4.2.1. Phân tích ABC của danh mục thuốc bệnh viện đã sử dụng năm 2020 Phương pháp phân tích ABC nằm trong quy trình xây dựng DMT bệnh viện theo quy định tại Thông tư 21 của Bộ Y tế. Thực tế nghiên cứu về DMT cho thấy việc áp dụng phân tích ABC cho danh mục thuốc sẽ giúp đánh giá được việc sử dụng ngân sách mua sắm thuốc của bệnh viện. Kết quả phân tích ABC tại bệnh viện YDCT Hưng Yên cho thấy 79,89% tổng chi phí tiền thuốc phân bổ cho 19,64% SKM (thuốc hạng A). Thông thường 75-80% ngân sách sẽ dành cho mua sắm 10-20% số khoản mục thuốc, như vậy giá trị 19,64%
cho thấy bệnh viện đã sử dụng kinh phí mua sắm thuốc hợp lý các thuốc sử dụng nhiều nhất trong điều trị.
Kết quả phân tích ABC tại BV YHCT- Bộ công an năm 2019 cũng cho kết quả tương tự 79,81% chi phí tiền thuốc phân bổ cho 11,27 SKM thuốc
58
hạng A [18]; bệnh viện YHCT – phục hồi chức năng Bình Thuận năm 2018 cũng cho kết quả 79,22% chi phí tiền thuốc phân bổ cho 11,48% SKM thuốc hạng A [23], bệnh viện y học cổ truyền Trung ương năm 2018 cho kết quả 79,80% chi phí tiền thuốc phân bổ cho 15,63% SKM thuốc hạng A [19].
Nhóm thuốc hạng A là có số lượng thuốc ít nhưng lại chiếm tỷ trọng lớn trong ngân sách mua sắm thuốc, việc tập trung phân tích cụ thể các nhóm TDDL, xem xét chi phí tập trung vào nhóm dược lý nào đã phù hợp với mô hình bệnh tật hay chưa sẽ giúp phát hiện những vấn đề sử dụng thuốc còn bất cập trong danh mục để kịp thời điều chỉnh.
Trong thuốc hạng A, thì nhóm có GTSD cao nhất là thuốc hóa dược với 68,04% GTSD tương ứng với 65,91% SKM, trong đó thuốc Hocmon và các thuốc tác động vào hệ thống nội tiết chiếm GTSD lớn nhất 26,93% GTSD và 18,18% SKM, thuốc tim mạch chiếm 24,02% GTSD và 27,27% SKM.
Đặc điểm này có nét tương đồng với các bệnh viện YHCT khác như: Bệnh viện YHCT – Bộ công an năm 2018 [18]; bệnh viện YHCT Trung ương năm 2018 [19], bệnh viện YHCT – Phục hồi chức năng Bình Thuận năm 2018 [23].
Tuy nhiên, bệnh viện cần cân nhắc lưu ý do trong các thuốc hạng A có tới 15 thuốc chế phẩm YHCT. Đây là các thuốc bổ trợ cần kiểm soát sử dụng.
Trong danh mục thuốc hạng A, vẫn còn tồn tại hoạt chất cùng nồng độ, hàm lượng, đường dùng, đó là hoạt chất gliclazid 30mg. Điều này là chưa hợp lý, do thuốc hạng A là nhóm thuốc tiêu tốn phần lớn ngân sách mua thuốc, nên tập trung được số lượng lớn thuốc trong các khoản mục trùng nhau về hoạt chất, hàm lượng, đường dùng để giảm bớt khoản mục lại thì sẽ dễ dàng hơn trong quản lý cũng như mua được giá rẻ hơn từ nhà sản xuất.
4.2.2. Phân tích VEN của danh mục thuốc bệnh viện đã sử dụng năm 2020
59
Cơ cấu DMT hóa dược, thuốc thành phẩm theo phân tích VEN, thuốc V chiếm 13,39% SKM và 34,32% tỷ lệ GTSD; thuốc E chiếm 64,29% SKM và 35,54% GTSD; thuốc N chiếm 22,32% SKM và 30,14% GTSD.
