Đặc điểm, vị trí và vai trò của văn bản thơ lãng mạn Việt Nam giai đoạn

Một phần của tài liệu Thiết kế câu hỏi đánh giá kết quả đọc hiểu văn bản thơ lãng mạn việt nam giai đoạn 1930 1945 cho học sinh lớp 11 (Trang 30 - 35)

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.4. Đặc điểm, vị trí và vai trò của văn bản thơ lãng mạn Việt Nam giai đoạn

1.4.1. Đặc điểm của thơ lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 1.4.1.1. Bối cảnh ra đời

Thơ lãng mạn Việt Nam 1930 - 1945 nằm trong sự phát triển của phong trào thơ mới, mở ra “một thời đại trong thi ca” cũng là mở đầu cho sự phát triển của thơ ca Việt Nam hiện đại.

Trước 1930, thơ cả bị quy định bởi niêm luật chặt chẽ. “Phép thi xưa bắt học trò vào trường làm một bài thơ theo thể thất ngôn luật. Thể thất ngôn luật vốn mượn của thi nhân đời Đường, nhưng khi người ta đưa nó vào khoa cử, nó còn bó buộc gấp mấy luật Đường (...) Thí sinh làm thơ nhất định phải theo quy mô ấy. Không theo, hỏng” [25, 18]

Chủ nghĩa tư bản xâm nhập vào Việt Nam cùng với việc người Pháp đẩy mạnh việc khai phá thuộc địa đã vô tình đẩy nhanh làn gió của văn hóa phương Tây vào nước ta. Giới trí thức trẻ nhanh chóng tiếp thu văn hóa Pháp và dần nhận ra sự gò bó, khuôn khổ của vần luật trong thơ cũ đã hạn chế sức sáng tạo của nghệ sĩ. Ngày 10 tháng 3 năm 1932, bài thơ Tình già của Phan Khôi ra mắt bạn đọc trên báo Phụ nữ tân văn số 122 cùng với bài giới thiệu mang tên Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ đã ngay lập tức tạo nên dư âm mạnh mẽ, mở toang cánh cửa dẫn tới con đường thơ mới, con đường thơ lãng mạn. “Ông bày ra một lối thơ “đem ý thật có trong tâm khảm mình tả ra bằng những câu có vần mà không bó buộc bởi niêm luật gì hết” và tạm mệnh danh là thơ mới” [25, 21]

1.4.1.2. Các tác giả tiêu biểu

“Sự xuất hiện ý thức về cái tôi cá nhân là một bước tiến quan trọng trong hành trình tư tưởng và nghệ thuật của nhân loại. Bởi vì sáng tạo nghệ thuật mang tính đặc thù, đó là sự sáng tạo của một cá nhân… Cho nên sự giải phóng bản ngã, giải phóng

25

cái tôi của chủ thể sáng tạo sẽ phát huy khả năng sáng tạo của nghệ sĩ, làm xuất hiện nhiều phong cách cá nhân” [7, 28]

Bởi thế mà trong giai đoạn 1930 - 1945, văn học Việt Nam đã được chứng kiến sự xuất hiện của biết bao hồn thơ độc đáo. Những hồn thơ ấy được sản sinh ra từ cuộc đấu tránh kéo dài cả mười năm giữa “thơ mới” và “thơ cũ”. Ở đó, như lời của Hoài Thanh, Hoài Chân: “Tôi không so sánh các nhà thơ mới với Nguyễn Du để xem ai hơn ai kém. Đời xưa có thể có những bậc kỳ tài đời nay không sánh kịp. Đừng lấy một người sánh với một người. Hãy sánh thời đại cùng thời đại. Tôi quyết rằng trong lịch sử thi ca Việt Nam chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị nhơ Chế Lan Viên... và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu” [25, 34]

Mỗi nhà thơ đều mang một phong cách riêng, trong đó chịu ảnh hưởng từ phương Tây, cụ thể là Pháp. Điều này đã được các nhà nghiên cứu chỉ ra khá rõ trong thơ của Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận hay Hàn Mặc Tử với trường thơ loạn. Những nhà thơ này đã góp phần làm giàu cho nền thi ca Việt Nam, trở thành những tác giả có tầm ảnh hưởng đến ngày nay.

