1. Các khái niệm cơ bản Hệ thống (System)
Một trong những tiển để cơ bản của quan điểm hệ thống là các sự vật, hiện tượng tồn tại khách quan trong tự nhiên, trong đời sống xã hội và luôn luôn vận động, phát triển trong các mới quan hệ tác động qua lại, chuyển hoá lẫn nhau. Các sự vật, hiện tượng không tổn tại một cách đơn nhất, độc lập, tách biệt và cô lập mà chúng tồn tại trong các mối quan hệ và qua đó hình thành nên những nhóm sự vat và biện tượng có cùng chung những thuộc tính, tính chất hoặc công dụng, chức năng, mục tiêu hay là những hệ thống. Thco cách hiểu thông dung thuật ngữ hệ thống được giải nghĩa là "Tập hợp nhiều yếu tố có quan hệ chật chế trong một chỉnh thể" (Từ điển viếng Việt thong đụng ~ NXB GD 1998).
“Theo viện sĩ Fedorenco, hệ thống được định nghĩa là "một tập hợp. trên đó một quan hệ cho trước R có thuộc tính P được thực hiện". Nói mọi cách tổng quát, nếu coi m là một tập hợp các phần tử có thuộc tính P cho trước, thì m chỉ có thể xem là hệ thống khi thực hiện một quan hệ R mà chúng ta
‘quan tâm. Như vậy, hệ thống là tập hợp những phan tử có quan hệ tương tác .để thực hiện một mục tiêu. Trong kĩ thuật, hệ thống được coi là tập hợp các yếu tố (phần tử, chỉ tiết, cơ cấu...) được liên kết với nhau tạo ra những khả năng hoặc tính chất mới không có ở từng yếu tố, chỉ tiết riêng rẽ. Tính chat .đó được gọi là tính hệ thống hay tính nhất thể. Ví dụ: Máy bay là tập hợp các kết cấu và chỉ tiết có khả năng hay tính chất "bay được” mà tính chất hoặc khả năng này không có ở từng kết cấu hoặc từng chỉ tiết máy bay. Hè thống, giáo dục bao gồm tập hợp nhiều loại hình giáo dục, loại hình trường độc lăp
134
trong các bậc học có mốt liên hệ thứ bậc và chặt chẽ với nhau (bên trong và bên ngoài) tạo thành một chỉnh thể có chức năng tổ chức thực hiện các nhiện vụ giáo duc nhà trường trong xã hội. Như vậy khái niệm hệ thống bao hàm các đặc trưng sau:
— Là một tập hợp các phần tử, yếu tố, thành phần có quan hệ chặt chế với nhau.
~ Các thành tố có tính độc lập tương đối, có vai trò, vị trí, chức năng chuyên biệt,
— Tạo thành một chỉnh thể có thuộc tính hoặc chức năng, mực tiêu chung, không có ở từng thành tố tiêng lẻ
~ Có cơ cấu tổ chức, vận hành, điều khiển, kiểm soát va diéu chỉnh trong môi trường nhất định.
~ Có mối quan hệ tương tác với môi trường bên ngoài.
Sơ đó 1. Sơ đồ tương quan về cơ cấu hệ thống.
"Hệ thống kinh tế ~ xã hội
Hệ thống giáo dục.
Các Phân hệ giáo dục mầm non, phố thông, nghề nghiệp, đại học
Cơcấu
“Theo từ điển Tiếng Việt thông dung (NXB Giáo duc, 1998) khái niệm cơ.
cấu (Strueture) được giải nghĩa là: "Cách tổ chức. sắp xếp, bố trí các bộ phận
trong một chỉnh thể”.
‘Theo Tit dién The Osford Popular Dictionary & Thesaurus, thuat ngữ cau tric (Structure) duge giải nghĩa như là "sự sắp đặt, tổ hợp, tổ chức, thức, hình thể v.v... có tính hệ thống”. Khái niêm cơ cấu gắn liễn với khái
188
niệm hệ thống. Trong từng hệ thống các phán tử được sắp xếp, phân bố theo.
những trình tự, trật tự nhất định (cấu trúc hoặc cơ cấu nhất định). Trình tự sắp xếp này quy định vai trò, vị trí, chức năng của từng phần tử trong hệ thống và thể hiện mối quan hệ tác động qua lại giữa các phần tử trong hệ thống. Cấu trúc hệ thống cũng phản ảnh hình thức, nội dung và các quy luật vận động & phát triển của hệ thống. Khái niệm cơ cấu được sử dụng rộng rãi trong các Tĩnh vực khoa học, công nghệ và đời sống thực tế như cơ cấu máy:
cơ cấu hàng hoá, cơ cấu nguồn vốn, cơ cấu nhân lực; cơ cấu đội ngũ giáo viên; cơ cấu đại biểu quốc hội vv...
