Thực trạng sử dụng thuốc và áp dụng các phương pháp phân tích

Một phần của tài liệu DOÃN QUỐC TUẤN PHÂN TÍCH DANH mục THUỐC sử DỤNG tại BỆNH VIỆN y dược cổ TRUYỀN TỈNH HƯNG yên năm 2020 LUẬN văn dược sĩ CHUYÊN KHOA cấp i (Trang 23 - 33)

1.4.1. Cơ cấu và giá trị tiền thuốc thuốc hóa dược và thuốc cổ truyền tại các bệnh viện chuyên khoa Y học cổ truyền

Nghiên cứu cơ cấu danh mục thuốc tại một số bệnh viện chuyên khoa YHCT cho thấy, khi xem xét cơ cấu danh mục thuốc theo phân loại thuốc hóa dược và thuốc cổ truyền (bao gồm vị thuốc cổ truyền và thuốc thành phẩm) thì nhóm thuốc vị thuốc cổ truyền (sau này gọi tắt là vị thuốc) thường là nhóm chiếm tỷ lệ về giá trị sử dụng cao nhất, bên cạnh đó nhóm thuốc hóa dược cũng chiếm khoảng 30% trong ngân sách tiền thuốc, đây được coi là một tỷ lệ hợp lý [18]. Tỷ lệ phản ánh thực tế các bệnh viện YHCT đang điều trị đa khoa, kết hợp y học cổ truyền và y học hiện đại, điều đó cũng đặt ra vấn đề cần quan tâm trong sử dụng thuốc đó là sử dụng thuốc hóa dược kết hợp với thuốc y học cổ truyền sao cho không thành lạm dụng thuốc hóa dược trong điều trị, không làm mất đi nét đặc trưng YHCT của bệnh viện.

Nhiều địa phương đã quan tâm đầu tư xây mới, nâng cấp bệnh viện YHCT như Hà Nội, Ninh Bình, Bình Thuận, Bình Định, Tây Ninh,… Chất lượng KCB bằng BYCH, YHCT kết hợp với YHHĐ đã từng bước được nâng cao, thể hiện ở trình độ chuyên môn của đội ngũ thầy thuốc YHCT; cơ sở vật chất, trang thiết bị từng bước hiện đại hóa; các quy trình kỹ thuật YDCT từng bước được chuẩn hóa; ứng dụng nghiên cứu khoa học kỹ thuật được đẩy mạnh. Công tác quản lý hành nghề, quản lý quảng cáo KCB bằng YHCT chặt chẽ và có hiệu quả hơn. Chất lượng dược liệu cổ truyền ngày càng được kiểm soát chặt chẽ, nhất là trong các cơ sở KCB bằng YHCT.

14

Một số nghiên cứu về danh mục thuốc sử dụng tại các bệnh viện y dược cổ truyền cho thấy tỷ lệ nhóm thuốc hóa dược và nhóm thuốc cổ truyển:

Bảng 1.3. Tỷ lệ nhóm thuốc hóa dược và nhóm thuốc cổ truyền Tỷ lệ

về giá trị sử dụng

BV YHCT Trung Ương năm 2018 [19]

BV YHCT – Bộ công an năm

2019 [18]

BV YHCT Hải Phòng năm

2019 [20]

Vị thuốc 32,42% 23,70% 86,5%

Thuốc thành

phẩm 35,56% 34.09% 10,5%

Thuốc hóa dược 32,02% 42,21% 3,0%

1.4.2. Cơ cấu giá trị tiền thuốc sử dụng theo các nhóm tác dụng dược lý 1.4.2.1. Danh mục thuốc hóa dược

Cơ cấu thuốc sử dụng theo nhóm tác dụng dược lý tại các bệnh viện đa khoa, có điểm khá tương đồng về việc nhóm kháng sinh thường là nhóm có tỷ lệ giá trị sử dụng cao, thường chiếm tỷ lệ cao nhất nhì trong tổng giá trị sử dụng các nhóm thuốc.

