Câu hỏi đánh giá kết quả đọc hiểu văn bản

Một phần của tài liệu Thiết kế câu hỏi đánh giá kết quả đọc hiểu văn bản thơ lãng mạn việt nam giai đoạn 1930 1945 cho học sinh lớp 11 (Trang 25 - 30)

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.3. Câu hỏi đánh giá kết quả đọc hiểu văn bản

Có rất nhiều quan niệm khác nhau về đọc hiểu văn bản, có thể điểm qua một số cách hiểu khái quát như:

“Đọc hiểu là năng lực nhận thức phức tạp yêu cầu khả năng tích hợp thông tin trong VB với tri thức người đọc (Anderson và Pearson, 1984).

Đọc hiểu là một quá trình tư duy có chủ tâm, trong suốt quá trình này, ý nghĩa được kiến tạo thông qua sự tương tác giữa VB và người đọc (Durkin, 1993).

Đọc hiểu là một hoạt động giao tiếp ở đó người đọc lĩnh hội lời nói đã được viết thành VB nhằm thay đổi những hiểu biết, tình cảm hoặc hành vi của chính mình (Nguyễn Thị Hạnh, 2002).” [24, 35]

Đi sâu vào lĩnh vực đọc hiểu văn bản, có thể nêu qua một vài cách hiểu sau:

UNESCO [26, 357] quan niệm đọc hiểu là “khả năng nhận biết, thấu hiểu, giải thích, sáng tạo, trao đổi, tính toán và sử dụng những tài liệu viết hoặc in, kết hợp với những bối cảnh khác nhau; nó đòi hỏi sự học hỏi liên tục cho phép một cá nhân đạt được mục đích của mình, phát triển kiến thức, tiềm năng và tham gia một cách đầy đủ trong xã hội rộng lớn

Còn theo tác giả Phạm Thị Thu Hương [16, 19]: “Bản chất của đọc chính là một quá trình phức tạp, tổng hợp, đòi hỏi cần sở hữu một hệ thống các kĩ năng. Hiểu là mục đích quan trọng của việc đọc. Nhưng hiểu không tự nhiên mà đến (...) Đọc hiểu văn bản thực chất là quá trình người đọc kiến tạo ý nghĩa của văn bản đó thông qua hệ thống các hoạt động, hành động, thao tác nhất định. Hoạt động này không hề đơn giản, một chiều, một lần là xong, một lần là hết”

Gần đây quan niệm của PISA về đọc hiểu cũng được rất nhiều người quan tâm.

Theo đó, “Đọc hiểu là sự hiểu biết, sử dụng, phản hồi và chiếm lĩnh các văn bản viết

20

nhằm đạt được những mục đích, phát triển tri thức và tiềm năng cũng như tham gia vào đời sống xã hội của mỗi cá nhân” [26, 358]

Qua tìm hiểu những nghiên cứu trên, quan điểm của chúng tôi về “đọc hiểu”

khá tương đồng với quan điểm của PISA và nhận thấy: đọc hiểu là một quá trình mà người học phải là chủ thể, ở đó người đọc tiếp xúc với văn bản sau đó tiến tới giải thích, phân tích các lớp vỏ ngôn từ rồi đến tìm hiểu thế giới nghệ thuật, nội dung, tư tưởng của văn bản để đánh giá về văn bản đó, cuối cùng là vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào thực tiễn. Tóm lại, đọc hiểu chính là quá trình đọc để hiểu nhưng cao hơn nữa, đó là hiểu để vận dụng và trong cuộc sống hằng ngày.

1.3.2. Dạy học đọc hiểu văn bản

Vấn đề dạy học đọc hiểu văn bản đang ngày càng được quan tâm. Có thể điểm qua một vài quan điểm về vấn đề này.

