Chương 2. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Khái quát về huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội
2.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội
Bảng 2.2: Đặc điểm dân số và lao động hu ện Chương Mỹ năm 2018
TT Chỉ ti u Số lượng Người Tỷ trọng %
1 Tổng nhân hẩu 298.589 100,00
1.1 Nhân khẩu nông nghiệp 269.391 90,22
1.2 Nhân khẩu phi nông nghiệp 29.198 9,78
2 Tổng lao động 135.264 100,00
2.1 Lao động nông nghiệp 74,885 55,36
2.2 Lao động phi nông nghiệp 60.379 44,64
3 Tổng số hộ 71.753 100,00
3.1 Hộ nông nghiệp 63.766 88,87
3.2 Hộ phi nông nghiệp 7.987 11,13
4 B nh quân nhân hẩu/hộ 4,16
5 B nh quân lao động/hộ 1,88
Nguồn: UBND huyện Chương Mỹ 2018 Tình hình dân số và lao động của huyện Chương Mỹ được tổng kết trên bảng 2.2. Theo số liệu tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2018, toàn huyện Chương Mỹ có 294.078 người, trong đó dân số thành thị là 40.056 người (chiếm 14,30%), nông thôn là 254.022 người (chiếm 85,69%). Mật độ dân cư trung bình là 1251 người/km2. Trên toàn địa bàn huyện, dân tộc kinh chiếm đại đa số, dân tộc Mường chỉ có 01 thôn Đồng Ké (thuộc xã Trần Phú) có khoảng 130 hộ với trên 500 nhân khẩu; ngoài ra còn có một ít các đồng bào dân tộc thiểu số khác nằm rải rác tại các xã, thị trấn.
Huyện Chương Mỹ có 72% lao động sống bằng nghề nông nghiệp, trong đó lao động trong độ tuổi là 57%. Nhìn chung, lao động trên địa bàn huyện qua các năm không có sự biến động lớn, số người trong độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ không
37
nhỏ thể hiện dân số trẻ, lao động nông nghiệp có kinh nghiệm sản xuất, cần cù, chịu khó nhưng lượng lao động chưa qua đào tạo còn ở mức cao, số lao động đã và đang đào tạo chiếm tỷ lệ nhỏ dẫn đến việc tiếp thu các ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến còn gặp nhiều hạn chế.
2.1.2.2.Tình hình phát triển kinh tế Cơ cấu các ngành kinh tế
Cùng với tiến trình hội nhập và phát triển kinh tế của toàn xã hội, Chương Mỹ với thế mạnh là một huyện nông nghiệp với nhiều ngành nghề phụ trong những năm gần đây đã có nhiều thay đổi theo hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, diện mạo của huyện ngày càng trở nên hiện đại hơn, phát triển hơn.
Bảng 2.3: Cơ cấu GDP của hu ện Chương Mỹ
Đơn vị tính: Tỷ đồng
TT Chỉ ti u Đơn vị
tính
Năm 2016
Năm 2017
Năm 2018
TĐPTBQ (%) I Giá trị sản xuất Tỷ
đồng 15.350 16.489,41 17.941,57 108,11 1 Sản xuất nông lâm –
thủy sản 3.230 3.421,03 4.212,10 114,20
2 Công nghiệp – TTCN 9.070 9.782,38 9.837,30 104,14 3 Thương mại – dịch vụ 3.050 3.286 3.892,17 112,97
II Cơ cấu %
1 Sản xuất nông lâm –
thủy sản 21,04 20,75 23,48
2 Công nghiệp – TTCN 59,09 59,33 54,83
3 Thương mại – dịch vụ 19,87 19,93 21,69
III Một số chỉ tiêu bình quân
1 Thu nhập bình quân đầu
người 25,3 Triệu đồng/năm
2 Bình quân lương thực
đầu người 450 Kg/người/năm
3 Tỷ lệ hộ nghèo 3%
Nguồn: UBND huyện Chương Mỹ 2018
38
Nhìn vào số liệu trên bảng 2.3, ta thấy tốc độ tăng trưởng kinh tế trong những năm gần đây của huyện có sự chuyển biến mạnh theo hướng tích cực. Năm 2016, tốc độ phát triển kinh tế là 15,7%, trong đó ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng 21,04%, ngành công nghiệp – TTCN cơ bản 59,09% và ngành thương mại - dịch vụ chiếm 19,87%. Sang tới năm 2017 tốc độ phát triển kinh tế là 12,8%, cơ cấu các ngành nông nghiệp, công nghiệp, thương mại dịch vụ lần lượt là 20,75%; 59,33%
và 19,87%. Năm 2018 kinh tế huyện phát triển 13,4% trong đó ngành nông nghiệp tăng 23,12%; ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tăng 0,56%; ngành thương mại, du lịch và dịch vụ tăng 18,44% so với năm 2017.
Với những phát triển như trên, huyện Chương Mỹ đã và đang phát triển kinh tế theo hướng nông nghiệp kết hợp với sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ. Tất cả đều hướng tới mục tiêu xây dựng huyện Chương Mỹ giàu đẹp, văn minh, tiến bộ, vững bước đi lên trên con đường hội nhập và phát triển.