Tại các bệnh viện chuyên khoa y học cổ truyền, khi xem xét danh mục thuốc hóa dược thì nhóm thuốc tim mạch, nhóm hormone - thuốc nội tiết thường là nhóm thuốc có giá trị sử dụng cao nhất. Kết quả phân tích DMT tại bệnh viện YHCT Trung ương năm 2018 nhóm tim mạch có giá trị tiền thuốc sử dụng cao nhất với 29,35% [19]; tại BV YHCT Hải Phòng năm 2019 cũng tương tự nhóm tim mạch có GTSD cao nhất với 48,8% [20]; bệnh viện BV YHCT – Bộ công an, nhóm tim mạch có GTSD cao nhất với với 18,18%

GTSD, sau đó là nhóm hormone - thuốc nội tiết 12,57% [18]. Đặc điểm này phù hợp với mô hình bệnh tật của bệnh viện tuyến YHCT, do lượng thuốc huyết áp, tiểu đường cấp hàng tháng cho các bệnh nhân có thẻ Bảo hiểm y tế

15

đăng ký ban đầu tại bệnh viện lớn; bên cạnh đó trong nhóm này cũng có nhiều thuốc nhập khẩu có giá thành cao [17].

Nhóm giảm đau, hạ sốt, chống viêm không steroid cũng là nhóm có tỷ lệ giá trị sử dụng cao. Tại bệnh viện BV YHCT – Bộ công an năm 2019, nhóm này chiếm 2,06% [18] đứng thứ tư; tại BV YHCT trung ương năm 2018, nhóm này chiếm 10,46% GTSD [19]; tại BV YHCT Hải Phòng năm 2019 nhóm này chiếm 2% GTSD [20]. Đây là nhóm thuốc điều trị các bệnh lý cơ xương khớp là bệnh lý phổ biến phù hợp với mô hình bệnh tật trong BV YHCT.

1.4.2.2. Danh mục vị thuốc

Bảng 1.4, dưới đây so sánh về giá trị tiền thuốc của bốn nhóm thuốc có giá trị sử dụng cao nhất tại các bệnh viện chuyên khoa YHCT. Theo đó bốn nhóm vị thuốc chiếm tỷ lệ cao về giá trị sử dụng là nhóm thuốc bổ khí, bổ huyết, hoạt huyết khứ ứ và thuốc phát tán phong thấp. Sở dĩ như vậy, vì theo lý luận của YHCT các yếu tố khí, huyết chính là yếu tố chính cấu thành sự hoàn chỉnh và quan trọng cho một cơ thể khỏe mạnh, các thuốc nhóm bổ khí, bổ huyết được sử dụng nhiều nhằm nâng cao chính khí của cơ thể. Ngoài ra, các thuốc hoạt huyết khứ ứ cũng được sử dụng nhiều trong điều trị các chứng bệnh đau đầu, mất ngủ, thiểu năng tuần não, bế khinh thống phong nhóm bệnh phổ biến ở đối tượng bệnh nhân cao tuổi.

Bảng 1.4. Bốn nhóm vị thuốc có GTSD cao nhất

Nhóm TDDL

YHCT Trung Ương năm 2018

[19]

YHCT - Bộ công an năm 2019 [18]

YHCT Hải Phòng năm 2019 [20]

%KM % GT %KM % GT %KM % GT

Bổ khí 3,09 15,72 3,14 15,20 6,8 16,6

Hoạt huyết khứ ứ 8,93 14,68 6,67 11,23

16

Bổ huyết 2,41 11,56 1,96 11,27 4,3 15,7

Phát tán phong

thấp 7,90 8,12 6,67 14,60 10,3 15,0

1.4.3. Tình hình sử dụng thuốc sản xuất trong nước, thuốc nhập khẩu Nhà nước ta khuyến khích sử dụng thuốc sản xuất trong nước. Trong chiến lược phát triển ngành Dược đến năm 2030: Thuốc sản xuất trong nước chiếm 80% tổng giá trị thuốc tiêu thụ trong năm, trong đó thuốc từ dược liệu chiếm 30% [17]. Tuy nhiên, tình hình thuốc nhập khẩu nhìn chung còn chiếm tỷ lệ giá trị sử dụng lớn so với thuốc hóa dược, tại các bệnh viện chuyên khoa YHCT thuốc nhập khẩu cũng thường chiếm khoảng 70% hoặc hơn về giá trị sử dụng (GTSD), tuy tỷ lệ số khoản mục các thuốc này không cao.

Giá trị sử dụng thuốc hóa dược nhập khẩu vẫn còn khá cao, chiếm khoảng 70% giá trị sử dụng của nhóm thuốc hóa dược nói chung. Nghiên cứu tại bệnh viện YHCT Bộ công an thuốc hóa dược nhập khẩu chiếm 41.59%

GTSD [18], tại bệnh viện Trung Ương 27,24% GTSD.