Theo tác giả Phạm Thị Huệ [14, 26-27]: “trong dạy học đọc hiểu VB, GV không đọc hộ, hiểu thay, áp đặt cách hiểu cho HS, mà tổ chức và hướng dẫn cho HS tìm cách tiếp cận, giải mã VB với tư cách một bạn đọc tích cực, một chủ thể tiếp nhận sáng tạo, có cá tính. GV giúp HS bằng tất cả những kiến thức, kinh nghiệm đọc của bản thân, bằng toàn bộ tâm hồn, trí tuệ của mình biết đọc để hiểu VB, biết thưởng thức, biết định giá văn chương, biết biến những gì đọc được thành kiến thức của bản thân và đem kiến thức ấy thực hành trong đời sống cá nhân. Như vậy, mục tiêu của dạy học đọc hiểu VB không chỉ là giúp HS cảm nhận được nội dung, nghệ thuật của tác phẩm mà còn là giúp HS tự mình đọc, tự mình cảm, tự mình trải nghiệm những cung bậc xúc cảm, tự mình đào sâu suy nghĩ về VB...”

Còn theo tác giả Nguyễn Thanh Lâm [20, 24]: “Dạy học đọc hiểu văn bản không chỉ là chỉ ra cách thức tổ chức các hoạt động đọc hiểu văn bản trong SGK mà giúp HS biết vận dụng kĩ năng, huy động năng lực đã có để đọc hiểu các VB đồng loại, các loại văn khác trong đời sống. Đó còn là dạy HS tự học, tự nghiên cứu để các em có ý thức tự giác, có năng lực tự học suốt đời”.

Như vậy, thông qua tìm hiểu chúng tôi nhận thấy dạy học đọc hiểu văn bản rất quan trọng trong quá trình tiếp nhận và vận dụng tri thức của HS và GV. Nếu như trước đây, chúng ta thường tiếp xúc nhiều đến khái niệm “giảng văn” thì nay đã được thay thế bằng “đọc hiểu văn bản”. Với giờ “giảng văn” trước kia, vị trí của GV là độc

21

tôn, phần lớn những tiết học Ngữ văn là những tiết thuyết trình của GV và song song với nó chỉ có hoạt động đọc - chép, tức là GV chỉ đơn thuần là người truyền thụ chứ không phải là người hướng dẫn. Chính vì vậy mà vai trò của HS trong tiết học không được hát huy mà trở nên vô cùng thụ động. Còn dạy học đọc hiểu văn bản thì GV là người hướng dẫn HS sử dụng kĩ năng để đọc hiểu VB qua những hoạt động, thao tác nhất định. Lúc này, GV chỉ là người nêu vấn đề để HS tìm hiểu, là người dạy phương pháp chứ không phải là người đọc hộ, hiểu hộ các em. Do vậy tính tích cực và chủ động của HS được đẩy cao, HS có quyền đọc hiểu VB theo cảm xúc của chính mình.

Từ đó, khả năng phân tích, tổng hợp của các em cũng hình thành và phát triển mạnh hơn.

Dạy dọc đọc hiểu nói chung sẽ được hiểu như trên. Tuy nhiên, trên thực tế, dạy học đọc hiểu kịch sẽ khác dạy học đọc hiểu truyện, dạy học đọc hiểu truyện sẽ lại khác dạy học đọc hiểu thơ. Sự khác biệt này là do mỗi thể loại lại có những đặc trưng riêng biệt và dạy học đọc hiểu phải đi sâu vào đặc trưng đó. Với thơ, đó là một thể loại văn học thuộc phương thức trữ tình, cho nên yếu tố cảm xúc bao giờ cũng được đề cao. Lê Quý Đôn cũng đã từng nói: “làm thơ có ba điều chính: một là tình hai là cảnh ba là sự”. Trong thơ, nhân vật trữ tình là người trực tiếp cảm nhâ ̣n và bày tỏ