— Kiểu cơ cấu cây ~ rŠ: Cơ cấu phát triển dần từ bậc mầm non đến các bạc khác ở trình độ cao như sơ đổ của Hàn Quốc, Singapo, Việt Nam, Australia ww.
— Kiểu ma trận: Sơ đồ của Thái Lan hoặc Malaixia.
~ So dé kiểu bảng: (Hàng ~ cột) như của Trung Quốc năm 2002.
~ Bảng chuẩn quốc tế phân loại giáo dục cia UNESCO.
'Cơ cấu hệ thống.
Là sự phản ánh các thành phần, cách sắp xếp. trình tự, mối quan hệ giữa các thành phần (phân tử) trong một chỉnh thể (hệ thống) nhất định. Cơ cấu hệ thống tạo cơ sở để hệ thống có thể vận hành, hoạt động phù hợp với vai trò, chức năng, nhiệm vụ của hệ thống. Sự thay đổi cơ cấu hệ thống có thể dẫn đến sự thay đổi cách thức vận hành, hoạt động, mục tiêu của toàn hệ thống và ngược lại: sự thay đổi mục tiêu, vai trò, chức năng của hệ thống tất yếu cân đến sự thay đổi cơ cấu hệ thống. Chẳng hạn cơ cấu hệ thống kính tế: cơ cấu hệ thống giáo dục; cơ cấu hệ thống chính quyền các cấp v.v... Trong quá ing, co cấu của hệ thống luôn biến đổi cho phit hop Với các chúc nang, vai tò, nhiệm vụ của hệ thống trong một môi trường nhất inh (ben trong và bên ngoài)
Giáo dục
Khái niệm giáo dục được giải nghĩa là "Tác động có hệ thống để con người có thêm năng lực và phẩm chất cần thiết" (Từ điển Tiếng Việt thông dung = NXB Giáo dục, 1998). Giáo dục hiểu theo nghĩa rộng là hoạt động (hay quá trình) chuyển giao hệ thống trì thức, kinh nghiệm xã hội của thể hệ này cho các thế hệ kế tiếp nhằm hình thành và phát triển nhân cách, đáp ứng nhủ cấu tổn tại và phát triển của đời sống xã hội trong từng giai đoạn lịch sử.
186
Theo nghia hep giáo dục gắn với quá trình hình thành và phát triển bệ thống nhà trường (Giáo đục nhà trường) là các hoạt động giáo dục có mạo đích và nội dung xác định cho từng bậc học và loại hình trường và được thực hiện một cách có kế hoạch, có hệ thống trong khuôn khổ tổ chức nhà trường. Hệ thống giáo dục
Khái niệm hệ thống giáo dục là tập hợp các loại hình giáo dục (hoặc loại hình trường) được sắp xếp theo một trình tự nhất định trong các bậc học nhất định từ thấp (mắm noa) đến cao (đại học và sau đại hoc). Thong thường hệ thống giáo dục được hiểu theo hệ thống nhà trường (Schools System) trong 446 phan ánh các loại hình trường, sự sip dat vi trí, chức năng và mối quan hệ giữa chúng trong các bậc học và trong toàn hệ thống. Theo quan điểm của UNESCO He thong giáo dục có các bậc cơ bản sau:
Bảng 4. Phân loại quốc tế các bậc giáo duc ISCED 1997
Tiêu chí phụ Bậc giáo dục | Bậc | - Dấu hiệu
Tiêu ch! chính
Tinh gito due. | Trình độ chuyên _ [ Giáodụctểntểuhọe | 0. | Khôngsô, Trường hoặc _ | mền của giáo viên. | (Pte ~ pimery
trung lâm, ‘education.
