Văn học lãng mạn Việt Nam 1930 – 1945

Một phần của tài liệu Lí luận văn học và các đề (Trang 101 - 108)

1. VĂN HỌC DÂN GIAN

3.2 Văn học lãng mạn Việt Nam 1930 – 1945

- Chủ nghĩa lãng mạn vừa là trào lưu văn học, vừa là phương pháp sáng tác, mang một nội dung lịch sử xã hội-cụ thể, được hình thành ở Tây Âu sau Cách mạng tư sản Pháp năm 1789. Chủ nghĩa lãng mạn chia làm hai khuynh hướng: lãng mạn tích cực và lãng mạn tiêu cực, nhưng giữa chúng vẫn có mối liên hệ qua lại khá phức tạp.

+ Lãng mạn tiêu cực hoặc đưa con người thỏa hiệp với thực tại hoặc tô vẻ thực tại, hoặc tách con người ra khỏi thực tại đi vào thế giới nội tâm với những ý tưởng về những bí ẩn thiên định về cuộc đời, về ái tình, về cái tôi. Ðặc điểm của xu hướng lãng mạn là chủ nghĩa bi quan, chủ nghĩa thần bí, thái độ đối địch với lý trí, sự thoát li thực tại và quay về quá khứ (trung cổ),… Xu hướng này gọi là lãng mạn tiêu cực (hay lãng mạn bảo thủ phản động). Vì nó chống lại mọi sự tiến bộ của xã hội, quay lưng lại phong trào đấu tranh của nhân dân.

+ Lãng mạn tích cực: tìm thấy vào những năm 1810 - 1830 ở Châu Âu lúc mâu thuận sâu sắc giữa giai cấp tư sản với chế độ phong kiến. Cách mạng tư sản nổ ra ở các nước Châu Âu là muốn giải phóng nhân dân khỏi ách phong kiến nhưng cuộc sống của nhân dân vẫn phải sống ách nô lệ và sự kiểm soát của một chế độ mới. Các nhà lãng mạn tích cực phủ nhận thực tại xã hội, những sáng tác của họ phù hợp với lợi ích của nhân dân.

- Phân biệt giữa chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa hiện thực:

+ Chủ nghĩa hiện thực thì nghiêng về phản ánh, chủ nghĩa lãng mạn nghiêng về bộc lộ.

+ Chủ nghĩa hiện thực thì thấy thế nào miêu tả thế ấy bằng phương pháp điển hình hóa. Chủ nghĩa lãng mạn cảm và suy nghĩ thế nào viết thế ấy.

+ Chủ nghĩa hiện thực nghiêng về xu hướng hướng ngoại. Chủ nghĩa lãng mạn lại nghiêng về xu hướng hướng nội. Một bên xem cuộc sống là đối tượng khách thể để miêu tả,một bên lấy cái Tôi làm trung tâm để thể hiện

+ Ở Việt Nam văn xuôi 1930 - 1945 rất khó phân biệt giữa hiện thực và lãng mạn. Những truyện ngắn của Thạch Lam, Trần Tiêu, yếu tố hiện thực lại nổi lên rất rõ. Có người cho rằng truyện ngắn Nhà mẹ Lê còn hiện thực hơn Kép Tư Bền của Nguyễn Công Hoan và Tắt đèn của Ngô Tất Tố. Tóm lại tác phẩm văn chương ít nhiều có chứa đựng yếu tố hiện thực và lãng mạn.

3.2.2 Thơ mới

3.2.2.1 Khái lược về phong trào thơ mới

-Thơ mới là cách gọi trào lưu sáng tác thơ phi cổ điển, chịu ảnh hưởng các phép tắc tu từ, thanh vận của thơ hiện đại phương Tây. Trở thành một hiện tượng trong khu vực các nước đồng văn châu Á, thơ mới ra đời, phát triển dựa trên yêu cầu cấp thiết hiện đại hóa thi ca truyền thống.

- Đầu thập niên 1930, văn hóa Việt Nam diễn ra cuộc vận động đổi mới thơ ca mạnh mẽ với sự xuất hiện làn sóng thơ mới với cá tính sáng tác độc đáo. Cuộc vận động đề xướng sử dụng các thể loại thơ mới, không tuân theo lối vần luật, niêm luật của các thể loại thơ cổ. Cuộc canh tân này đi vào lịch sử văn học tên gọi phong trào thơ mới (1930 – 1945).