Đối với vị thuốc, bảng 1.5 dưới đây so sánh tỷ lệ sử dụng thuốc nhập khẩu và trong nước tại một số bệnh viện tuyến tỉnh năm 2019. Kết quả cho thấy tuy số khoản mục của 2 nhóm thuốc này gần như tương đương nhau nhưng tỷ lệ giá trị sử dụng thuốc nhập khẩu cao hơn nhiều chiếm giá trị sử dụng lớn khoảng 70%. Điều đó phản ánh thực tế, vị thuốc thuốc nhập khẩu có giá cao và cũng như được sử dụng với số lượng lớn hơn so với thuốc sản xuất trong nước.

Bảng 1.5. Cơ cấu sử dụng vị thuốc nhập khẩu, thuốc sản xuất trong nước

STT

Bệnh viện/

năm nghiên

cứu

Số KM

Thuốc nhập khẩu Thuốc SXTN Tài liệu tham khảo

% KM % GTSD % KM % GTSD

1 YHCT

Trung 291 53,95 74,36 46,05 25,64 [19]

17 STT Bệnh viện/

năm nghiên

cứu

Số

KM Thuốc nhập khẩu Thuốc SXTN Tài liệu tham khảo Ương

năm 2018 2

YHCT - Bộ công

an năm 2019

255 40,78% 77,15% 59,22% 22,85% [18]

Như vậy, vẫn còn sự mất cân đối nghiêng về thuốc nhập khẩu trong DMT cả thuốc hóa dược và DMT vị thuốc YHCT, điều này đặt ra vấn đề gánh nặng chi phí sử dụng thuốc nhập khẩu đối với bệnh nhân và ngân sách BHYT chi trả. Hơn thế nữa, bệnh viện sẽ giảm chủ động trong khâu cung ứng thuốc trong trường hợp hết hàng hoặc dịch bệnh. Vì vậy, ngoài thực hiện chủ trương chung nhằm thúc đẩy nền công nghiệp dược phẩm thì điều chỉnh tỷ lệ sử dụng thuốc nhập khẩu và thuốc sản xuất trong nước cũng là một vấn đề đáng được các nhà quản lý bệnh viện lưu tâm, và có những biện pháp can thiệp tích cực hơn.

1.4.4. Tình hình sử dụng thuốc theo phân tích ABC

Kết quả phân tích DMT hóa dược và thuốc thành phẩm sử dụng tại một số bệnh viện chuyên khoa YHCT bằng phương pháp phân tích ABC cho thấy, thuốc hạng A chiếm khoảng 80% tổng chi phí thuốc và tỷ lệ SKM nằm trong khoảng: 14 -18%. Kết quả nghiên cứu tại bệnh viện YHCT Trung Ương năm 2018, thuốc hạng A chiếm 15,63% [19]; tại bệnh viện YHCT – Bộ công an năm 2019, thuốc hạng A chiếm 11,27% SKM [18]; tại bệnh viện YHCT Hải Phòng, tỷ lệ này là 23,07% [20].

Bảng 1.6. Kết quả phân tích ABC tại một số bệnh viện YHCT

Tên bệnh viện

A B C

% KM %

GTSD % KM %

GTSD % KM % GTSD

18 YHCT Trung

Ương năm 2018 [19]

15,63 79,80 20,84 15,15 63,53 5,05 YHCT - Bộ công

an năm 2019 [18] 11,27 79,81 20,07 15,15 68,66 5,04 YHCT Hải

Phòng năm 2019 [20]

10,81 80,74 30,02 15,06 59,46 4,31 Khi xem xét cơ cấu nhóm A theo nhóm tác dụng dược lý thì ba nhóm có GTSD lớn nhất tại bệnh viện YHCT Bộ công an là nhóm thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu bệnh viện tự sản xuất (41,84%), nhóm thuốc tim mạch (17,03%), nhóm hormon và các thuốc tác động vào hệ thống nội tiết (13,77%) [18].

Vấn đề còn tồn tại trong sử dụng thuốc hạng A được chỉ ra đó là các thuốc bổ trợ, các thuốc bị giới hạn thanh toán Bảo hiểm trong những chị định cụ thể.