“Độ tuổi tối thiểu,
'Độ tuổi giới {
hạn cao nhất
Bảtđấu việc ẽVaocỏccơsỏ [Tiểuhọe(Pnmay + [Khụng e, học đọc, viết | hoặc chương tình _ | Educabon) hay ga va lam tỉnh cô | giáo dục tiểu học _ | đoạn đầu của gáo.
hô tống. | aude ga. diye ca ban (Fist sage education). of basic _
Hinh thành __ ÍVâohocsauĐ tuổi | ito due tung hocce |W | Loaininh id we
“các môn học. | và đãtốinghiệp | sd (Lower secondary. đấy năng cơ bản | 9 nam kế từkhi vaciindn | eh vo bu hc. | sane base Hoàn thann | tiểu học đủ các kĩ | Kết thúc chu kì sau | đoạn 2 của giáo dục. bật | bắt buộc (Second education) hay a gi định hướng của chương tỉnh
| Kếi trúc gio đục bắt buộc, |
ido viên đứng lớp
| 'bao gồm nhiều loi
LL theo bộ môn, | |
137
Trỡnh độ đầu | Trung học phổ bụng | HH ẽLoaihinhglỏo dục.
vào nhập học. (Upper secondary tiếp tục,
'Yêu cấu tối 9ducalon). Định hướng của
thiểu nhập. chương trnh.
học.
Thời gian đèo tạo tính từ khi bắt đầu, !8CED bậc 3 'Yêu cầu nhập học Nội dụng chương tình Tabi. học Giảo dục sau tung | IV. |Loạihinhgiáo (post-secondary non tertany edueaton). tiếp tục. 'Định hướng của “chương trh, dục Thời gian đảo. tạo, “Thời tĩnh tỪkhi bắt đầu, ISCED bậc 3 gian đào tạo.
Yeu chu nhập Giaidoan au cia | V [Loạichươngwim học tổ biểu Loại vân Stage of tertiary gio dục đại học (it Thôi gn đào tạo thuyết
bằng .educalon) không dẫn. Cấu trúc hệ thống.
“Thời gian đào. trực iếp đến các văn van bằng và
His "ương ứng bằng nghiên cứu chứng oe di quốc
Định hưởng _ | Đào tạo chuyên, nghiên cứu __ | gia có tình của nội đung. | cho giảng day nghiên cứu độ cao
VI | Không có,
Việt Nam
Trong suơt gần 4000 năm lịch sử, nến giáo dục Việt Nam nói chung và hệ thống giáo dục Việt Nam nói riêng đã trải qua những bước thăng trấm, những đổi thay gin lién với những bước biến chuyển trong các giai đoạn phát triển của lịch sử,
Khởi đầu từ thời kì tiên nhà nước Văn Lang - Âu Lạc, ở nước ta đã hình thành một nên văn hoá bản địa với nhiều hình thức biểu hiện da dang, 'Tủy nhiên cho đến nay, vẫn chưa tìm được chứng cớ cho thấy sự ra đời của chữ viết và việc tổ chức day và học mang tính hệ thống ở thời kì này. G§.
Hà Văn Tấn trong cuốn "Chữ trên đóng" mới ra gần đây. cho
138
thống nhất về bản sắc văn hoể giữa các bộ phận cư dân là tiền dé cho su ra đời của chữ viết mà chữ viết là cơ sở cho việc hình thành và phát triển của các loại hình giáo dục,
Từ năm 111 TCN, nước ta bị các triểu đại phong kiến phương Bắc thôn tính, mở đầu cho thời kì gắn 1000 năm Bắc thuộc. Để thực hiện chính sách cai trị và đồng hoá của chính quyển phương Bắc, chữ Hán và nên giáo đục sĩ tộc được đưa vào nước ta. Nên giáo đục sĩ tộc chỉ hạn chế trong bộ phận con cháu ting lớp quan lại của chính quyền đô hộ.. Lần đầu tiên, chữ viết xuất hiện 6 là loại văn tự chữ Hán. Người có công lớn phổ biến chữ Hán ở nước 1a thời kì này là Sĩ Nhiếp. Mặc dù ông là người gốc Hán, nhưng để tỏ lòng biết ơn về công lao đổi với nền giáo dục học thuật nước nhà, dân gian tôn ông làm “Nam Giao học tổ". Tuy đã xuất hiện một số hình thức tổ chúc dạy học với quy mô nhỏ, phân tán với một số đối tượng hạn chế nên có thể nổi thời kì này ở nước ta hệ thống giáo dục vẫn chưa thực sự ra đời.