Phân tích VEN là phương pháp giúp xác định ưu tiên cho hoạt động mua sắm và tồn trữ thuốc trong bệnh viện, nhất là khi nguồn kinh phí không đủ đêr mua toàn bộ các thuốc mong muốn trong danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện. Thuốc V, với vai trò là thuốc sống còn, được đánh giá dựa trên tiêu chí là các thuốc dùng trong trường hợp cấp cứu, nhất định phải có để phục vụ công tác khám chữa bệnh của bệnh viện. Thuốc E, vai trò là các thuốc thiết yếu, thuốc dùng trong trường hợp bệnh ít nghiêm trọng hơn nhưng vấn là bệnh lý quan trọng trong mô hình bệnh tật của bệnh viện. Như vậy, thuốc V và thuốc E của bệnh viện chiếm tổng 77,68% SKM và 69,86% GTSD là hợp lý. Kết quả này cũng tương đồng với kết quả nghiên cứu VEN, danh mục thuốc hóa dược, thuốc thành phẩm của một số bệnh viện YHCT. Bệnh viện YHCT – bộ công an, thuốc V chiếm 36,57% GTSD (34,68% SKM) và thuốc E chiếm 51,41% GTSD (56,95% SKM), thuốc N chiếm 6,48% GTSD (13,91% SKM) [18]. Bệnh viện YHCT Trung ương năm 2018, tổng tỷ lệ 2 nhóm V và E là 97,34% GTSD và 95,97% SKM [19].
Thuốc N, là những thuốc dùng trong trường hợp bệnh nhẹ, bệnh có thể tự khỏi hoặc các thuốc có hiệu quả điều trị không rõ ràng, thuốc có giá thành cao không xứng đáng với lợi ích lâm sàng. Theo kết quả phân tích, vẫn còn 22,32% SKM thuốc là thuốc không thiết yếu chiếm 30,14% GTSD. Tỷ lệ này là lớn, và nếu các thuốc không thiết yếu này nằm trong các thuốc hạng A, thì các thuốc này chiếm phần giá trị sử dụng lớn và cần được xem xét loại bỏ.
Tuy nhiên, để phân loại VEN chính xác, đòi hỏi tính chuyên môn cao, cần thiết có sự tham gia góp ý kiến của các thành viên trong Hội đồng thuốc và điều trị, có tính đặc thù của mỗi bệnh viện. Đây cũng chính là phần hạn
60
chế của đề tài, vì trong kết quả phân loại VEN dựa trên ý kiến của nhóm nghiên cứu chỉ gồm các thành viên khoa Dược.
4.2.3. Phân tích ma trận ABC/VEN
Phân tích kết hợp ABC/VEN cho phân loại thuốc theo thứ tự ưu tiên gồm:
- Thuốc nhóm I (gồm các thuốc AV, AE, AN, BV, CV) cần quan trọng nhất chiếm 27,68% SKM và 82,46 % GTSD.
- Thuốc nhóm II (gồm các thuốc AV, AE, AN, BV, CV) nhóm thuốc quan trọng, chiếm 60,71% SKM và 16,16% GTSD.
- Nhóm III (gồm CN) thuốc ít quan trọng nhất: 11,61% SKM tương ứng 1,37% GTSD.
Tỷ lệ này có nét tương đồng với kết quả phân tích tại bệnh viện YHCT – Bộ công an năm 2019:
- Nhóm I (gồm AV, AE, AN, BV, CV) chiếm 87,02% GTSD và 41,03%
SKM
- Nhóm II (gồm BE, BN, CE) chiếm 12,49% GTSD và 48,94% SKM - Nhóm III (gồm CN) chiếm 0,52% GTSD và 10,04% SKM [18]
Trong nhóm thuốc I, nhóm AN là nhóm cần được chú ý, giảm tỷ lệ hoặc loại bỏ thuốc không thật cần thiết trong danh mục thuốc kỳ tới. Kết quả nghiên cứu tại tại BV YHCT – bộ công an năm 2019, trong nhóm A có một thuốc hóa dược là Pyraneuro (Vitamin B1 + B6 + B12), 4 thuốc chế phẩm YHCT là Diệp hạ châu Vạn Xuân, Thiên sứ thanh phế, Boganic, Xoang Vạn Xuân [18]. Tại bệnh viện YHCT Trung ương năm 2018, nhóm AN có 02 thuốc là hoạt huyết an não và Crila forte 500mg [19]. Tại bệnh viện YDCT tỉnh Hưng Yên, phân nhóm AN có 15 thuốc đều là chế phẩm YHCT gồm Siro Ma hạnh, Tuần hoàn não Thái Dương, Dưỡng tâm an thần, Hoạt huyết dưỡng não BDF, Lục vị hoàn, Trừ phong thấp, Ô mai hoàn, Bài thạch- BVP, Bibiso, Quy tỳ hoàn, Bổ dương tiếp âm, Dưỡng huyết thanh não, An thần ích trí, Cao
61
lỏng Độc hoạt tang ký sinh, Đan Sâm Tam Thất VCP. Đây là các thuốc không thiếu yếu nhưng lại có giá trị sử dụng lớn. Chính vì vậy, rất cần thiết loại bỏ thuốc này ra khỏi danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện trong năm tiếp theo.
62