niềm rung đô ̣ng xúc cảm, nó tựa như cái tôi thứ hai của nhà thơ. Dung lượng câu chữ trong thơ ngắn hơn các thể loại khác, do đó, cảm xúc của tác giả được thể hiện một cách tập trung hơn thông qua hình tượng thơ, đặc biệt thông qua ngôn ngữ nghệ thuật, qua vần điệu, tiết tấu... Sự sắp xếp các dòng (câu) thơ, khổ thơ, đoạn thơ làm nên mô ̣t kết cấu, cấu tứ thơ riêng và cung chính sự hiê ̣p vần, xen phối bằng trắc, cách ngắt nhịp này đã tạo nên tính nha ̣c điê ̣u cho tác phẩm. Đi sâu vào dạy học đọc hiểu các văn bản thơ, điều cần chú ý là việc dạy học phải bám sát vào các đặc trưng của thơ, cụ thể là phải bám sát vào các khía cạnh thể thơ, kết cấu bài thơ, nhân vật trữ tình và cảm xúc trữ tình, ngôn ngữ, giọng điệu thơ.

1.3.3. Đặc điểm của câu hỏi đánh giá kết quả đọc hiểu văn bản

Câu hỏi đánh giá kết quả đọc hiểu văn bản nhìn chung cũng cần tuân theo những nguyên tắc của việc xây dựng câu hỏi đánh giá kết quả học tập. Bên cạnh đó, do đặc thù của môn Ngữ văn, cụ thể là với phần đọc hiểu văn bản, những câu hỏi được xây dựng sẽ được căn cứ vào những thang đo mà GV xác định để phù hợp với

22

quá trình đọc hiểu của HS. Có khá nhiều quan điểm khác nhau xoay quanh vấn đề mô hình câu hỏi này.

Dựa theo mức độ, câu hỏi được xây dựng hiện nay phần lớn dựa theo thang Bloom bao gồm các mức độ: Nhớ - Hiểu - Vận dụng - Phân tích - Đánh giá - Sáng tạo. Tuy nhiên trong thực tế, có những sự giao thoa nhất định trong các bậc nhận thức, đồng thời cũng để tiện cho việc xây dựng mục tiêu dạy học và đánh giá việc thực hiện mục tiêu, người ta thường thu gọn và xây dựng câu hỏi theo các mức độ: Nhận biết: HS chỉ cần nhớ hoặc nêu ra được những thông tin có tính đặc thù của văn bản.

Ví dụ: “Nêu những nét chính về cuộc đời, sự nghiệp, phong cách sáng tác của Xuân Diệu.”

Thông hiểu: HS nắm được ý nghĩa của văn bản và diễn đạt được kiến thức đã học theo ý hiểu của mình. Ví dụ: “Bức tranh thiên nhiên trong đoạn 1 của bài thơ Vội vàng gợi cho em liên tưởng gì ?”

Vận dụng thấp: HS có khả năng sử dụng các kiến thức đã học để thực hiện một yêu cầu, giải quyết một vấn đề trong văn bản. Ví dụ: “Phân tích cách lập luận của nhà thơ về thời gian, tuổi trẻ tình yêu làm cơ sở tư tưởng cho lẽ sống vội vàng trong đoạn 2. Từ đó, hãy đối chiếu với những nhà thơ trung đại và chỉ ra sự khác biệt trong quan niệm thời gian của Xuân Diệu”

Vận dụng cao: HS có khả năng sử dụng các kiến thức đã học giải quyết các vấn đề mang tính thực tiễn trong cuộc sống. Ví dụ: “Bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu đã cho em những nhận thức và tình cảm gì ? Từ đó hãy xây dựng một tuyên ngôn sống cho riêng mình”

Dựa theo giai đoạn, như chúng tôi đã đề cập tới trong các phân loại câu hỏi của Lê Thị Mỹ Hà, câu hỏi sẽ được xây dựng thành:

Câu hỏi chẩn đoán (CH trước khi đọc hiểu). Ví dụ: “Nhan đề Tràng giang gợi cho em suy nghĩ gì về nội dung của bài thơ ?”

Câu hỏi trong tiến trình (CH trong khi đọc hiểu). Ví dụ: “Phân tích bức tranh thiên nhiên trong khổ 1. Từ đó, hãy đánh giá cách sử dụng từ ngữ, biện pháp nghệ thuật để khắc họa hình ảnh thiên nhiên của tác giả ?”