'Về thời điểm ra đời của hệ thống giáo đục ở Việt Nam, theo ý kiến của các nhà nghiên cứu, năm 1076. khi nhà Lí khởi lập Quốc Tử Giám được xem.
là điểm mốc đánh dấu cho sự ra đời của hệ thống giáo đục Việt Nam.
Để thấy được quá trình hình thành và phát triển của giáo dục Việt Nam kể từ khi ra đời (1076) cho đến nay có thể phân chỉa thành các thời kì như sau:
= Thai kì phong kiến (1076 - 1885) `
~ Thời kì cận đại (1885 - 1945)
~ Thai kì hiện đại (1945 - nay)
3.1. Thời kì phong kiến (1076 ~ 1885)
Giáo dục Việt Nam trong thời kì phong kiến được đặc trưng bởi nên giáo đục Nho học. Thời kì đầu lập quốc. bên cạnh giáo đục Nho học có sự tổn tại các loại hình giáo dục của Phật giáo và Đạo giáo. Tuy có sự khác biệt song các loại hình giáo dục trên không có sư bài trừ lắn nhau. Tam giáo, thịnh vượng nhất là dưới thời Lí ~ Trấn, tiểu đình nhiều lần đứng ra tổ ch kì thí Tam giáo bao gồm cả 3 nội dung Nho - Phật - Đạo. Tuy nhiên, các triểu đại phong kiến nối tiếp nhau luôn lấy Nho giáo làm hệ tư tưởng chính thống, nên giáo dục Nho học nhờ đó được bảo vệ. dung dưỡng, duy trì. củng cố, dần trở thành hệ thống giáo dục chính thống và tồn tại trong suối thời kì phong kiến.
189
Nam 1076, được coi là điểm mốc đánh dấu sự ra đời của hệ thống giáo dục Nho học với việc nhà Lí khởi lập Quốc Tử Giám.. Ban đầu, Quốc Tit
“Giám tổ chức giảng dạy cho con em trong hoàng tộc, đến năm 1253 đổi thành Quốc Tử Viện, giảng dạy cho cả con em dân thường học giỏi ở các tỉnh huyện, hệ thống giáo đục Nho giáo bắt đầu mở rộng ra ở các địa phương.
với đối tượng rộng rãi hơn trong các tắng lớp nhân dân.
Thời kì nội chiến Nam - Bắc triểu, hệ thống giáo dục phân thành hai mảng Đàng Trong và Đàng Ngoài. Mô hình Nho giáo vẫn được coi là giáo dục chính thống nhưng đã trở nên vô cùng suy thoái bởi nạn mua quan bán tước (Tiến sĩ giấy, Sinh đồ ba quứn) phản ỏnh những rối loạn, suy đổi của các thể chế chính trị — xã hội đương thời.
Sau khi cuộc khởi nghĩa Tây Sơn thành công năm 1876, vua Quang Trung xuống Chiếu khuyến học, hệ thống giáo dục nhờ đó được khôi phục và mở rộng. Thành quả này chưa kịp phát huy thì vua Quang Trung đột ngột qua đời, đất nước lại lâm vào tình trạng nội chiến: thời Tây Sơn - Nguyễn Ánh. Năm 1802, sau khi lên nắm quyền, triều đình Nguyễn tái thiết lặp hệ thống giáo dục Nho giáo trong phạm vi cả nước, khuyến khích giáo dục ~ khoa cử phát triển
Năm 1858, sau khi đánh chiếm Nam kì, thực dân Pháp coi việc xoá bỏ nén giáo dục Nho học là một trong những mục tiêu hàng đầu trong chính sách cai trị và đồng hoá vẻ văn hoá. Tính cho đến năm 1919, sau khoa thị cuối cùng, về cơ bản hệ thống Nho học bị bãi bỏ trên phạm vi toàn quốc,
“Trong nền giáo duc phong kiến, tổn tại bai loại hình trường: trường công và trường tư. Trong đó, Nhà nước chỉ quản lí trực tiếp đối với các trường.
công ở kinh đô và một số ít trường công ở các tinh, phủ và huyện: trường tư phổ biến ở các làng xã do nhân dân đóng góp xây dựng. tự hoạt động ngoài sự quản lí của Nhà nước phong kiến tập quyền. Cơ cấu bậc học, cấp độ quản lí của hệ thống giáo đục Nho học là hết sức đơn giản, mang tính chất ước lệ.