- Khuynh hướng chung của thơ mới là khuynh hướng lãng mạn, là lý tưởng thẩm mỹ cái “tôi” của tác giả, thẩm mỹ hóa cái cuộc sống rối ren, tơi bời của xã hội nửa thực dân, nửa phong kiến và là tâm trạng buồn sầu, ưu uất, lạc lõng giữa vòng đời. Cảm hứng sáng tác gắn liền với ý thức cá nhân; thơ mới là thơ của cái “tôi”, một cái “tôi” chưa bao giờ được biết đến trong thơ cổ điển. Cái “tôi” bấy giờ không làm việc “tải đạo” nữa mà vượt lên những công thức ước lệ, khuôn khổ định sẵn.

- Tính khuynh hướng của nghệ thuật lãng mạn rất đa dạng, có khi lãng mạn, mộng mơ, ai ca, thần bí, anh hùng, triết học, cũng có khi lãng mạn anh hùng, lãng mạn công dân hay lãng mạn xã hội,... Nhưng nét bao trùm chủ nghĩa lãng mạn là mộng mơ. Các nhà thơ muốn thoát khỏi những điều kiện ngột ngạt của xã hội bảo hộ thời thơ mới bằng cách tưởng tượng, trốn vào trong cái thế giới vô cùng lý tưởng ấy. Đối với chủ nghĩa lãng mạn, chỉ có cái gì khác thường, khác người, khác đời, và sự đối lập giữa mộng và thực là đáng kể. Trong hoàn cảnh mất nước, sống giữa cái xã hội hủ lậu, ngột ngạt ấy thì sự đối lập là dễ hiểu.

- Buồn, cô đơn là tâm trạng của một cá thể thi nhân nhưng lại là nét chung của các nhà thơ trong trường phái này. Đây không phải là một hiện tượng lạ mà do những nguyên nhân khách quan chung. Họ không biết phải làm gì, phải đi theo hướng nào giữa cái xã hội tan tác ấy. Họ cũng không chấp nhận được cuộc sống tầm thường, tẻ nhạt như mọi người xung quanh. Do đó, họ cảm thấy lạc lõng, bơ vơ giữa xã hội.

- Trong thơ mới có nhiều rạo rực, âu lo, có nhiều khát vọng một cách vội vã, căng thẳng, chính cái mới này đã quyết định sự ra đời của thơ mới.

3.2.2.2 Cái hay của thơ mới a) Sự khẳng định “cái tôi”

- Trước hết, thơ mới thể hiện “cái tôi” cá nhân một cách rõ rệt. “Cái tôi” trong thơ mới có cái tinh tươm, tinh tường của nó và cái lớn muốn hòa vào đại dương, muốn đẩy xa không ngừng cả lớp sóng của cả trường giang. “Cái tôi” khi vừa mới phát hiện ra, nó đã đem lại cho ta nhiều giá trị mới. Nó thể hiện sự cách tân của thơ vì cuộc đời và lẽ sống. “Cái tôi” trong thơ mới xuất hiện gắn liền với từng lớp thị dân, gắn với nền văn minh công nghiệp, đó vừa là sản phẩm, vừa là chủ thể của nền văn hoá mới. Các nhà thơ mới đều có ý thức khẳng định mình như một thực thể duy nhất không lặp lại.

- Nền văn học trung đại trong khuôn khổ chế độ phong kiến chủ yếu là một nền văn học phi ngã. Sự cựa quậy, bứt phá tìm đến bản ngã đã ít nhiều xuất hiện trong thơ Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ,…

Đến phong trào thơ mới, “cái tôi” ra đời đòi được giải phóng cá nhân, thoát khỏi luân lí lễ giáo phong kiến chính là sự tiếp nối và đề cao cái bản ngã đã được khẳng định trước đó. Đó là một sự lựa chọn khuynh hướng thẩm mỹ và tư duy nghệ thuật mới của các nhà thơ mới.

- Ý thức về “cái tôi” đã đem đến một sự đa dạng phong phú trong cách biểu hiện. “Cái tôi” với tư cách là một bản thể, một đối tượng nhận thức và phản ánh của thơ ca đã xuất hiện như một tất yếu văn học. Đó là con người cá tính, con người bản năng chứ không phải con người ý thức nghĩa vụ, giờ đây nó đàng hoàng bước ra “trình làng” (chữ dùng của Phan Khôi). Xuân Diệu - “nhà thơ mới nhất trong các nhà Thơ mới” (Hoài Thanh) lên tiếng trước:

“Tôi là con chim đến từ núi lạ, Ngứa cổ hót chơi”

(Lời thơ vào tập gởi hương) hay:

“Tôi là con nai bị chiều đánh lưới, Không biết đi đâu, đứng sầu bóng tối”

(Khi chiều giăng lưới) Có khi đại từ nhân xưng “tôi” chuyển thành “anh”:

“Anh nhớ tiếng, anh nhớ hình, anh nhớ ảnh.