1.4.1.3. Đặc điểm về nội dung và nghệ thuật a. Nội dung

Thơ lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 chủ yếu là tiếng nói của tầng lớp trí thức tiểu tư sản. Họ khát khao được bộc lộ mình, khát khao được giải phóng cái “tôi” cá nhân. Hành trình khẳng định cái “tôi” chính là nội dung chính của thơ mới lúc này.

Ở đó, ta thấy cảm xúc bao trùm trong thơ vẫn là cảm xúc buồn. “Thơ mới vừa cất tiếng khóc chào đời đã buồn ngay trong bản chất” (Phan Cự Đệ). Những thanh niên trí thức thời ấy rất yêu đời nhưng lại nhận thấy “cuộc đời cay cực”. “Thơ ca của họ phản ánh cái tâm trạng u uất, day dứt của những người không có lối thoát” (Hồng Chương), nhưng cái tình của họ, cái tình của những người yêu đời, yêu cuộc sống nhưng “đứng giẫm chân tại chỗ khóc than” (Chế Lan Viên) cũng rất đáng để chúng ta

26

cảm thông và trân trọng. . Những vần thơ của họ là “tiếng hát đau khổ, không chịu vui với cái xã hội ngang trái vùi dập đương thời”. [13, 22]

Mặc dù thơ lãng mạn 1930 – 1945 không trực tiếp đề cập tới đấu tranh chính trị, nhưng “tấm lòng yêu nước thầm kín”, tấm lòng nhân ái trong thơ không phải hoàn toàn biến mất. Chắc chắn người đọc đều nhận ra được chiều sâu tình cảm, những biến chuyển tinh tế nhất trong tâm hồn các nhà thơ khi tiếp xúc với cảnh vật thiên nhiên, cuộc sống con người. Thế hệ trẻ ngày nay vẫn có thể tìm thấy trong nhiều tác phẩm những lời giải đáp, sự khích lệ động viên và đặc biệt là lí tưởng sống đẹp, sống hết mình cho tình yêu con người, cuộc đời. Đó là tiếng gọi của khát vọng tự do, của ước mơ hạnh phúc ngân vang trong thơ Xuân Diệu, Nguyễn Bính,…

Mỗi tác phẩm thơ lãng mạn Việt Nam 1930 - 1945 đểu trĩu nặng tâm sự. Quả đúng như lời Hoài Thanh [25, 59]: “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ. Ta ngơ ngẩn buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận”

b. Nghệ thuật

Thơ lãng mạn Việt Nam 1930 - 1945 đã phản ánh một cuộc cách mạng trong thi ca mà ở đó, những giới hạn về thể thơ, về niêm luật gần như bị xóa nhòa. Như Hoài Thanh, Hoài Chân nói đó là “cuộc thí nghiệm táo bạo để định lại giá trị của những khuôn phép xưa” và kết quả chính là:

“Thể Đường luật vừa động đến là tan. Những bài Đường luật của Quách Tấn dầu được hoan nghên cũng khó làm sống phép đối chữ, đối câu cùng cái nội dung chặt chẽ của thể thơ.

Thất ngôn và ngũ ngôn rất thịnh. Không hẳn là cổ phong. Cổ phong ngày xưa đã thúc lại thành Đường luật. Thất ngôn và ngũ ngôn bây giờ lại do luật Đường giãn và nói ra cho nên êm tai hơn. Cũng có lẽ vì nó ưa vần bằng hơn vần trắc.

Ca trù biến thành thơ tám chữ. Thể thơ này ra đời từ trước 1936, nghĩa là trước khi ông Thao Thao đề xướng. Yêu vận mất. Phần nhiều vần liên châu.

