Khi xây dựng DMT sử dụng tại bệnh viện, bệnh viện YDCT tỉnh Hưng Yên căn cứ vào Thông tư số 05/2015/TT-BYT ngày 17/3/2015 của Bộ Y tế quy định ban hành DMT đông y, thuốc từ dược liệu và vị thuốc YHCT thuộc phạm vi thanh toán của Bảo hiểm Y tế và thông tư 30/2018/TT-BYT về việc ban hành DMT tân dược thuộc phạm vi thanh toán của quỹ BHYT. Do đó, 100% các thuốc trong danh mục được sử dụng thuộc phạm vi thanh toán của quỹ Bảo hiểm.
4.1.1. Về cơ cấu danh mục thuốc theo thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu và thuốc hóa dược
DMT sử dụng tại bệnh viện YDCT tỉnh Hưng Yên cũng có cơ cấu gồm 2 nhóm thuốc hóa dược và thuốc cổ truyền như các bệnh viện y dược học cổ truyền trên cả nước, phù hợp với chủ trương chung là đa khoa hóa YHCT, kết hợp YHCT và YHHĐ.
Danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện năm 2020 gồm 411 SKM.
Thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu với 227 KM chiếm 55,23% SKM và 57,37% GTSD, thuốc hóa dược với 185 KM chiếm 45,01% SKM và 42,63%
GTSD. Trong đó, vị thuốc cố truyền với 187 khoản mục chiếm 39,43%
GTSD; chế phẩm YHCT với 39 khoản mục chiếm 17,94% GTSD.
Tỷ lệ vị thuốc, thuốc thành phẩm và thuốc hóa dược theo giá trị sử dụng lần lượt là 39,43%, 17,94%, 42,63%. So sánh với tỷ lệ này tại các bệnh viện YHCT, tại BV YHCT Trung Ương năm 2018, tỷ lệ tương ứng là 32,42%, 35,56%, 32,02% [19]; tại bệnh viện YHCT Hải Phòng năm 2018 tỷ lệ là 86,5%; 10,5% và 3,0% [20].
52
Kết quả sử dụng vị thuốc YHCT tại bệnh viên YDCT tỉnh Hưng Yên cao hơn so với một số bệnh viện YHCT khác như: BV YHCT Trung ương năm 2018 vị thuốc cổ truyền chiếm 32,42% GTSD [19]; Bệnh viện YHCT – Bộ công an năm 2019 vị thuốc cổ truyền chiếm 23,70% GTSD [18]; thấp hơn BV YHCT Hải Phòng năm 2019 vị thuốc cổ truyền chiếm 86,5% GTSD [20].
Như vậy nhìn chung, vị thuốc là nhóm có giá trị sử dụng lớn nhất, chiếm khoảng 40% trong tổng GTSD, nhóm thuốc hóa dược chiếm khoảng 40% trong giá trị. Đặc điểm này phù hợp với thực tế bệnh viện YDCT Hưng Yên đang thực hiện đa khoa KCB kết hợp YHCT và YHHĐ. Việc thực hiện kết hợp YHHĐ với YHCT trong điều trị, thực hiện khám chữa bệnh đa khoa đã góp phần không nhỏ vào việc đảm bảo nguồn thu cho bệnh viện, tuy nhiên cũng rất cần quan tâm đến việc sử dụng đúng, hợp lý các thuốc hóa dược để tránh lạm dụng thuốc hóa dược, làm mất đi vai trò chủ đạo, nét đặc chưng của YHCT tại bệnh viện.
