Cảm hứng yêu nước, nhân đạo và cảm hứng thế sự qua chương trình văn học trung đại lớp

Một phần của tài liệu Lí luận văn học và các đề (Trang 84 - 87)

1. VĂN HỌC DÂN GIAN

2.3 Cảm hứng yêu nước, nhân đạo và cảm hứng thế sự qua chương trình văn học trung đại lớp

2.3.1 Cảm hứng yêu nước

2.3.1.1 Vài nét về cảm hứng yêu nước

- Yêu nước là trạng thái tình cảm xã hội mang tính phổ biến vốn có ở mọi quốc gia - dân tộc trên thế giới.

- Chủ nghĩa yêu nước không thuần túy chỉ là tư tưởng yêu nước, tình cảm yêu nước hay lòng yêu nước nói chung. Nó cũng không đồng nhất với tinh thần yêu nước, hay truyền thống yêu nước. Chủ nghĩa yêu nước chính là sự kết hợp chặt chẽ giữa lý trí yêu nước và tình cảm yêu nước của con người, là sự phát triển ở trình độ cao của tư tưởng yêu nước, là tinh thần yêu nước đạt đến sự tự giác.

- Cảm hứng yêu nước trong văn học trung đại được thể hiện:

+ Yêu nước gắn với tư tưởng trung quân.

+ Tự hào dân tộc.

+ Khát vọng và quyết tâm cống hiến bảo vệ và xây dựng đất nước.

+ Yêu thiên nhiên, quê hương, xứ sở.

2.3.1.2 Biểu hiện của cảm hứng yêu nước qua thơ Đường Việt Nam

- Có thể nói, cảm hứng yêu nước trong thơ trung đại Việt Nam thể hiện trước hết ở lòng tự hào dân tộc. Chúng ta đã từng thấy dõng dạc vang lên trong bài thơ thần của Lý Thường Kiệt là tiếng nói đầutiên như âm vang từ khí thiêng sông núi dội về: đất nước Việt Nam do vua Nam làm chủ. Nước làcủa vua, vua là tượng trưng cho chủ quyền của nước:

“Sông núi nước Nam vua Nam ở Rành rành định phận ở sách trời Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm?

Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời”

(Nam quốc sơn hà)

Bài thơ hoàn toàn không có vũ khí binh đao mà kì lạ thay ta vẫn nhận ra tiếng quân reo, ngựa hí,… Sự liên tưởng nhiều tầng ấy phải chăng được gợi lên từ tiếng nói tự hào dân tộc của một con người giàu lòng yêu nước và tinh thần tự chủ. Ở đây, ý thức tinh thần độc lập, tự chủ khá rõ nét. Bài thơ xứng đáng là một bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc ta. Nếu không có lòng tự hào dân tộc thì khó có thể viết ra được những câu thơ đầy hoành tráng như thế.

- Trong thơ trung đại, cảm hứng yêu nước còn thể hiện ở tinh thần quyết chiến, quyết thắng quân xâm lược. Chúng ta có thể nhận thấy rõ điều này qua thơ các thi sĩ thời Trần, thơ Nguyễn Trãi,…

+ Một trongnhững thành tựu quan trọng của thơ thời Trần là đã thể hiện được chủ nghĩa yêu nước, ý chí quật cường chống quân xâm lược của dân tộc ta. Chính cảm hứng này đã tạo ra “Hào khí Đông A”

trong lịch sử chống xâm lược của dân tộc. Hào khí ấy vang lên hùng tráng mà tha thiết qua khúc ca khải hoàn Phò giá về kinh của Trần Quang Khải:

“Chương Dương cướp giáo giặc, Hàm Tử bắt quân thù.

Thái bình nên gắng sức, Non nước ấy nghìn thu.”

Bài thơ làm sống dậy một không gian trận mạc chiến trường, đao kiếm với ngựa thét quân reo ngất trời tráng khí. Một trong hai trận ấy do đích thân Trần Quang Khải chỉ huy. Chương Dương, Hàm Tử nằm trong hệ thống chiến thắng mở màn có ý nghĩa chiến lược cho cuộc phản công thắng lợi, mạnh và nhanh, cường độ lớn và tốc độ phi thường đã tạo cho lời thơ khí thế hùng tráng, thiêng liêng.

