Kết quả thực nghiệm

Một phần của tài liệu Thiết kế câu hỏi đánh giá kết quả đọc hiểu văn bản thơ lãng mạn việt nam giai đoạn 1930 1945 cho học sinh lớp 11 (Trang 59 - 67)

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.4. Kết quả thực nghiệm

Sau khi tiến hành thực nghiệm trên lớp 11D9 và 11D10 của trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai, chúng tôi đã thu được một số kết quả nhất định. Theo đó, chúng tôi nhận thấy có những sự khác biệt rõ rệt giữa lớp đối chứng và lớp thực nghiệm về kết quả đọc hiểu văn bản Đây thôn Vĩ Dạ.

Qua Phiếu thăm dò ý kiến học sinh, khi được hỏi về cảm nhận của các em về câu hỏi giáo viên sử dụng trong dạy học đọc hiểu bài Đây thôn Vĩ Dạ, câu trả lời của các em như sau :

54

Bảng 3.1. Suy nghĩ của HS về câu hỏi GV sử dụng trong dạy học đọc hiểu bài Đây thôn Vĩ Dạ

Câu hỏi Các phương án lựa chọn

Số lượng và số % chọn lựa của HS

Lớp ĐC

Lớp TN Em cảm thấy câu

hỏi giáo viên sử dụng để hướng dẫn các em đọc hiểu tác phẩm như Đây thôn Vĩ Dạ thế nào ?

Câu hỏi quá khó, quá sức với khả năng của HS

3/40 7.5 %

3/40 7.5 % Câu hỏi khá khó nhưng kích thích được

năng lực đọc hiểu của HS

5/40 12.5 %

15/40 37.5 % Câu hỏi hợp lý, không khiến HS cảm thấy

quá sức và vẫn kích thích năng lực đọc hiểu của HS

10/40 25 %

20/40 50 % Câu hỏi khá dễ, không kích thích được năng

lực đọc hiểu của HS

13/40 32.5 %

3/40 5 %

Tổng 40/40

100%

40/40 100%

Như vậy, đa phần lớp đối chứng nhận thấy câu hỏi giáo viên đưa ra để hướng dẫn đọc hiểu văn bản Đây thôn Vĩ Dạ là khá dễ, không kích thích năng lực đọc hiểu còn đa phần lớp thực nghiệm lại cho câu hỏi hợp lý, không khiến HS cảm thấy quá sức mà vẫn kích thích được năng lực đọc hiểu của HS. Điều này, theo chúng tôi, là do giữa lớp đối chứng và thực nghiệm sử dụng các bộ câu hỏi khác nhau. Lớp đối chứng sử dụng giáo án truyền thống và phần lớn vẫn là giáo viên bình giảng, câu hỏi chỉ mang tính chất hỗ trợ còn lớp thực nghiệm sử dụng bộ câu hỏi được thiết kế để HS phải tư duy và vận dụng năng lực đọc hiểu vào bài.

55

Cũng chính vì thế, khi được hỏi tiếp về “Mức độ hiểu bài của các em với văn bản Đây thôn Vĩ Dạ đã học như thế nào ?” ( trong đó: 1. Rất hiểu / 2. Hiểu / 3. Chưa hiểu lắm / 4. Hoàn toàn không hiểu gì), hai lớp đối chứng và thực nghiệm có sự khác biệt rõ rệt:

Bảng 3.2. Mức độ hiểu hài của HS sau khi học tác phẩm Đây thôn Vĩ Dạ

S T T

Những nội dung

của bài Đây thôn

Vĩ Dạ

Mức độ hiểu bài

(Số lượng và số % lựa chọn của HS)

Tổng

1 2 3 4

ĐC TN ĐC TN ĐC TN ĐC TN

1 Thể thơ của bài

5 12.5%

10 25%

10 25%

20 50%

20 50%

10 25%

5 12.5%

0 0

40 100%

2 Kết cấu của bài

5 12.5%

10 25%

10 25%

20 50%

15 37.5%

6 15%

10 25%

4 10%

40 100%

3

Nhân vật trữ tình trong bài

5 12.5%

8 20%

5 12.5%

20 50%

21 52.5%

8 20%

9 22.5%

4 10%

40 100%

4

Hình tượng nghệ thuật

trong bài

2 5%

5 12.5%

6 15%

20 50%

24 60%

10 25%

8 20%

5 12.5%

40 100%

5

Ngôn ngữ, giọng điệu thơ và các biện pháp nghệ thuật trong bài.