27

Lục bát vẫn được trân trọng; ảnh hưởng Truyện Kiều và ca dao. Song thất lục bát cơ hồ chết, không hiểu vì sao.

Thơ bốn chữ trước chỉ thấy trong những bài vè, nay cất lên hàng những thể thơ nghiêm chỉnh.

Lục ngôn thể trước chỉ thấy trong Bạch vân thi tập thỉnh thoảng cũng được dùng.

(...)

Luật đổi thanh rất tự nhiên trong thơ Việt vẫn chi phối hết thảy các thể thơ.

Nói tóm lại, thơ lãng mạn giai đoạn này đã vứt đi rất nhiều khuôn phép xưa và biến đổi thể thơ cùng vần, nhịp một cách linh hoạt. Xúc cảm của người nghệ sĩ là yếu tố tiên quyết sẽ quyết định hình dáng thơ cùng vần, nhịp thơ như thế nào” [25, 53-54]

Thế giới nhân vật trữ tình trong thơ lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 in đậm bởi “cái tôi cá nhân, bản thể, dám bày tỏ tư tưởng, tình cảm một cách chân thực, tự nhiên”, nhưng nó không chỉ là “cái tôi cảm xúc mà còn là cái tôi duy lí được thể hiện cụ thể qua việc sử dụng cấu trúc câu thơ, sự đan xen yếu tố tự sự, việc thích lí giải, phân tích, cắt nghĩa… những khía cạnh khác nhau của cảm xúc”, có khi ta lại thấu “cái tôi mộng mơ, rạo rực yêu đời” hoặc “cái tôi cô đơn, buồn chán”. [24, 49-51]

Có thể nói, thơ lãng mạn là loại hình thơ có kết cấu bài thơ theo mạch cảm xúc tự nhiên. Bài thơ “được tổ chức dựa vào diễn biến có thật của cảm xúc với những cung bậc của nó”. Các nhà thơ nghiêng về diễn tả theo thời gian trình tự thật của cảm xúc của sự quan sát. Chính về thế, nhan đề bài thơ thường thể hiện những khoảnh khắc tâm trạng và nó làm cho hình thức thơ, kết cấu bài thơ thay đổi. Nó đem đến

“nhiều cách mở đầu và kết thúc bài thơ rất phóng túng”. Theo một lô-gic tự nhiên, việc tôn trọng dòng chảy tự nhiên của cảm xúc, tính chất chất nghị luận đòi hỏi các nhà Thơ mới phải tìm đến một thứ ngôn ngữ thơ hiện đại: câu thơ điệu nói. Bài thơ thường dài hơn, cách cấu tứ đa dạng hơn, nhạc điệu phong phú và biến hóa hơn, một phần nhờ vào sự thay đổi trong cách ngắt nhịp, một phần nhờ vào hệ thống vần được thay đổi trong mỗi khổ thơ. “Sự đồng nhất giữa khái niệm câu thơ và dòng thơ bị phá vỡ” tạo thành hiện tượng vắt dòng ; diện tích câu thơ, dòng thơ được mở rộng, số lượng các hư từ và những từ có chức năng tạo nhạc tăng lên, nhịp ngắt cũng linh hoạt hơn...[ 24, 54-55]

28

Trong nghệ thuật ngôn từ, giọng điệu chủ yếu bộc lộ qua âm thanh, nhịp điệu.

Thơ lãng mạn là thơ trữ tình hiện đại nên nó mang giọng cảm xúc cá nhân, cá thể,“lấy tiếng nói người làm nề tảng cho nhạc điệu, giọng điệu” , đó là giọng điệu “trữ tình điệu nói” (Trần Đình Sử). Về cảm xúc: “buồn, cô đơn là giọng điệu chung của Thơ mới” (Nguyễn Đăng Điệp) [24, 54] cũng là giọng điệu của thơ lãng mạn giai đoạn này. Tâm trạng này có nguyên nhân khách quan. Nó xuất phát từ hiện thực xã hội và hoàn cảnh sống của mỗi nhà thơ đương thời.