+ Yêu nước, căm thù giặc tất yếu phải chiến đấu đến cùng cho lí tưởng ấy. Trong thơ trung đại ViệtNam dường như vẫn còn văng vẳng tiếng mài giáo dưới ánh trăng của Đặng Dung ( “Thù trả chưa xong đầu đã bạc/ Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày” - Cảm hoài), cái múa giáo đầy thách thức của Phạm Ngũ Lão. Sự mất còn của non sông đã đặt gánh nặng lên vai con người thời cuộc với thử thách nặng nề: giết giặc cứu nước. Vậy nên trong Thuật hoài, Phạm Ngũ Lão đã xây dựng được hình tượng một con người tràn đầy khí thế, tầm vóc. Ở đó có cả sức mạnh củatướng sĩ ba quân trong cuộc kháng chiến

chống Nguyên Mông, đồng thời đó cũng là sức mạnh của cả dân tộc. Từ suy ngẫm khái quát về tư thế, tầm vóc và sức mạnh của dân tộc chuyển sang suy ngẫm về bổn phận và trách nhiệm của cá nhân trước cộng đồng, Phạm Ngũ Lão đã có cách khơi khơi thật khéo léo: nếu đấng nam nhi còn vương nợ tức là chưa có công trạng gì với núi sông thì sẽhuống thẹn khi nghe chuyện Vũ Hầu. Đúng là cái thẹn của một của một nhân cách lớn, cái xấu hổlớn lao rất đáng trân trọng của Phạm Ngũ Lão. Ông xấu hổ với bản thân, với cộng đồng nhất là vớimột nam nhi thời loạn. Đến như Gia Cát Lượng, một con người đã từng xuất thế để quên đi sự đờinhưng cũng dời liều cỏ giúp Lưu Bị chấn hưng nhà Hán thời Tam Quốc, còn với sĩ phu đời Trần,trước tình thế Tổ quốc ngàn cân treo sợi tóc há chỉ đứng nhìn và bình thản hay sao?

“Múa giáo non sông trải mấy thu Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu.

Công danh nam tử còn vương nợ, Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu.”

(Bùi Văn Nguyên dịch)

+ Đến khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, tinh thần yêu nước của con người Việt Nam lại bật lênmạnh mẽ. Không thể cầm gươm tham gia nghĩa quân như các sĩ phu yêu nước khác, Nguyễn Đình Chiểu đã đánh giặc bằng ngòi bút:

“Chở bao nhiêu đạo thuyền không thẳm Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”

Nỗi lo lắng và niềm đau xót cho ách nước, nạn dân ngày càng trở nên sâu sắc hơn. Mỗi bữa thấy,mỗi ngày trông kẻ thù trước mắt lấn thêm một bước, Đồ Chiểu đau đớn như bị cắt đi một phần máuthịt. Cảm hứng bao trùm bài chạy tây là sự xửng sốt, nỗi bàng hoàng, lo lắng cho vận nước nạn dân:

“Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây Một bàn cờ thế phút sa tay….”

(Chạy giặc)

Cho nên tinh thần quyết chiến, quyết thắng không chỉ biểu hiện nơi trận mạc sa trường. Nó còn là lẽsống, một hạnh phúc được sẵn sàng xả thân cho Tổ quốc. Tư thế của Đặng Dung là tư thế của một kẻ anh hùng, một chí trai thời loạn:

“Vai khiêng trái đất mong phù chúa Giáp gột sông trời khó vạch mây…”

(Cảm hoài)

+ Trong thơ, chúng ta nhận thấy dường như còn có những nỗi buồn sâu kín của con người trước sự đổi thay của đất nước, những cảnh trớ trêu trong xã hội, nạn chiến tranh, cát cứ, xâm lựơc. Đó là trường hợp Sông lấp (Tú Xương), Hội Tây (Nguyễn Khuyến),… Nghe tiếng ếch vẳng bên tai mà Tú Xương giật mình. Cái giật mình của Tú Xương là cái giật mình chứa bao đau xót trước hiện thực phũ phàng. Đó là cái giật mình của lòng yêu nước của tinh thần dân tộc sâu kín được ấp ủ, nung nấu nhưng không có cách nào giải tỏa được:

“Sông kia rày đã nên đồng

Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai Vẳng nghe tiếng ếch bên tai

Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò”

(Sông lấp)

Còn với Nguyễn Khuyến, ông xót xa trước những trò lố lăng, xúc phạm đến danh dự dân tộc do thực dân Pháp bày ra. Bên Hội Tây đã thể hiện sâu sắc nỗi đau đó:

“Khen ai khéo vẽ trò vui thế Vui thế bao nhiêu nhục bấy nhiêu.”

(Hội Tây)

- Không chỉ có vậy, cảm hứng yêu nước trong thơ trung đại còn thể hiện ở việc các nhà thơ ca ngợi cảnh đẹp của quê hương đất nước. Trong thơ, thiên nhiên đất nước Việt Nam hiện lên thật đẹp đẽ, tráng lệ giàu đường nét, màu sắc.