4.1.2. Về cơ cấu DMT theo nhóm tác dụng
Danh mục thuốc hóa dược: số khoản mục thuốc sử dụng tại bệnh viện khá đa dạng, có tổng 185 khoản mục nằm trong 20 nhóm (trong tổng 27 nhóm) tác dụng dược lý. Trong đó 3 nhóm thuốc có GTSD cao nhất đó là:
Hocmon và các thuốc tác động vào hệ thống nội tiết, thuốc tim mạch, nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn, với các tỷ lệ tương ứng là 33,97%; 32,01% và 14,91%. Đặc điểm này cũng tương tự như tại bệnh viện YHCT Trung Ương và các bệnh viện YHCT cùng tuyến và phù hợp với mô hình bệnh tật tại bệnh viện. Tại BV YHCT TƯ năm 2018 nhóm tim mạch cao nhất với 29,35% GTSD sau đó là nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn 20,50% [19]; tại BV YHCT – Bộ công an năm 2019 cũng tương tự nhóm tim mạch cao nhất với 18,18% và Hocmon và các thuốc tác động vào hệ thống nội tiết thứ hai là 12,57%, nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn chiếm 11,53% [18]. Nhóm thuốc tim mạch và
53
thuốc hormone là nhóm có các thuốc chủ yếu điều trị các bệnh lý mạn tính như huyết áp, tiểu đường, tim mạch được cấp thuốc bảo hiểm hàng tháng tại bệnh viện có số lượng sử dụng lớn; chính vì vậy, đây cũng là những nhóm thuốc cần lưu ý trong công tác cung ứng và lưu trữ tại kho để đảm bảo công tác cấp phát thuốc cho bệnh nhân. Nhóm thuốc thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn, trong đó sử dụng nhiều là các thuốc kháng sinh có giá trị sử dụng lớn ở các bệnh viện đa khoa cũng như viện YHCT. Tỷ lệ trung bình tại các bệnh viện tuyến trung ương là 25,7%, tuyến tỉnh là 32% và tuyến huyện là 43,1% [17]. Tại bệnh viện YDCT Hưng Yên, việc sử dụng kháng sinh hoàn toàn theo kinh nghiệm vì vậy, trong quá trình kiểm tra, giám sát sử dụng thuốc tại bệnh viện rất cần quan tâm đến việc sử dụng các thuốc kháng sinh một cách hợp lý, đúng bệnh tránh tình trạng lạm dụng kháng sinh để hạn chế kháng thuốc.
Nhóm thuốc chống rối loạn tâm thần và thuốc tác động lên hệ thần kinh cũng là một nhóm thuốc cần lưu ý trong quá trình theo dõi giám sát sử dụng, nhóm thuốc này đứng vị trí thứ 6, chiếm 3,08% GTSD và có nhiều hoạt chất hiện tại sẽ bị giới hạn các chỉ định và thay đổi tỷ lệ thanh toán Bảo hiểm theo thông tư 30/2018/TT-BYT của Bộ Y tế. Trong đó, có các hoạt chất là:
cerebrolysin, choline alfoscerat, mecobalamin, vinpocetin. Vì vậy, việc xây dựng danh mục thuốc và dự trù thuốc sử dụng năm 2021 cần đặc biệt quan tâm đến cân nhắc loại bỏ khỏi danh mục hoặc loại hạn chế lượng thuốc dự trù.
Danh mục thuốc thành phẩm nhóm thuốc an thần, định chí, dưỡng tâm có GTSD và số khoản mục cao nhất với 39,05% GTSD và 23,08% SKM).
Đây là một nhóm thuốc bổ trợ thần kinh, việc sử dụng nhiều nhóm thuốc này cũng phù hợp với đặc điểm bệnh nhân điều trị ở viện phần lớn là người cao tuổi, ăn ngủ kém. Tuy nhiên, trong nhóm còn 2 thuốc có thành phần và công dụng tương tự nhau là hoạt huyết dưỡng não BDF và tuần hoàn não Thái
54
Dương được sử dụng đồng thời, điều này là chưa hợp lý, cần xem xét chỉ sử dụng một thuốc có chi phí và hiệu quả cao hơn.
Danh mục vị thuốc, 4 nhóm thuốc có giá trị sử dụng lớn nhất là: nhóm thuốc bổ khí 16,30% GTSD; nhóm thuốc bổ huyết 14,14% GTSD; nhóm phát tán phong thấp 13,47% GTSD; nhóm thuốc hoạt huyết, khứ ứ 12,87%
GTSD. Đặc điểm này tương đồng với bệnh viện YHCT Trung Ương 4 nhóm có GTSD lớn nhất là: nhóm bổ khí chiếm 15,72% GTSD, nhóm hoạt huyết khứ ứ 14,68% GTSD, nhóm bổ huyết 11,56% GTSD, phát tán phong thấp 8,12% [19] và một số bệnh viện YHCT cùng tuyến như bệnh viện YHCT Hải Phòng nhóm bổ khí 16,6%, Bổ huyết 15,7%, an thần 15,7%, Phát tán phong thấp 15% [20]. Đây là bốn nhóm thuốc cơ bản được sử dụng trong thang thuốc YHCT, phù hợp với mô hình bệnh tật trong YHCT.