3 7.5%

8 20%

10 25%

19 47.5%

15 37.5%

9 22.5%

12 30%

4 10%

40 100%

Như vậy, phần lớn các nội dung của bài Đây thôn Vĩ Dạ được các HS lớp thực nghiệm lựa chọn ở mức độ hiểu, trong khi đó đa số HS lớp đối chứng lại lựa chọn

56

mức chưa hiểu lắm đối với các nội dung của bài. Chính vì mức độ hiểu bài của các lớp khác nhau, cho nên kết quả bài kiểm tra tổng kết mà chúng tôi cho HS hai lớp đối chứng và thực nghiệm thực hiện cũng có sự khác biệt rõ rệt.

Bảng 3.3. Tổng hợp kết quả bài kiểm tra (tính ra %)

Lớp Số HS Điểm giỏi Điểm khá Điểm TB

Điểm yếu Số lượng

Đối chứng

40 3 10 22 5

% 100% 7.5% 25% 55% 12.5

% Số lượng Thực

nghiệm

40 9 20 9 2

% 100% 22.5% 50% 22.5% 5%

Nhận xét:

Biểu đồ 3.1. So sánh kết quả kiểm tra giữa lớp thực nghiệm và đối chứng

Nhìn vào biểu đồ, chúng ta có thể thấy được sự khác biệt rõ rệt giữa lớp dạy thực nghiệm và lớp không dạy thực nghiệm (đối chứng). HS đạt điểm giỏi của lớp thực nghiệm cao hơn lớp đối chứng gần 3 lần. HS đạt điểm khá của lớp thực nghiệm

0 10 20 30 40 50 60

Điểm giỏi Điểm khá Điểm TB Điểm yếu

Đối chứng Thực nghiệm

57

hơn gấp đôi so với lớp đối chứng. Số HS bị điểm trung bình, yếu của lớp thực nghiệm cũng chỉ bằng nửa so với lớp đối chứng.

Từ bảng thống kê cho thấy, kết quả kiểm tra ở lớp thực nghiệm khả quan hơn so với lớp đối chứng. Có nguyên nhân là HS ở lớp thực nghiệm đã được sử dụng hệ thống câu hỏi đánh giá đọc hiểu kĩ càng càng chi tiết hơn, đi sâu vào các vấn đề loại thể mà những câu hỏi trong SGK hoặc giáo án truyền thống chưa xem xét kĩ. Trong khi đó, hầu hết các lỗi mà HS lớp đối chứng vẫn mắc phải tình trạng đó là học thụ động, không phát huy năng lực đọc hiểu cá nhân

Điều đó được thể hiện rõ trong kết quả khảo sát, chúng tôi thu được khi phát phiếu hỏi các em HS sau khi học xong Đây thôn Vĩ Dạ.

3.4.2. Đánh giá chung

Sau khi dạy thực nghiệm và kiểm tra kết quả học tập của HS, chúng tôi có những đánh giá như sau:

HS qua giờ học thực nghiệm đã cảm thấy hứng thú hơn với giờ học, HS đã chủ động nêu ra được những ý kiến cá nhân, phân tích được các vấn đề liên quan đến đặc trưng thể loại trong các bài thơ lãng mạn Việt Nam 1930 – 1945 được học.

Việc tổ chức dạy học theo tinh thần tích cực hóa hoạt động của người học, sự đa dạng hóa các hình thức tổ chức dạy học, các kiểu bài học đã tạo cơ hội cho HS trở thành những con người tích cực, sáng tạo.

Việc sử dụng các câu hỏi đánh giá kết quả đọc hiểu trong tiến trình đã giúp các em phát huy cao khả năng tư duy, phân tích từ đó năng lực đọc hiểu văn bản của các em được đề cao hơn.