+ Với thơ thời Trần, qua cảnh trí thiên nhiên các thi sĩ đã gửi vào đó tình yêu quê hương đất nước của mình. Nguyễn Trung Ngạn khi đi sứ cũng đã viết nên những vầnthơ xúc động về tình yêu quê hương đất nước với những phong vị riêng của một vùng đồng bằng Bắc Bộ:

“Dâu già lá rụng tằm vừa chín

Lúa sớm bông thơm cua béo ghê Nghe nói ở nhà nghèo vẫn tốt Dẫu vui đất khách chẳng bằng về”

(Hứng trở về)

+ Kể cả một chiếc lá đỏ thưa, một cánh cò chao liệng, một tiếng chuông vẳng trong mây trời, một tiếngsáo, thuyền câu ngoài bến đậu…Tất cả đều trở thành nguồn thi hứng cho các thi sĩ thời Trần:

“Theo gió thuyền con nước lững lờ Non xanh nước biếc nắng thu mơ Thuyền chài tiếng sáo vờn lau lách Trăng rụng sương giăng sóng nước mờ”

(Đi thuyền – Huyền Quang)

+ Còn Nguyễn Trãi, cảnh đẹp thiên nhiên, khí trời lúc sang xuân thật huyền hồ đầy âm thanh, màu sắc.

Xuân về mang theo sự tươi tốt với những làn mưa. Cỏ ở bến xanh như màu khói bao la bát ngát:

“Cỏ xanh như khói bến xuân tươi Lại có mưa xuân nước vỗ trời”

(Bến đò xuân đầu trại)

Như vậy cảm hứng yêu nước trong thơ trung đại Việt Nam đã thể hiện ở nhiều khía cạnh phong phú và sâu sắc. Đất nước, dân tộc là nỗi niềm khắc khoải không nguôi trong tâm hồn con người Việt Namnói chung và các thi sĩ nói riêng. Vậy nên, ở mỗi nhà thơ có cách khai thác, cảm nhận khác nhau song lại là vẫn sự thống nhất và làm nên một cảm hứng yêu nước lớn. Chính cảm hứng ấy đã làmnên cái độc đáo riêng và giá trị của thơ Việt Nam thời trung đại.

2.3.2 Cảm hứng nhân đạo

2.3.2.1 Vài nét về cảm hứng nhân đạo

- Chủ nghĩa nhân đạo còn gọi là chủ nghĩa nhân văn, là toàn bộ những tư tưởng quan điểm, tình cảm quý trọng các giá trị của con người như trí tuệ, tình cảm, phẩm giá, sức mạnh, vẻ đẹp.

- Cảm hứng nhân đạo là cảm hứng của tình thương con người theo từng giai đoạn, thời điểm. Cốt lõi của cảm hứng nhân đạo là tình yêu, lòng thương nhân loại. Bản chất của cảm hứng nhân đạo là chữ tâm đối với con người.

- Tác phẩm mang cảm hứng nhân đạo là tác phẩm ca ngợi phẩm chất cao đẹp của con người với con người, đồng cảm, xót thương cho những số phận bi ai bị chà đạp, lên án tố cáo những thế lực thù địch, đồng thời cũng phải biết đồng tình với khát vọng và ước mơ của con người.

2.3.2.2 Nguyên nhân xuất hiện trào lưu chủ nghĩa nhân đạo trong văn học từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX

- Cơ sở xã hội: Chế độ phong kiến Việt Nam khủng hoảng trầm trọng. Các tập đoàn phong kiến tranh giành quyền lực, tiêu diệt lẫn nhau. Cuộc sống của người dân vô cùng lầm than. Các cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi mà đỉnh cao là khởi nghĩa Tây Sơn diệt Trịnh – Nguyễn, đánh đuổi quân Xiêm, quân Thanh, thống nhất đất nước. Không lâu sau khi thành lập, triều đại Tây Sơn bị lật đổ. Nhà Nguyễn giành lại được chính quyền nhưng sự khủng hoảng của xã hội càng trầm trọng hơn. Lúc này số phận và quyền sống của con người bị đe dọa. Văn học trở thành tiếng nói chống chiến tranh phi nghĩa, đòi quyền sống, quyền hạnh phúc của con người.

- Cơ sở ý thức: Những biến động của xã hội dẫn đến sự khủng hoảng sâu sắc của ý thức hệ phong kiến.

Những cái gọi là “tam cương, ngũ thường” của đạo lý phong kiến lâu nay vẫn chi phối đời sống tinh thần của con người là giả dối, là trái với tự nhiên. Lúc này, như một điều tất yếu, văn học quan tâm đến số phận con người, đặc biệt là con người cá nhân, trở thành tiếng nói đòi quyền sống và hạnh phúc của mỗi cá nhân và đấu tranh để giải phóng con người ra khỏi những ràng buộc của lễ giáo phong kiến. Đó là nguồn gốc ý thức của trào lưu nhân đạo chủ nghĩa trong văn học từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX.