Như vậy thơ lãng mạn giai đoạn 1930 - 1945 nằm trong sự phát triển của phong trào thơ mới, mà thông qua đó, ta thất có sự cách tân cả vể nội dung và nghệ thuật, và ở đó ta phải chú ý đến những khía cạnh mang tính đặc trưng của thể loại.

Chẳng hạn như thể thơ của thơ lãng mạn Việt Nam 1930 – 1945 không bị gò bó bởi niêm luật. Dù là thể thơ thất ngôn, ngũ ngôn hay tự do thì xúc cảm người nghệ sĩ mới là yếu tố quyết định hình dáng, vần, nhịp thơ. Nhân vật trữ tình trong thơ bày tỏ rõ tư tưởng, tình cảm của mình; nó có khi ảo não như Huy Cận; thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu; bí ẩn, mâu thuẫn như Hàn Mặc Tử. Những xúc cảm trữ tình này được thể hiện thông qua ngôn ngữ thơ tinh tế với những âm thanh, nhịp điệu được biến tổi linh hoạt; với những hình tượng thơ mang tính ẩn dụ cao.

1.4.2. Vị trí và vai trò của thơ lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930-1945 trong chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn THPT

Chúng tôi xét thấy chương trình Ngữ văn THPT (ban cơ bản) đã đưa vào những văn bản thơ lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 để giảng dạy sau:

Bảng 1.3. Các tác phẩm thơ lãng mạn Việt Nam 1930 - 1945 trong chương trình Ngữ văn 11

STT Tên bài và tác giả Lớp học Học kì Ghi chú

1 Vội vàng (Xuân Diệu) 11 2

2 Tràng giang (Huy Cận) 11 2

3 Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử) 11 2

4 Tương tư (Nguyễn Bính) 11 2 Đọc thêm

5 Chiều xuân (Anh Thơ) 11 2 Đọc thêm

29

Những tác phẩm thơ lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 trong chương trình Ngữ văn THPT đều được sắp xếp đưa vào dạy học ở lớp 11, học kì 2 và chiếm 6 tiết/ 50 tiết, trong đó có 3 bài học chính và 2 bài đọc thêm.

Những sáng tác này được đưa vào chương trình Ngữ văn 11 để cung cấp cho HS những tri thức về thể loại cũng như nội dung và nghệ thuật của từng tác phẩm. Từ đó, HS có thể khái quát nên những đặc điểm chính về thơ lãng mạn Việt Nam 1930 – 1945 cũng như có thể vận dụng những tri thức đó để phân tích các tác phẩm đã học và các tác phẩm khác cùng thể loại. Như vậy, kết quả cần đạt không chỉ là các em phải có nền tri thức về các tác phẩm của thơ lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930-1945 theo đặc trưng thể loại mà còn phải có kĩ năng vận dụng tri thức vào đọc hiểu văn bản theo các yêu cầu được đưa ra cũng như tiến tới tạo lập văn bản.

Có thể thấy rằng, chỉ với một mảng văn học trong một giai đoạn văn học 1930 – 1945 nhưng các tác phẩm được đưa vào chương trình dạy học với số tiết cùng với hệ thống mục tiêu, kết quả cần đạt không hề nhỏ. Điều này cũng phần nào khẳng định tầm quan trọng của các sáng tác thơ lãng mạn Việt Nam 1930 - 1945 trong chương trình Ngữ văn 11 nói riêng và Ngữ văn THPT nói chung.

Một phần của tài liệu Thiết kế câu hỏi đánh giá kết quả đọc hiểu văn bản thơ lãng mạn việt nam giai đoạn 1930 1945 cho học sinh lớp 11 (Trang 30 - 35)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(121 trang)