Tuy nhiên, một số khó khăn đối mà chúng tôi nhận thấy gặp phải khi thực nghiệm là:

Thứ nhất, với vấn đề đổi mới phương pháp dạy và học như hiện nay thì việc đòi hỏi GV phải nâng cao bản lĩnh nghề nghiệp, trình độ chuyên môn và khả năng sư phạm. Tuy nhiên, có nhiều tình huống sư phạm mà GV không thể lường trước được.

Thứ hai, thời lượng dành cho tiết học đã được quy định nhưng nó có thể bị phá vỡ bởi việc phân bổ thời gian của GV vào những hoạt động, những lòi bình của GV và HS lan man, không đúng trọng tâm.

58

Thứ ba, tiến trình bài học đôi lúc bị gián đoạn, ngắt quãng, bầu không khí lớp học bị loãng bởi những phát biểu tản mạn của HS cho nên câu hỏi đề ra có khi không thể giải quyết sâu được.

Tiểu kết chương 3

Để kiểm chứng lại tính hiệu quả của vấn đề thiết câu hỏi đánh giá kết quả đọc hiểu thơ lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945, chúng tôi đã áp dụng hệ thống câu hỏi đã xây dựng để đưa vào thực nghiệm tại hai lớp 11D9 và 11D10 của trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai. Thông qua kết quả thu được, chúng tôi nhận thấy:

Kết quả đọc hiểu của lớp thực nghiệm bao hơn kết quả đọc hiểu của lớp đối chứng. Các vấn đề nội dung liên quan đến đặc trưng thể loại của thơ lãng mạn Việt Nam 1930 – 1945 được lớp thực nghiệm hiểu sâu hơn và do vậy, các em có thể vận dụng tri thức vào giải quyết những yêu cầu của bài. Một trong những yếu tố quan trọng góp phần làm nên sự thay đổi mang tính tích cực này chính là hệ thống câu hỏi đánh giá kết quả đọc hiểu.

Tuy nhiên, việc thực nghiệm của chúng tôi mới chỉ thực hiện trên quy mô nhỏ, nên tính chính xác chưa hoàn toàn tuyệt đối. Dẫu vậy, kết quả bước đầu đã cho thấy sự khả quan của việc thiết kế hệ thống câu hỏi mà chúng tôi đề xuất. Đó chính là một trong những yếu tố nền móng để khẳng định tính đúng đắn của đề tài.

59

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 1. Kết luận

Thế kỉ XXI là thời đại của công nghệ thông tin, thời đại mà hệ thống tri thức phát triển như vũ bão, lượng thông tin ngày càng tăng vọt. Nó đòi hỏi con người phải có cách nắm bắt tri thức, nắm bắt thông tin một cách năng động và sáng tạo. Con người phải có phương pháp tự học, tự nắm bắt thông tin. Điều đó cũng đòi hỏi nhà trường phải có phương pháp học phát huy được tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh.

Với đề tài Thiết kế câu hỏi đánh giá kết quả đọc hiểu thơ lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945, chúng tôi muốn góp một phần nhỏ vào việc đổi mới phương pháp “kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn” – một trong những khâu quan trọng để kểm chứng sự đổi mới của phương pháp dạy học cũng như là cơ sở để mở ra quá trình dạy học tiếp theo.

Khi thực hiện đề tài này, chúng tôi đã đi sâu vào tìm hiểu cơ sở khoa học, trong đó chỉ ra những kết luận khái quát nhất về đánh giá kết quả học tập, câu hỏi đánh giá kết quả học tập nói chung và câu hỏi đánh giá kết quả đọc hiểu văn bản nói riêng cũng như đi sâu vào đặc điểm, vị trí của câu hỏi đánh giá kết quả đọc hiểu văn bản thơ lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 ở trường THPT hiện nay để có cơ sở vững chắc cho việc xây dựng câu hệ thống câu hỏi đánh giá kết quả đọc hiểu văn bản thơ lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 -1945 cho học sinh lớp 11.

