi hào, là sự quan tâm đến thân phận của đông đảo chúng sinh với tinh thần thực tiễn.

Thuộc tính cơ bản của chủ nghĩa nhân đạo (và các phạm trù gần gũi như chủ nghĩa nhân bản, chủ nghĩa nhân văn) là xuất phát từ con người và vì con người. Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân mà các tôn giáo, các thời đại, các giai cấp, các dân tộc và các cá nhân nhận thức về chúng và hành động vì chúng không giống nhau. Bởi vậy, đi với các khái niệm này bao giờ cũng có các định ngữ để cá biệt hóa. Chủ nghĩa nhân đạo trong văn chương Nguyễn Du cần được nhìn nhận trong các điều kiện lịch sử, xã hội và văn hóa của Việt Nam thế kỷ XVIII. Đương nhiên là góp phần làm nên khí hậu nhân văn của thời đại Nguyễn Du hay bất cứ thời đại nào khác còn có di sản của các thời đại trước đó để lại, vì nói như Ăngghen, các thế hệ đã qua đè nặng lên vai những thế hệ tiếp nối.

Có thể khẳng định trong suốt tiến trình văn học viết Việt Nam hơn mười một thế kỷ không có tác giả nào sánh được với Nguyễn Du ở việc viết về những nỗi đau khổ của con người. Nguyễn Du viết nhiều nhất, sâu sắc nhất về những nỗi khổ đau vật chất và tinh thần của nhiều loại người, không kể cùng dòng giống Lạc Hồng hay ngoại tộc. Trên “trái đất ba phần tư nước mắt” (Xuân Diệu) này, thời nào nơi đâu cũng đầy rẫy sự khổ. Thuộc tính của nghệ sĩ đích thực là luôn sẵn “mối từ tâm” (Truyện Kiều) nên nhạy cảm trước nỗi khổ đau của đồng loại. Tuy vậy, không phải ở bất cứ thời gian và không gian nào, nỗi khổ của kiếp người cũng trở thành một chủ đề trọng yếu của văn chương, thậm chí còn có thể biến thành tiếng nói lạc lõng, tuy xuất phát từ căn nguyên chính đáng. Nhiều bài trong tập thơ Cưu đài của Nguyễn Húc (nhà thơ Việt Nam thế kỷ XV) bộc lộ nỗi thương hoa tiếc nguyệt và sự bất đắc chí của một người tự thấy có tài mà không được dùng. Những điều này đều chính đáng nhưng thực sự tạo nên phản cảm khi mà giặc Minh đang “nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi con đỏ xuống hầm tai vạ” (Bình Ngô đại cáo), khi

mà không ít trí thức tài năng đang “nếm mật nằm gai” cứu nước, biến cây bút thành cây đao giết giặc (“Đao bút phải dùng tài đã vẹn” - Nguyễn Trãi).

Thế kỷ X đến thế kỷ XV là những thế kỷ đầu của thời kỳ độc lập. Vấn đề nổi bật của đương thời là số phận đất nước. Giai cấp phong kiến lúc này đang có vai trò tích cực, quyền lợi giai cấp thuận chiều với quyền lợi dân tộc. Từ thế kỷ XVI về sau, xã hội phong kiến Việt Nam bắt đầu suy đồi, trong hoàn cảnh đó thân phận con người trở thành chủ đề hàng đầu của văn chương. Thể hiện chủ đề này ở thế kỷ XVI về thơ tác giả xuất sắc nhất là Nguyễn Bỉnh Khiêm và ở văn xuôi tác giả xuất sắc nhất là Nguyễn Dữ. Hai thế kỷ sau đến thời Nguyễn Du, trong hoàn cảnh mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp đều trở nên gay gắt, một bộ phận quý tộc và quan liêu thương nhân hóa, đồng tiền thực sự trở thành một thế lực mạnh mẽ và lạnh lùng… thì vấn đề quyền sống của con người được đặt ra cấp thiết. Nguyễn Du với nhãn quan sắc sảo và trái tim nhân ái đã tiếp nhận được yêu cầu đó và biểu hiện nó một cách nghệ thuật, khiến cho các vấn nạn nhân sinh đương thời có ý nghĩa phổ quát.

Điều thú vị là nhiều tác phẩm của Nguyễn Du đã hiển hiện những cứ liệu để cho người ta đối sánh (cứ như là thi hào đã biết hậu sinh sẽ làm điều này). Chiêu hồn thập loại chúng sinh của thi hào gợi nhớ đến Thập giới cô hồn quốc ngữ văn của Hoàng đế - thi sĩ Lê Thánh Tông (thế kỷ XV). Cũng đều viết về mười loại hồn nhưng cảm hứng chủ đạo của hai tác phẩm khác nhau. Lê Thánh Tông xuất phát từ cảm hứng chính trị, viết về người chết nhưng mục đích chính là biểu lộ sự đánh giá chính thống thời thịnh trị về các loại người trong xã hội đương thời. Tác phẩm của Nguyễn Du xuất phát từ cảm hứng nhân đạo đích thực nên được lưu hành cả trong nhà chùa. Không phải không có nguyên cớ mà nhà thơ Chế Lan Viên đã nhắc đến tác phẩm này như là tác phẩm tiêu biểu viết về quá khứ đầy đau khổ của Việt Nam:

“Cả dân tộc đói nghèo trong rơm rạ, Văn chiêu hồn từng thấm giọt mưa rơi.”