Chế độ khoa cử là một đặc trưng cơ bản của hệ thống giáo dục phong, kiến. Thông qua chế độ khoa cử dể tuyển chọn người hiển tài đảm nhiệm các chức vụ quan lại thực hiện chức năng quản lí bộ mấy nhà nước phong kiến.
'Còn đối với nhàn đán, thi cử là con đường tiến thân lập nghiệp. vi vậy được nhân dan hết sức coi trọng. Mặc dù có những hạn chế nhất định nhưng khoa
140
cử dưới chế độ phong kiến thực sự là đồn bẩy thúc'đẩy tỉnh thên học tập. truyền thống hiếu học và bồi đáp nguyên khí cho quốc gia trong những giai đoạn phát triển của lịch sử giáo dục dan toc.
ˆ 2/2. Thời kÌ cận đại (1885 ~ 1945)
Năm 1858, Việt Nam bị đặt dưới ách thống trị của thực dân Pháp. Trong, suốt 80 năm đô hộ, để áp đặt một hệ thống giáo duc thuộc địa, thực dân Pháp.
đã thực hiện nhiều cải tổ xóa bỏ nên giáo dục Nho học trước đây, thiết lập he thống trường tiểu học Pháp ~ Việt và du nhập mô hình giáo dục thuộc địa vào Việt Nam.
Giai đoạn 1858 ~ 1885
Sau khi thôn tính 6 tỉnh miền Đông và miền Tây Nam Kì, thực dân Pháp đã áp đặt chế độ trực trị ở Nam Kì. Để xóa bỏ rào cản về ngôn ngữ, Pháp đã mở ngay trường đào tạo thông ngôn (1861), tiếp đến mở trường sư phạm (1871 trường giám mục Bá Đa Lộc) để đảo tạo giáo viên tiểu học chuẩn bị cho việc du nhập nén văn hóa giáo dục nô dịch vào thuộc địa
Lúc đầu, do nhu câu bức thiết của việc cai trị và đồng hoá. người Pháp.
nôn nóng xoá bỏ chữ Hán và hệ thống giáo đục Nho học, thay vào đó là he thống Tân học, đưa tiếng Pháp và chữ Quốc ngữ vào giảng dạy. Tuy nhiên Pháp đã vấp phải sự kháng cự mạnh mẽ của các sĩ phu yêu nước và quân chúng nhân dan nên ý đổ đó không thể thực hiện nhanh chống,
Sau những thất bại ban đầu, tháng 3/1879 toàn quyền Pháp La Phông kí một quyết định tổ chức giáo dục ở Nam Kì theo mô hình Pháp với hệ thống 3 cấp bao gồm: Cấp I: 3 năm; Cấp Iẽ: 3 năm; Cấp III: 4 năm. Theo đú, mỗi huyện sẽ có 1 trường cấp I, có khoảng 20 trường cấp l; 6 trường cấp 2, trường Bá Đa Lộc đổi thành trường trung học đầu tiên ở Nam Kì tức trường Sét Sole Luba sau nay.
He thống trường Hán học vẫn tổn tại trong các làng xã nhưng nằm dưới sự kiểm soát chật chẽ của nhà chức trách. Để xúc tiến âm mưu dần xoá bỏ chữ Hán và hệ thống giáo dục phong kiến, năm 1882 cắm quyền Pháp ra nghị định buộc phải đùng chữ Quốc ngữ trong mọi văn bản giấy tờ.
Nhu vậy, trong khoảng 25 năm trên đất Nam Kì đã tổn tại song song cả loại hình hệ thống giáo dục Nho học phong kiến và hệ thống Tân học của chính quyền thực dân Pháp.
Mi