Anh nhớ em, anh nhớ lắm em ơi!

(Tương tư chiều) Thảng hoặc có khi lại là “ta”:

“Ta là Một, là Riêng là Thứ Nhất.

Không có chi bè bạn nổi cùng ta”

(Hy Mã Lạp sơn)

- Thơ mới đề cao “cái tôi” như một sự cố gắng cuối cùng để khẳng định bản ngã của mình và mong được đóng góp vào “văn mạch dân tộc”, mở đường cho sự phát triển của thi ca Việt Nam hiện đại.

b) Nỗi buồn cô đơn

- Trong bài Về cái buồn trong thơ mới, Hoài Chân cho rằng “Đúng là thơ mới buồn, buồn nhiều”, “Cái buồn của thơ mới không phải là cái buồn ủy mị, bạc nhược mà là cái buồn của những người có tâm huyết, đau buồn vì bị bế tắc chưa tìm thấy lối ra”.

- “Cái tôi” trong thơ mới trốn vào nhiều nẻo đường khác nhau, ở đâu cũng thấy buồn và cô đơn. Nỗi buồn cô đơn tràn ngập trong cảm thức về Tiếng thu với hình ảnh:

“Con nai vàng ngơ ngác Đạp trên lá vàng khô”

(Lưu Trọng Lư)

- Với Chế Lan Viên đó là Nỗi buồn thương nhớ tiếc dân Hời (dân Hời tức là dân Chàm):

“Đường về thu trước xa xăm lắm Mà kẻ đi về chỉ một tôi”

Nghe một tiếng gà gáy bên sông, Lưu Trọng Lư cảm nhận được nỗi buồn “Xao xác gà trưa gáy não nùng” còn Xuân Diệu lại thấy “Tiếng gà gáy buồn nghe như máu ứa”. Về điều này, Hoài Chân cho rằng

“Xuân Diệu phải là người buồn nhiều, đau buồn nhiều mới viết được những câu thơ nhức xương như:

“Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối. Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm”.

- Nỗi buồn cô đơn là cảm hứng của chủ nghĩa lãng mạn. Với các nhà thơ mới, nỗi buồn ấy còn là cách giải thoát tâm hồn, là niềm mong ước được trải lòng với đời và với chính mình.

- Lưu Trọng Lư đã “mỉm cười trong thú đau thương”. Đồng thời, các nhà thơ mới quan niệm rằng cô đơn, buồn chính là cái đẹp. Huy Cận đã từng bảo rằng “Cái đẹp bao giờ cũng hơi buồn”. Những quan niệm ấy có lẽ được khởi nguồn từ phương Tây khi nhà thơ Mĩ Edgar Allan Poe đã từng nói: “Giọng điệu buồn là giọng điệu thích hợp với thơ ca”. Rõ ràng, khi quan niệm như vậy thì việc thể hiện thế giới tự nhiên cũng đồng thời cho việc bộc bạch tâm trạng. Huy Cận đã phải thốt lên:

“Hồn đơn chiếc như đảo rời dặm biển”

(Mai sau)

- Cả một thiên cổ sầu ngìn năm dồn chất vào trong một tâm hồn thơ. Hoài Thanh đã nhận xét trong Thi nhân Việt Nam rằng: “Các cụ nhà ta khi nhìn thấy một cô gái xinh đẹp thì có cảm giác tội lỗi”. Nhưng xã hội đã đổi mới rồi, “Một xã hội mới hình thành thay thế cho xã hội truyền thống. Một ý thức hệ mới đang hình thành thay cho ý thức hệ cố hữu. Một con người mới - dầu chưa phải là đa số quốc dân đang muốn hướng cuộc sống theo ý của họ. Những con người “ở nhà Tây, đội mũ Tây, đi giày Tây, mặc áo Tây...”.

- Các nhà Thơ mới say sưa viết về những mối tình dang dở. Họ quan niệm:

“Tình chỉ đẹp khi còn dang dở Đời mất vui khi đã vẹn câu thề”

(Ngập ngừng - Hồ Dzếnh) Vũ Hoàng Chương như mất hết cả niềm đam mê, khi:

“Em ơi lửa tắt bình khô cạn Đời vắng em rồi say với ai?”