- Xuất hiện nhiều tác giả lớn với nhiều tác phẩm có giá trị, tạo nên những thành tựu phong phú và rực rỡ chưa từng có trong lịch sử văn học nước ta: Truyện Kiều – Nguyễn Du, Cung oán ngâm khúc – Nguyễn Gia Thiều, Thơ Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Trần Tế Xương, Nguyễn Khuyến…

2.3.2.3 Biểu hiện của cảm hứng nhân đạo

- Cảm hứng nhân đạo trong giai đoạn văn học này có nhiều biểu hiện phong phú và đa dạng:

+ Thương cảm trước bi kịch, đồng cảm trước khát vọng của con người.

+ Lên án mạnh mẽ chế độ phong kiến đã trở nên hết sức thối nát và tàn bạo.

+ Ca ngợi, đề cao tài năng, phẩm chất tốt đẹp của con người; khẳng định con người cá nhân, đề cao bản lĩnh cá nhân. Điều đáng lưu ý là văn học không xuất phát từ những tiêu chuẩn của đạo lý phong kiến, mà từ sự phát hiện những phẩm chất và vẻ đẹp có tính chất trần thế, trần tục của con người, nhiều khi đối lập hẳn với quan điểm đạo đức phong kiến.

+ Biểu hiện cao nhất của chủ nghĩa nhân đạo là đấu tranh để khẳng định quyền sống của con người, kể cả quyền sống vật chất và quyền sống tinh thần, đặc biệt là quyền sống và hạnh phúc của người phụ nữ.

- Những biểu hiện trên được thể hiện tập trung, rõ nét và mới mẻ hơn trong các tác phẩm văn học trung đại trong chương trình Ngữ văn 11:

+ Hướng vào quyền sống của con người, nhất là con người trần thế: Quyền sống hạnh phúc, khao khát tình yêu, hạnh phúc lứa đôi. (Tự tình II – Hồ Xuân Hương).

+ Ý thức về cá nhân đậm nét hơn: Quyền sống cá nhân, quyền hạnh phúc cá nhân, khẳng định tài năng, cá tính, bản lĩnh cá nhân (Tự tình II – Hồ Xuân Hương, Bài ca ngất ngưởng – Nguyễn Công Trứ).

+ Đề cao truyền thống đạo lí nhân nghĩa của dân tộc: (Khóc Dương Khuê – Nguyễn Khuyến, Thương vợ – Trần Tế Xương).

+ Trong đó, vấn đề khẳng định quyền sống con người trở thành nội dung cốt lõi, xuyên suốt trong các tác phẩm giai đoạn văn học từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX.

Cùng với cảm hứng yêu nước, cảm hứng nhân đạo đã trở thành tư tưởng cốt lõi, nổi bật và xuyên suốt nền văn học trung đại nói riêng và nền văn học Việt Nam nói chung. Cảm hứng nhân đạo qua từng giai đoạn văn học có những biểu hiện khác nhau, làm phong phú, đa dạng hơn cho nền văn học dân tộc. Đó sẽ mãi là nguồn cảm hứng vô tận cho các nhà văn.

2.3.3 Cảm hứng thế sự

2.3.3.1 Vài nét về cảm hứng thế sự

Nói đến cảm hứng thế sự là nói đến cảm hứng về cuộc sống đời thường, về thế thái nhân tình, về con người của thực tại. Những tác phẩm mang cảm hứng thế sự chú ý khẳng định giá trị thẩm mĩ của cái đời thường, khám phá mọi phức tạp, éo le và cả cái cao quí trên hành trình đi tìm sự sống và hạnh phúc của con người

2.3.3.2 Biểu hiện của cảm hứng thế sự

- Biểu hiện rõ nét từ văn học cuối thời Trần (thế kỉ XIV). Khi triều đại nhà Trần suy thoái là lúc văn học hướng tới phản ánh hiện thực xã hội, phản ánh cuộc sống đau khổ của nhân dân.

- Cảm hứng thế sự trở thành nội dung lớn trong sáng tác của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua những bài thơ viết về nhân tình thế thái.

- Văn học viết về thế sự phát triển trong hai thế kỉ XVIII và XIX; nhiều tác giả hướng tới hiện thực cuộc sống, hiện thực xã hội đương thời để ghi lại “những điều trông thấy”. Lê Hữu Trác viết Thượng kinh kí sự, Phạm Đình Hổ viết Vũ trung tùy bút.

- Bức tranh về đời sống nông thôn trong thơ Nguyễn Khuyến, một xã hội thành thị trong thơ Tú Xương. Cảm hứng thế sự trong văn học trung đại đã góp phần tạo tiền đề cho sự ra đời của văn học hiện thực sau này.

Một phần của tài liệu Lí luận văn học và các đề (Trang 84 - 87)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(181 trang)
w