1.4.5. Phân tích danh mục thuốc theo phương pháp VEN

Về kết quả phân tích VEN danh mục thuốc hóa dược và thuốc thành phẩm tại một số bệnh viện YHCT cho kết quả tỷ lệ như sau:

Bảng 1.7. Kết quả phân tích VEN tại một số bệnh viện YHCT

Tên bệnh viện

V E N

% KM %

GTSD % KM %

GTSD % KM %

GTSD YHCT Trung

Ương năm 2018 [19]

18,66 27,06 77,31 70,28 4,03 2,66

YHCT - Bộ công

an năm 2019 [18] 34,68 36,57 51,41 56,95 13,91 6,48

19

Tuy phân tích VEN là một công cụ hữu ích trong quản lý sử dụng thuốc, nhưng để đánh giá phân loại các thuốc theo VEN một cách chính xác lại cần có sự thống nhất lấy ý kiến đánh giá của các thành viên trong Hội đồng thuốc và điều trị [ ], tuy nhiên trong các nghiên cứu được thực hiện đánh giá VEN ở trên thì nhược điểm chung là đều chưa thực hiện lấy kết quả đánh giá của cả HĐT & ĐT mà chủ yếu là dựa vào sự đánh giá của các thành viên trong khoa Dược, chính vì vậy kết quả phân tích các nhóm theo VEN còn mang tính chất tương đối.

1.4.6. Phân tích danh mục thuốc theo phương pháp kết hợp ABC/VEN Phương pháp phân tích ABC, VEN ở nước ta đã được Bộ Y tế đưa vào Thông tư số 21/2013/TT-BYT ban hành ngày 08/8/2013, đây là một trong những phương pháp phân tích để phát hiện vấn đề về sử dụng thuốc và là bước đầu tiên trong quy trình xây dựng DMT bệnh viện. Hội đồng thuốc có nhiệm vụ phân tích ABC/VEN trong xây dựng danh mục thuốc tại bệnh viện.

Kết hợp phân tích ABC và VEN sẽ cho một cái nhìn tổng quát, toàn diện và có những can thiệp kịp thời đúng chỗ.

Bảng 1.8. Phân tích ABC/VEN tại một số bệnh viện Nhóm

thuốc

BV YHCT Bộ Công An BV YHCT Trung ương

SKM %KM %GTSD SKM %KM %GTSD

A

V 28 4,93 29,38 10 1,68 23,92

E 31 5,46 46,92 81 13,61 55,08

N 5 0,88 3,52 2 0,33 0,80

B

V 36 6,34 5,23 17 2,86 2,22

E 61 10,74 7,48 97 16,30 11,38

N 17 2,99 2,45 10 1,68 1,55

C V 133 23,42 1,97 84 14,12 0,91

20

E 200 35,21 2,56 282 47,39 3,83

N 57 10,04 0,52 12 2,02 0,31

Tổng cộng 568 100,00 100,00 595 100,00 100,00 Phân tích ABC/VEN danh mục thuốc hóa dược và thuốc đông y thuốc từ dược liệu sử dụng tại các bệnh viện YHCT Bộ công an năm 2019, cho kết quả:

- Nhóm I (gồm AV, AE, AN, BV, CV) chiếm 87,02% GTSD và 41,03%

SKM

- Nhóm II (gồm BE, BN, CE) chiếm 12,49% GTSD và 48,94% SKM - Nhóm III (gồm CN) chiếm 0,52% GTSD và 10,04% SKM [18]

Nhóm AN có 05 KM chiếm 0,88% nhưng đứng thứ 5 về GTSD chiếm 3,52%. Các thuốc này đều là các thuốc hỗ trợ bổ sung vitamin, thuốc cổ truyền, thuốc từ dược liệu mua ngoài. Để tránh lãng phí không cần thiết, bệnh viện cần kiểm soát sử dụng và có thể loại bỏ một số thuốc này ra khỏi danh mục.

Phân tích ABC/VEN danh mục thuốc hóa dược và thuốc đông y thuốc từ dược liệu sử dụng tại các bệnh viện YHCT Trung ương năm 2018, cho kết quả:

- Nhóm I (gồm AV, AE, AN, BV, CV) chiếm 82,93% GTSD và 32,60%

SKM

- Nhóm II (gồm BE, BN, CE) chiếm 16,76% GTSD và 65,37% SKM - Nhóm III (gồm CN) chiếm 0,31% GTSD và 2,02% SKM [19]

Nhóm AN có 02 KM chiếm 0,33% nhưng GTSD chiếm 0,80%. Các thuốc này đều là các thuốc y học cổ truyền, thuốc từ dược liệu. Để tránh lãng phí không cần thiết, bệnh viện cần kiểm soát sử dụng và có thể loại bỏ một số thuốc này ra khỏi danh mục.