Tập thơ chữ Hán Bắc hành tạp lục gồm 131 bài được Nguyễn Du viết khi dẫn đầu sứ Bộ nhà Nguyễn đi sứ Trung Quốc (2-1813 đến 4-1814). Tập thơ viết về ngót trăm nhân vật Trung Hoa trong số rất ít nhà thơ bắt gặp, còn phần lớn là những di tích bên con đường thiên lý gợi nhớ đến. Đa phần trong số đó là những con người có số phận không may mắn gợi cho nhà thơ bao nỗi thương xót, khiến cho cảm thương trở thành một cảm hứng chủ đạo của tập thơ đi sứ này.

Truyện Kiều lấy cốt truyện và nhân vật của Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Thời trung đại cả ở phương Đông cả ở phương Tây có không ít trường hợp tương tự. Tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân thuộc thể loại tiểu thuyết chương hồi, một thể loại rất chú trọng chi tiết, sự kiện. Tác phẩm của Nguyễn Du là tiểu thuyết bằng thơ, có thế năng lớn hơn để bộc lộ chất trữ tình, sự tự biểu hiện cũng phong phú hơn (nên mới có chuyện có những nhà nghiên cứu đặt vấn đề tìm hiểu thái độ chính trị của Nguyễn Du qua nhân vật Từ Hải do ông sáng tạo). Tuy sử dụng chất liệu có sẵn nhưng tác phẩm Nguyễn Du không chỉ gián tiếp mà còn nhiều khi trực tiếp bày tỏ lòng thương xót của tác giả đối với các nhân vật khổ đau, bất hạnh.

Chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du hướng đến đông đảo chúng sinh quả là có gợi cho người ta nghĩ đến chủ nghĩa nhân đạo của nhà Phật. Ngoài ra trong nhiều tác phẩm quốc âm của mình, Nguyễn Du còn sử dụng nhiều phạm trù của Phật giáo. Tuy nhiên giữa hai giá trị này có những khác biệt lớn. Nhà Phật cho rằng con người khổ vì thất tình lục dục, nghĩa là nguyên nhân nỗi khổ nằm ngay trong chính bản thân con người. Còn trong tác phẩm của Nguyễn Du, nỗi khổ của con người từ phạm vi cộng đồng đến phạm vi cá thể đều có căn nguyên thực tế khách quan. Thúy Kiều khổ vì thằng bán tơ vu oan, vì quan xử kiện bất minh, vì tổng đốc trọng thần hèn hạ. Tiểu Thanh khổ vì vợ cả ghen với tuổi trẻ, nhan sắc và tài hoa của nàng. Người buôn bán nhỏ khổ vì miếng ăn mà phải bươn bả ngược xuôi đòn gánh tre chín dạn hai vai. Trăm họ khổ sở chết chóc vì những kẻ giãi thây trăm họ làm công một người. Ngay cả những lá ngọc cành vàng thì thân mệnh cũng như trứng để đầu đẳng: Một phen thay đổi sơn hà/ Mảnh thân chiếc lá biết là về đâu… Chất liệu sống làm cơ sở xây dựng những hình tượng con người khổ đau trong văn chương Nguyễn Du không cần tìm đâu xa, mà đầy rẫy ở chính thời đại thi hào.

Một điều đặc biệt đối với Nguyễn Du là nỗi khổ của con người còn ở ngay chính bản thân nhà thơ và gia đình mình. Trong các tác giả văn chương Việt Nam thời trung đại thành danh, không ai sánh được với Nguyễn Du về những nỗi trầm luân. Nguyễn Du sinh ra trong gia đình trâm anh thế phiệt, hoàn cảnh đó cộng với tư chất thông minh khiến ông có vốn học vấn cao. Nguyễn Du vào đời lúc vua Lê chúa Trịnh đến bước suy tàn. Gia đình ông gắn bó với chế độ đó hiển nhiên cũng rơi vào cảnh sảy đàn, tan nghé.

Nguyễn Du có ngày tháng gian khó ở quê vợ Thái Bình hay quê cha Hà Tĩnh. Về sau thế cuộc thay đổi, Nguyễn Du làm quan với nhà Nguyễn nhưng ông không xem đó là cơ hội để vinh thân phì gia. Nhà đông

Một phần của tài liệu Lí luận văn học và các đề (Trang 90 - 94)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(181 trang)
w