4.1.3. Về cơ cấu danh mục thuốc theo nguồn gốc xuất xứ
DMT hóa dược, thuốc sản xuất trong nước chiếm tỷ lệ nhiều gấp đôi so với thuốc nhập khẩu về SKM ( tỷ lệ là 64,86% và 35,14%) nhưng các thuốc nhập khẩu lại có GTSD lớn nhiều so với thuốc sản xuất trong nước (68,59%
GTSD là thuốc nhập khẩu so với 31,41%). Các thuốc nhập khẩu số khoản mục không nhiều, tập trung chủ yếu vào các nhóm thuốc thuốc tim mạch và các thuốc nhóm thuốc hocmon và các thuốc tác động vào hệ thống nội tiết sử dụng chủ yếu trong điều trị các bệnh mãn tính như tiểu đường, huyết áp, tim mạch cấp phát cho các bệnh nhân ngoại trú đăng ký ban đầu tại viện; nhưng do giá thành cao và số lượng sử dụng lớn nên tổng giá trị sử dụng lớn. Tỷ lệ giá trị sử dụng thuốc hóa dược nhập khẩu cao trong khoảng 70% phổ biến ở nhiều bệnh viện YHCT, YHCT Trung Ương năm 2018 85,08% GTSD [19], tuy nhiên tại bệnh viện YHCT – Bộ công an năm 2019 thì thuốc nhập khẩu chỉ chiếm 14,79% GTSD [18].
Danh mục vị thuốc sử dụng tại viện, các thuốc nhập khẩu còn chiếm tỷ lệ lớn cả về SKM (37,43%) và GTSD (67,07%), trải đều trên tất các các
55
nhóm tác dụng dược lý của thuốc, chủ yếu là thuốc nhập từ Trung Quốc. Tỷ lệ này tại bệnh viện YDCT tỉnh Hưng Yên cao hơn đôi chút so với tỷ lệ tương ứng ở các bệnh viện YHCT khác, bệnh viện YHCT Hải Phòng năm 2019 là 87% GTSD và 49,6% SKM thuốc nhập khẩu [20]; BV YHCT Trung ương năm 2018 là 74,36% GTSD và 53,95% SKM [19]. Tỷ lệ GTSD thuốc nhập khẩu lớn hơn nhiều so với thuốc sản xuất trong nước ( 67,07% và 32,93%) điều này cũng đang phản ánh thực tế có rất nhiều vị thuốc thường được kê trong bài thuốc thang, có lượng sử dụng lớn đang là thuốc nhập khẩu.
Theo chiến lược phát triển ngành Dược đến năm 2030: Thuốc sản xuất trong nước chiếm 80% tổng giá trị thuốc tiêu thụ trong năm. Bên cạnh đó, việc sử dụng thuốc nhập khẩu sẽ khiến nguy cơ gia tăng chi phí điều trị, bệnh viện giảm chủ động trong khâu cung ứng thuốc trong trường hợp dịch bệnh, hết hàng. Để phù hợp với chiến lược chung, rất cần có sự phối hợp của các nhà quản lý bệnh viện khi xây dựng danh mục thuốc hóa dược sử dụng tại bệnh viện để thuốc sản xuất trong nước có thể thực sự đi vào công tác phòng chữa bệnh tại các cơ sở y tế, góp phần thúc đẩy nền công nghiệp trong nước phát triển.
4.1.4. Về cơ cấu thuốc sử dụng theo đơn thành phần – đa thành phần
Cơ cấu DMT hóa dược có 185 khoản mục thì 85,95% SKM là thuốc đơn thành phần tương ứng 86,72% GTSD và có 14,05% thuốc đa thành phần tương ứng 13,28% GTSD. Chế phẩm YHCT có 35 KM đơn thành phần chiếm 97,34% GTSD và có 4 KM thuốc đa thành phần chiếm 2,66% GTSD.