21

Các thuốc hạng A là những thuốc cần quan tâm quản lý chặt chẽ, vì đó là các thuốc chiếm phần lớn nguồn ngân sách mua sắm thuốc. Vấn đề sử dụng thuốc hạng A tại các bệnh viện đó cần chú ý là các thuốc không thiết yếu có mặt trong thuốc hạng A.

1.5. Vài nét về bệnh viện y dược cổ truyền tỉnh Hưng Yên 1.5.1. Lịch sử hình thành và phát triển

Ngày 23/5/1997, Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên có quyết định số 492/QĐ-UBND cho phép thành lập Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Hưng Yên, trực thuộc Sở Y tế tỉnh Hưng Yên. Đến tháng 10 năm 2017, bệnh viện Y học cổ truyền Hưng Yên được đổi tên thành bệnh viện Y dược cổ truyền tỉnh Hưng Yên.

Bệnh viện Y dược cổ truyền tỉnh Hưng Yên là đơn vị đầu ngành điều trị y học cổ truyền tuyến tỉnh. Để tiếp thu những thành tự khoa học kỹ thuật hiện đại, kế thừa những tinh hoa YHCT đồng thời đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân, bệnh viện đã phát triển theo hướng hiện đại hóa, đa khoa hóa kết hợp chặt chẽ y học hiện đại và y học cổ truyền trong khám và chữa bệnh. Ngày 16/9/2010, Sở Y tế có quyết định số 614/QĐ-SYT , mở rộng phạm vi chuyên môn kỹ thuật khoa khám bệnh thực hiện khám chữa bệnh đa khoa kết hợp giữa y học hiện đại và y học cổ truyền.

Đến năm 2018, Bệnh viện YDCT tỉnh Hưng Yên có quy mô 180 giường bệnh, 165 cán bộ viên chức, là bệnh viện đa khoa YHCT và Phục hồi chức năng hạng II tuyến tỉnh.

Hinh 1.2 dưới là sơ đồ tổ chức bệnh viện với 15 khoa phòng thuộc ba khối: khối phòng chức năng, khối lâm sàng và khối cận lâm sàng.

GIÁM ĐỐC BỆNH VIỆN

Các Phó Giám đốc Hội đồng thuốc và điều trị

Phòng chức năng Khoa Lâm sàng Khoa Cận lâm sàng

Khoa khám bệnh

Khoa cận lâm sàng Phòng

Kế hoạch tổng

Khoa hồi sức tích cực

22

Hình 1.1.Sơ đồ tổ chức bệnh viện YDCT tỉnh Hưng Yên

1.5.2. Tình hình bệnh tật tại bệnh viện YDCT tỉnh Hưng Yên năm 2020 Tình hình bệnh tật và tử vong tại bệnh viện năm 2020, được thống kê trong bảng dưới đây (Bảng 1.8.)

- Về tỷ lệ mắc: nhóm các bệnh lý nhiễm trùng chiếm tỷ lệ cao nhất (37,2%), tiếp đó là nhóm các bệnh tuần hoàn và cơ xương khớp;

Bảng 1.9. Tình hình bệnh tật tại bệnh viện YDCT Hưng Yên năm 2020

TT Nhóm bệnh Tỷ lệ mắc (%)

1 Bệnh nhiễm khuẩn và ký sinh vật 37,2

2 Bệnh tuần hoàn 18

3 Bệnh của hệ cơ, xương khớp và mô liên kết 13,5

Phòng điều dưỡng

23

TT Nhóm bệnh Tỷ lệ mắc (%)

4 Bệnh nội tiết – dinh dưỡng – chuyển hóa 11,6

5 Bệnh hô hấp 8,2

6 Bệnh tiêu hóa 4,3

7 Bệnh tiết niệu – sinh dục 2,1

8 Bệnh của hệ thần kinh 1,6

9 Khác 3,5

Một phần của tài liệu DOÃN QUỐC TUẤN PHÂN TÍCH DANH mục THUỐC sử DỤNG tại BỆNH VIỆN y dược cổ TRUYỀN TỈNH HƯNG yên năm 2020 LUẬN văn dược sĩ CHUYÊN KHOA cấp i (Trang 23 - 33)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(103 trang)