(Đời vắng em rồi) Hàn Mặc Tử cũng “hoá dại khờ”:

“Người đi một nửa hồn tôi mất Một nửa hồn tôi hóa dại khờ”

(Những giọt lệ)

- Chủ nghĩa lãng mạn thường viết về những đề tài thiên nhiên và tình yêu, hay thiên nhiên và tình yêu là đề tài rất phù hợp với các nhà thơ. Bởi vậy, Hoài Thanh đã từng khen hai câu thơ hay nhất trong nền thơ ca viết về đề tài mùa thu của Bích Khê: “Tôi đã gặp trong Tinh huyết những câu thơ hay vào bậc nhất trong thơ Việt Nam:

“Ô hay buồn vương cây ngô đồng.

Vàng rơi! Vàng rơi: thu mênh mông”.

- Thơ mới nói chung thường thích những cảnh “sông dài trời rộng”, những cảnh gợi cho người ta cảm giác bâng khuâng, man mác, cô đơn... Các nhà thơ mới thích những đêm trăng lạnh, những buổi chiều tà mà tiêu biểu là Huy Cận với bài Tràng giang:

“Lòng quê dợn dợn vời con nước, Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”

c) Cảm hứng về thiên nhiên và tình yêu

- Ngay từ khi ra đời, thơ mới đã đổi mới cảm xúc, đã tạo ra một cảm xúc mới trước cuộc đời và trước thiên nhiên, vũ trụ. Cảm hứng về thiên nhiên và tình yêu đã tạo nên bộ mặt riêng cho Thơ mới. Đó là vẻ đẹp tươi mới, đầy hương sắc, âm thanh, tràn trề sự sống.

+ Đây là cảnh mưa xuân trong thơ Nguyễn Bính:

“Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay Hoa xoan lớp lớp rụng rơi đầy”

(Mưa xuân) + Và đây là hình ảnh buổi trưa hè:

“Buổi trưa hè nhè nhẹ trong ca dao.

Có cu gáy và bướm vàng nữa chứ”

(Đi giữa đường thơm - Huy Cận) + Trong thơ Chế Lan Viên có không ít những hình ảnh như:

“Bướm vàng nhè nhẹ bay ngang bóng Những khóm tre cao rủ trước thành”

(Thu (I))

Tất cả gợi lên hình ảnh quê hương bình dị, thân thuộc với mỗi người Việt Nam. Những cung bậc của tình yêu đã làm thăng hoa cảm xúc các nhà thơ mới.

+ “Ông hoàng của thơ tình” Xuân Diệu bộc bạch một cách hồn nhiên:

“Tôi khờ khạo lắm, ngu ngơ quá Chỉ biết yêu thôi chẳng biết gì”

(Vì sao?)

+ Khác với Xuân Diệu, nhà thơ Chế Lan Viên cảm nhận thân phận bằng nỗi cô đơn sầu não:

“Với tôi tất cả như vô nghĩa

Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau”

(Xuân)

- Nói chung, thơ mới thể hiện nỗ lực sáng tạo hình thức thơ ca. Có thể nói trong thơ mới, có nhiều câu thơ rất mới lạ so với thơ ca truyền thống. Cái mới ấy được biểu hiện trong cách thể hiện của các nhà thơ chịu ảnh hưởng bởi Baudelaire và trường phái tượng trưng Pháp, với những câu thơ đầy tính “nổi loạn”

như:

“Ô kìa! Bóng nguyệt trần truồng tắm Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe”

(Bẽn lẽn - Hàn Mặc Tử) Và đây là những câu thơ hoàn toàn mới lạ của Xuân Diệu:

“Hơn một loài hoa đã rụng cành Trong vườn sắc đỏ rủa màu xanh”

(Đây mùa thu tới) d) Một số đặc sắc về nghệ thuật

Thơ mới là một bước phát triển quan trọng trong tiến trình hiện đại hóa nền văn học nước nhà những năm đầu thế kỉ XX với những cuộc cách tân nghệ thuật sâu sắc.

- Về thể loại, ban đầu thơ mới phá phách một cách phóng túng nhưng dần dần trở về với các thể thơ truyền thống quen thuộc như thơ ngũ ngôn, thất ngôn, thơ lục bát. Các bài thơ ngũ ngôn có Tiếng thu (Lưu Trọng Lư), Ông đồ (Vũ Đình Liên), Em đi chùa Hương (Nguyễn Nhược Pháp)… Các nhà thơ Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, T.T.Kh chủ yếu viết theo thể thơ thất ngôn, còn Nguyễn Bính, Thế Lữ lại dùng thể thơ lục bát v.v…

- Cách hiệp vần trong thơ mới rất phong phú, ít sử dụng một vần (độc vận) mà dùng nhiều vần như trong thơ cổ phong trường thiên: vần ôm, vần lưng, vần chân, vần liên tiếp, vần gián cách hoặc không theo một trật tự nhất định:

“Tiếng địch thổi đâu đây Cớ sao nghe réo rắt

Lơ lửng cao đưa tận chân trời xanh ngắt Mây bay… gió quyến, mây bay

Tiếng vi vút như khoan như dìu dặt Như hắt hiu cùng hơi gió heo may”

(Tiếng trúc tuyệt vời - Thế Lữ)

- Sự kết hợp giữa vần và thanh điệu tạo nên cho thơ mới một nhạc điệu riêng. Đây là những câu thơ toàn thanh bằng:

“Sương nương theo trăng ngừng lưng trời Tương tư nâng lòng lên chơi vơi”

(Xuân Diệu) hay:

“Ô hay buồn vương cây ngô đồng Vàng rơi! Vàng rơi: Thu mênh mông”

(Bích Khê)

- Ngoài việc sử dụng âm nhạc, thơ mới còn vận dụng cách ngắt nhịp một cách linh hoạt:

“Thu lạnh / càng thêm nguyệt tỏ ngời Đàn ghê như nước / lạnh / trời ơi!”

(Xuân Diệu)

- Ở một phương diện khác, cuộc cách tân về ngôn ngữ thơ mới diễn ra khá rầm rộ. Thoát khỏi tính quy phạm chặt chẽ và hệ thống ước lệ dày đặc của “thơ cũ”, thơ mới mang đến cho người đọc một thế giới nghệ thuật giàu giá trị tạo hình và gợi cảm sâu sắc:

“Con đường nhỏ nhỏ, gió xiêu xiêu Lả lả cành hoang nắng trở chiều”

(Xuân Diệu) hay:

“Mưa đổ bụi êm êm trên bến vắng Đò biếng lười nằm mặc dưới sông trôi”

(Anh Thơ)

- Sự phong phú về thể loại, vần và nhạc điệu cùng với tính hình tượng, cảm xúc của ngôn ngữ đã tạo nên một phong cách diễn đạt tinh tế, bằng cảm giác, bằng màu sắc hội họa của thơ mới. Đây là bức tranh Mùa xuân chín được Hàn Mặc Tử cảm nhận qua màu sắc và âm thanh:

“Trong làn nắng ửng, khói mơ tan Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng Sột soạt gió trêu tà áo biếc

Trên dàn thiên lý. Bóng xuân sang”

Thơ mới ảnh hưởng thơ Đường khá đậm nét. Sự gặp gỡ giữa thơ Đường và thơ mới chủ yếu ở thi tài, thi đề. Các nhà thơ mới chỉ tiếp thu và giữ lại những mặt tích cực, tiến bộ của thơ Đường trong các sáng tác của Đỗ Phủ, Lý Bạch, Bạch Cư Dị,... Trong bài Tràng giang, Huy Cận mượn tứ thơ của Thôi Hiệu để bày tỏ lòng yêu nước:

“Lòng quê dợn dợn vời con nước Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”

- Nếu sự ảnh hưởng thơ Đường làm cho thơ tiếng Việt càng phong phú giàu có thêm, tinh tế hơn thì sự ảnh hưởng thơ ca lãng mạn Pháp góp phần cho thơ mới sáng tạo về thi hứng, bút pháp và cách diễn đạt mới lạ, độc đáo. Một trong những nhà thơ đầu tiên chịu ảnh hưởng sâu sắc thơ Pháp là Thế Lữ, Huy Thông, về sau là Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử,…

Trong bài “Thơ mới - cuộc nổi loạn ngôn từ”, Đỗ Đức Hiểu nêu nhận xét về hệ thống ngôn từ thơ mới:

“Thơ mới là bản hòa âm của hai nền văn hóa xa nhau vời vợi, là bản giao hưởng cổ và hiện đại”. Đó là sự giao thoa tiếng Việt với thơ Đường và thơ ca lãng mạn Pháp thế kỷ XIX. Sự ảnh hưởng thơ Đường và thơ ca lãng mạn Pháp đối với phong trào thơ mới không tách rời nhau. Điều này cho thấy tác động và ảnh hưởng từ nhiều phía đối với thơ mới là một tất yếu trong quá trình hiện đại hóa thơ ca. Chính sự kết hợp Đông -Tây nói trên đã tạo nên bản sắc dân tộc và sức hấp dẫn riêng của thơ mới.

Tổng kết về thơ mới, Hoài Thanh, Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam đã khẳng định: “Không lấy một người so sánh với một người, hãy lấy thời đại so sánh với thời đại. Tôi quyết rằng chưa có thời đại nào phong phú như thời đại này trong lịch sử thi ca Việt Nam. Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong

Một phần của tài liệu Lí luận văn học và các đề (Trang 101 - 108)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(181 trang)
w