- Sản xuất công nghiệp
Toàn huyện hiện có 01 khu công nghiệp Phú Nghĩa với diện tích 170ha; đã quy hoạch lại các cụm công nghiệp trình Ủy ban nhân thành phố, dự kiến xây dựng 04 cụm công nghiệp: Ngọc Sơn (31ha), Đông Phú Yên (75ha), Nam Tiến Xuân (50ha), Mỹ Văn (31ha); đã và đang thu hút nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước về đầu tư xây dựng phát triển công nghiệp - xây dựng cơ bản có hiệu quả, thu hút 15.000 lao động có việc làm thường xuyên và hàng vạn lao động thời vụ. Trên địa bàn huyện có trên 600 doanh nghiệp công nghiệp – xây dựng cơ bản đang hoạt động mang lại hiệu quả kinh tế, thu hút lao động trên địa bàn vào sản xuất. Tiếp tục tổ chức thực hiện quy hoạch các cụm công nghiệp; xây dựng hạ tầng kinh tế khu công nghiệp Phú Nghĩa; đôn đốc thực hiện quy hoạch hạ tầng kỹ thuật và đường vào cụm công nghiệp Ngọc Sơn, chuyển 165 lò gạch thủ công sang công nghệ tiên tiến lò Tuylen và lò Hôpman, lò nung liên tục kiểu đứng; giải quyết các vướng mắc khi thực hiện quy hoạch hạ tầng kinh tế khu công nghiệp Phú Nghĩa.
Hiện nay toàn huyện có 160 làng có nghề/ 214 làng trong toàn huyện, đạt 74,77%; Trong đó: Làng nghề Mây tre đan là phổ biến nhất: 27 làng, chiếm 87,09
%; còn lại là các làng nghề chế biến nông, lâm sản, làm nón lá, thêu may xuất khẩu, mộc.... Nghề mây tre giang đan là nghề cổ truyền của huyện, hiện nay có 32/32 xã,
39
thị trấn có nghề này. Đã thu hút trên 50.000 hộ, trên 120.000 lao động; trong 150 doanh nghiệp có 75 doanh nghiệp tư nhân, Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất nghề mây tre giang đan. Hàng mây tre giang đan của huyện Chương Mỹ đã được phát triển nhiều nơi trong nước và được xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới như:
Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, các nước EU... huyện đang triển khai thực hiện quy hoạch phát triển làng nghề kết hợp với du lịch Phú Vinh - Phú Nghĩa đó được phê duyệt. Đây là một trong ba dự án lớn của Thành phố về làng nghề nhằm phát triển làng nghề gắn với du lịch làng nghề.
- Hoạt động thương mại, dịch vụ
Hoạt động thương mại, dịch vụ tiếp tục phát triển ổn định. Toàn huyện hiện có trên 263 doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, 7.623 cơ sở kinh doanh thương mại, dịch vụ. Mặc dù giá cả thị trường biến động không ổn định song các cơ sở kinh doanh vẫn hoạt động mang lại hiệu quả.
2.1.2.3. Đặc điểm văn hóa, y tế, giáo dục
Nhìn chung, đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân huyện Chương Mỹ được chính quyền các cấp và nhân dân quan tâm đúng mức. Các xã, thị trấn trên địa bàn huyện đều có điểm bưu điện - văn hóa, nhà văn hóa thôn khu. 100% các xã, thị trấn, các trường học được trang bị máy tính kết nối mạng Internet. Huyện có nhiều khu danh lam thắng cảnh đẹp như chùa Trăm Gian, chùa Trầm, chùa Hỏa Tinh, chùa Cao, chùa Sấu, đình Nội, đình Xá, đình Nghè...
Về y tế, huyện Chương Mỹ có 01 bệnh viện đa khoa, 01 trung tâm y tế dự phòng cấp huyện và 100% các xã thị trấn có trạm y tế được xây dựng kiên cố, trong đó có 27/32 xã thị trấn có trạm y tế đạt chuẩn quốc gia, chăm lo kịp thời cho đời sống sức khỏe của nhân dân trong huyện.
Về giáo dục, huyện luôn coi trọng công tác giáo dục và xem đây là khâu đột phá trong thay đổi cơ cấu lao động của huyện. Trên địa bàn huyện hiện có 02 trường đại học, 02 trường cao đẳng nghề, một số trường đào tạo sỹ quan của quân đội, 04 trường trung học phổ thông. Ngoài ra, 100% các xã thị trấn đều có các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở được xây dựng kiên cố. Đây là những điều kiện rất thuận lợi cho việc giáo dục, nâng cao tỷ lệ lao động có trình độ cao trên địa bàn huyện.
40
2.1.2.4. Đặc điểm cơ sở hạ tầng
Với lợi thế về vị trí địa lý là gần thủ đô Hà Nội, nên cơ sở hạ tầng của huyện Chương Mỹ tương đối phát triển, góp phần không nhỏ trong việc phát triển sản xuất và dịch vụ nông lâm công nghiệp của cả huyện.
Về giao thông, trên địa bàn huyện có 35km đường quốc lộ chạy qua, trên 65 km đường tỉnh lộ và huyện lộ, 617 km đường giao thông liên thôn, xóm. Các tuyến đường này đều được trải nhựa, bê tông hóa hoặc rải đá. Nhìn chung, các tuyền đường giao thông này đã cơ bản đáp ứng được yêu cầu đi lại, phục vụ sản xuất và giao thương hàng hóa của nhân dân trong huyện với bên ngoài.
Về thủy lợi, huyện có 3 con sông là sông Tích, sông Bùi và sông Đáy chảy qua với chiều dài 56 km, có 3 hồ chứa nước lớn với dung tích trên 10 triệu m3 cùng với các công trình thủy lợi, hệ thống kênh mương dẫn nước đến tận các khu sản xuất nông nghiệp, đảm bảo tưới tiêu kịp thời cho khoảng 12 nghìn héc-ta diện tích đất nông nghiệp.