Kết quả này tương đương với kết quả nghiên cứu tại bệnh viện YHCT – bộ công an năm 2019 với tỷ lệ thuốc đơn thành phần/ đa thành phần là 70/454 SKM [18]; bệnh viện YHCT Trung ương năm 2018 là 56/2482 SKM [19];
Bệnh viện YHCT – phục hồi chức năng Bình Thuận năm 2018 là 25/142 SKM [23].
56
Tỷ lệ thuốc đơn thành phần như vậy là phù hợp với khuyến cáo của Bộ y tế về ưu tiên lựa chọn thuốc đơn thành phần trong danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện theo thông tư số 21/2013/TT-BYT của Bộ Y tế quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị trong bệnh viện.
4.1.5. Về cơ cấu thuốc hóa dược sử dụng theo đường
Theo kết quả cho thấy thuốc đường uống chiếm 61,62% số KM và chiếm 72,54% GTSD trong tổng kinh phí sử dụng thuốc tại Bệnh viện y dược cổ truyền tỉnh Hưng Yên năm 2020. Số lượng thuốc dùng theo đường tiêm được sử dụng ít hơn, chiếm 27,03% số KM, và chiếm 22,43% GTSD trong tổng kinh phí sử dụng thuốc.
Đối với các bệnh viện YHCT còn có phương pháp thủy châm, phương pháp này dùng các thuốc vitamin B12 hoặc các vitamin nhóm B hỗn hợp theo đường tiêm. Như tại BV YHCT Hà Đông năm 2017, loại thuốc sử dụng cho phương pháp này chiếm tới 60% và GTSD thuốc đường tiêm chiếm 21,02%
[27]. Đây là thủ thuật đặc thù của bệnh viện YHCT cũng là ưu điểm để tăng doanh thu cho bệnh viện nhất là trong giai đoạn tự chủ hiện nay. Nên bệnh viện cần đẩy mạnh hơn nữa trong điều trị.
Kết quả nêu trên cho thấy bệnh viện đã quán triệt đúng với tinh thần hướng dẫn của Thông tư 23/2011/TT-BYT về Hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế có giường bệnh là “ chỉ dùng đường tiêm khi người bệnh không uống được thuốc hoặc khi sử dụng thuốc đường uống không đáp ứng yêu cầu điều trị hoặc với thuốc chỉ dùng đường tiêm” [7].
4.1.6. Về cơ cấu thuốc mang tên gốc (BDG) và tên thương mại (Generic) trong danh mục thuốc hóa dược đã sử dụng năm 2020
Tai bệnh viện Y dược cổ truyền tỉnh Hưng Yên năm 2020 số lượng thuốc Generic là thuốc chiếm tỷ lệ 97,30% SKM và 93,73% về GTSD.
57
Tỷ lệ này thấp hơn một số bệnh viện: bệnh viện YHCT-PHCN Bình Thuận năm 2018 số lượng thuốc Generic có 167 khoản mục chiếm tỷ lệ 100%
và chiếm 100% GTSD [23]. Tuy nhiên tỷ lệ này cao hơn so với các bệnh viện YHCT khác như BV YHCT Trung ương năm 2018 thuốc Generic chiếm tỷ lệ 83,64% SKM và chiếm 58, 99% GTSD [19], Bệnh viện YHCT – Bộ công an năm 2019 thuốc generic chiếm 75% SKM và chiếm 63,10% GTSD [18], bệnh viện YHCT Hải Phòng năm 2019 thuốc generic chiếm 97,06% SKM và chiếm 92,04% GTSD [20].
Theo Thông tư 21/2013/TT-BYT của Bộ Y tế quy định ưu tiên sử dụng thuốc generic hoặc thuốc mang tên chung quốc tế, hạn chế biệt dược gốc [6].
Qua số liệu nêu trên cho thấy bệnh viện y dược cổ truyền tỉnh Hưng Yên năm 2020 đã ưu tiên sử dụng thuốc generic trong danh mục thuốc bệnh viện. Tuy nhiên vẫn cần dành một khoản kinh phí nhất định cho một số thuốc biệt dược gốc để sử dụng cho điều trị trong các ca bệnh khó hoặc các trường hợp đặc biệt.