Với việc đi sâu vào tìm hiểu 3 văn bản thơ lãng mạn 1930 - 1945 được dạy chính trong chương trình Ngữ văn 11 là Vội vàng, Tràng giangĐây thôn Vĩ Dạ, chúng tôi đã đề xuất một hệ thống câu hỏi khá chi tiết cho mỗi bài. Các câu hỏi này đều tuân theo những nguyên tắc nhất định, trong đó đặc biệt là đảm bảo tính hệ thống và đa dạng hóa các câu hỏi và đảm bảo theo đặc trưng thể loại. Những câu hỏi được xây dựng không chỉ tích cực hóa hoạt động đọc hiểu của học sinh mà còn hướng tới mục đích giúp các em có thể vận dụng những tri thức đã học vào tạo lập văn bản,...

Sau khi kiểm chứng tính khả thi của đề tài bằng việc thực nghiệm tại trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai, chúng tôi nhận thấy, việc xây dựng lại câu hỏi đánh giá kết quả đọc hiểu văn bản thơ lãng mạn Việt Nam 1930 – 1945 là đúng đắn. Bởi các em học sinh đã tích cực hơn trong quá trình học tập và kết quả đọc hiểu của các

60

em tiến bộ rõ rệt. Sự chú ý và tinh thần tự học của các em học sinh được đề cao hơn trước. Tuy chưa thể kiểm chứng hiệu quả trên quy mô lớn, nhưng đây cũng là bước đầu cho thấy tính khả thi của việc thiết kết câu hỏi đánh giá kết quả đọc hiểu văn bản thơ lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 -1945 cho học sinh lớp 11.

Trong quá trình tiến hành nghiên cứu này, mặc dù chúng tôi đã cố gắng học hỏi, tiếp thu và nghiêm túc trong quá trình thực hiện đề tài, song không tránh khỏi những ngộ nhận, thiếu sót do hạn chế về thời gian nghiên cứu. Vì vậy, chúng tôi mong nhận được ý kiến đóng góp của các nhà nghiên cứu và thầy cô để những định hướng của đề tài khóa luận thực sự có hiệu quả thiết thực trong giảng dạy thực tế.

2. Khuyến nghị

- Cần đổi mới dạy học đọc hiểu Ngữ văn trong nhà trường THPT sao cho vai trò của HS phải được đặt lên hàng đầu, tính tích cực, chủ động của HS phải được ưu tiên hơn cả. Vai trò của GV lúc này chỉ là người hướng dẫn để các em chủ động lĩnh hội, chiếm lĩnh tri thức cũng như vận dụng tri thức vào đọc hiểu.

- Cần xây dựng hệ thống câu hỏi đánh giá kết quả đọc hiểu văn bản thơ lãng mạn Việt Nam 1930 -1945 ở lớp 11 nói riêng cũng như các văn bản khác trong chương trình Ngữ văn THPT nói chung một cách chi tiết, cụ thể. Những câu hỏi này phải được xây dựng cả trước khi đọc, trong khi đọc và sau khi đọc với hệ thống câu hỏi theo mức độ từ thấp đến cao, từ nhận biết đến thông hiểu và vận dụng. Trong đó, khi xây dựng câu hỏi phải đặc biệt quan tâm, chú ý đến những câu hỏi cốt lõi, tức là những câu hỏi đi sâu vào tìm hiểu đặc trưng thể loại của văn bản.

- Giáo viên cần được bồi dưỡng chuyên sâu về kiểm tra đánh giá. Bởi thực tế hiện nay, phần lớn những giáo viên có tuổi đều chưa thực sự được tiếp cận đến vấn đề kiểm tra đánh giá trong dạy học một cách bài bản. Trong khi đó, đây lại là một vấn đề rất cần được chú trọng nếu muốn đổi mới dạy học Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực. Việc đưa giáo viên tập huấn về kiểm tra đánh giá là một yêu cầu thiết yếu cho quá trình phát triển công tác giảng dạy.

61

Một phần của tài liệu Thiết kế câu hỏi đánh giá kết quả đọc hiểu văn bản thơ lãng mạn việt nam giai đoạn 1930 1945 cho học sinh lớp 11 (Trang 59 - 67)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(121 trang)