Câu hỏi tổng kết (CH sau khi đọc hiểu). Ví dụ: “Bài thơ Tràng giang cho em những nhận thức và tình cảm gì ?”

23

Dựa theo tính chất, có thể chia ra thành câu hỏi đóng và câu hỏi mở, trong đó:

Câu hỏi mở là dạng câu hỏi không hạn chế cách trả lời của HS hay nói cách khác, HS có thể trả lời theo suy nghĩ thực của mình. Đây là dạng câu hỏi không có những phương án trả lời định sẵn, không phải dạng câu hỏi có – không. Ví dụ: “Hình ảnh nhân vật trữ tình được khắc họa như thế nào thông qua đoạn 1 bài Vội vàng ?”

Câu hỏi đóng là câu hỏi có hạn chế cách trả lời của HS, tức là những câu hỏi có phương án trả lời sẵn hoặc là dạng câu hỏi có – không. Ví dụ:

“Bức tranh thiên nhiên được nhà thơ gợi lên có vẻ đẹp như thế nào ?

A. Vẻ đẹp giản dị, tươi tắn B. Vẻ đẹp lỗng lẫy, hoành tráng

C. Vẻ đẹp gần gũi, thân quen mà đầy sức sống D. Vẻ đẹp cổ điển, trang nhã”

Dựa theo hình thức câu hỏi, có thể dễ dàng nhận thấy hiện nay các câu hỏi được chia thành hai loại chính là:

Câu hỏi trắc nghiệm. Ví dụ:

“Bài thơ nào sau đây không phải là sáng tác của Hàn Mặc Tử ? A. Đà Lạt trăng mờ C. Những giọt lệ

B. Mùa xuân chín D. Gửi hương cho gió”

Dựa theo tầm quan trọng, ta có Câu hỏi cốt lõiCâu hỏi chung.

Câu hỏi chung: chính là những câu hỏi đi vào tìm hiểu khái quát tác giả, tác phẩm hay giải thích những cụm từ,… trong văn bản. Với thơ thì đó là dạng câu hỏi:

“Nêu những nét chính về tác giả Hàn Mặc Tử ?” hoặc “Ở khổ 1, em hiểu thế nào là

nắng hàng cau”, “nắng mới lên” ở câu 2?”

Câu hỏi cốt lõi “là câu hỏi cấu trúc cả một đơn vị bài học hoặc một nội dung nào đó thành một vấn đề cần giải quyết”. “Câu hỏi cốt lõi khi nêu ra thì đáp án của nó yêu cầu phải có chứa nhiều nội dung, cần nêu bật vấn đề cần tìm hiểu nhằm gây sự chú ý của học sinh đối với bài mới, đồng thời tạo được ở các em ý thức về những nhiệm vụ chủ yếu kkhi nghiên cứu bài học” “Bản chất của câu hỏi cốt lõi: mang tính phổ quát, không cần có một câu trả lời đúng duy nhất” [7]

Trong đọc hiểu văn bản thơ thì câu hỏi cốt lõi chính là câu hỏi khai thác các khía cạnh về đặc trưng thể loại của văn bản, như thể thơ (Ví dụ: “Đặc điểm của thể

24

thơ được sử dụng trong bài ?”); nhân vật trữ tình và cảm xúc trữ tình (Ví dụ: “Hình ảnh nhân vật trữ tình được khắc họa rõ nhất qua những dòng thơ nào của đoạn 1?

Nhận xét về cảm xúc của nhân vật trữ tình trong đoạn.”); kết cấu thơ (Ví dụ: Phân tích cấu tứ của bài thơ Tràng giang ); ngôn ngữ, giọng điệu thơ ( Ví dụ: “Nhận xét cách sử dụng từ ngữ và các biện pháp tu từ của tác giả trong đoạn.”)

Một phần của tài liệu Thiết kế câu hỏi đánh giá kết quả đọc hiểu văn bản thơ lãng mạn việt nam giai đoạn 1930 1945 cho học sinh lớp 11 (Trang 25 - 30)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(121 trang)