Cao đẳng sự pham (kyoyuk ~ dae — hai): đào tạo giáo viên tiểu học

Một phần của tài liệu Quản lý các vấn đề giáo dục: Phần 1 (Trang 183 - 200)

3. Đại học hàm thụ truyền thanh truyền hình (bangsong rongshin dae~

‘haky: đào tạo thanh niên và người lớn theo phương thức đào tạo từ xa, cấp bằng sau khi hoàn thành 3 năm học và thỉ tốt nghiệp tại một trường đại học.

Các trường tư thục chiếm khoảng 72% số sinh viên đại học. Nguồn thu.

nhập của các trường này là tài trợ của các tổ chức và học phí của sinh viên.

.Các trường đại học quốc lập được cấp kinh phí lớn từ ngân sách nhà nước.

Các giáo viên tiểu học được đào tạo ở các trường đại học sư phạm, các.

giáo viên trung học được đào tạo ở các trường đại học chuyên ngành hoặc

khoa sư phạm của các trường đại học tổng hợp theo chương trình 4 năm và

được cấp bằng cử nhân.

Ngôn ngữ sử dụng trong giảng day thông thường là tiếng Triểu Tiên, tuy nhiên mệt số khoá học có thé day bang tiếng Anh, Trung Quốc, Pháp và Đức.

Ngoài ra các thứ tiếng đó còn được dùng trong các kì thi và viết luận văn.

Để được vào học đại học, thi sinh phải qua một kì thi tuyển sinh quốc gia.

Giai đoạn đầu tiên của giáo dục đại học được cấp bằng cao đẳng hoặc bằng cử nhân. Bằng cao đẳng cấp cho sinh viền các ngành khác nhau, riêng

các ngành kĩ thuật gọi là bằng kĩ thuật viên cấp hai, sau khi đã hoàn thành 2

năm học đại học và qua một kì thi quốc gia. Giáo dục đại học bao gồm nhiều

loi hình trường cao đẳng, đại học đào tạo kĩ thuật viên cao đẳng, cử nhân

đại học, thạc sĩ và tiến sĩ cho nhiều chuyên ngành khác nhau. Giáo dục cao

đẳng, đại học đang được tập trung vào các hướng đào tạo công nghệ cao, kĩ thuật mũi nhọn đáp ứng yêu cầu xuất khẩu chất xám, xuất khẩu công nghệ.

Dự kiến đến năm 2005 Hàn Quốc đào tạo khoảng 250.000 chuyên gia trong

Tĩnh vực công nghệ thông tin

Giai đoạn thứ hai của giáo dục đại học là đào tạo sau dai học và được cấp

bằng thạc sĩ, thời gian đào tạo là 2 năm sau khi đã có bằng cử nhân trong

cùng một ngành chuyên môn. Có những cơ sở đào tạo chuyên món hoá để.

đảo tạo và cấp bằng thạc sĩ trong 5 học kì (2 năm rưi)

lai đoạn thứ ba của giáo dục đại học dẫn tới bằng tiến sĩ, thời gian đào

tạo là 2 nâm sau khi đã có bằng thạc sĩ trong các ngành sau đây: văn và khoa.

184

học nhân văn, tiết học, thần học, khoa học kinh tế, luật, ý, được, khoa học tự nhiên, khoa bọc kĩ thuật, nông nghiệp và thú y. Thí sinh phải qua một kì th ngoại ngữ và bảo vệ thành công luận án.

Tinh cách đặc trưng của con người được giáo dục trong hệ thống giáo duc mới của Hàn Quốc là tính hợp tác, tính sáng tạo, tính cởi mở và lòng yêu.

nghề nghiệp. Định hướng của hệ thống giáo đục mới là lấy học sinh làm trung tâm, đa dạng hoá giáo dục, đảm bảo hoạt động tự quản của nhà trường, đảm bảo tính tự do và công bằng cho người học, đưa công nghệ thông tin vào giáo duc và nâng cao chất lượng giáo dục. Mục tiêu của hệ thống giáo dục mới là xây dựng hệ thống giáo dục mở, phát triển giáo dục tiểu học, trung học và đại học và hệ thống hỗ trợ toàn diện cho giáo dục. Nguyên tắc để thiết lap hệ thống giáo dục mới là huy động sự tham gia tích cực của mọi người và mọi tổ chức vào cải cách giáo dục: Giáo viên là tác nhân chính tham gia vào quá trình đổi mới giáo dục từ gốc đến ngọn; học sinh, sinh viên và phụ huynh tự do lựa chọn chương trình học; nhà trường tìm biện pháp hữu hiệu nhất trên cơ sở tự quản và cạnh tranh, đảm bảo chất lượng giáo dục qua một quá trình đánh giá có hệ thống; chính phủ chú trọng việc nghiên cứu giáo dục, đánh giá kết quả nghiên cứu, truyền bá thông tin giáo dục và đảm bảo sự công bằng giáo dục đối với mọi thành phản trong xã hội: người sử đụng nguồn nhân lực không chỉ quan tâm đến kết quả lao động mà còn quan tâm én su phát triển năng lực của họ: các tổ chức xã hội và các hiệp hội giáo đục là các nhân tố kích thích sự đổi mới giáo dục. Kết quả đạt được của hệ thống giáo dục mở là học sinh, sinh viên có thể chọn học các môn phù hợp, với khả năng và nguyên vọng của mình, cải thiện điều kiến làm việc cho giáo viên, làm cho nhà trường Hàn Quốc tốt hơn, dem lại lợi ích cho các ngành công nghiệp, làm cho vai trò của chính phủ đối với giáo duc thay di

lạ sự đổi mới về giáo dục trong xã hội Hàn Quốc,

Công hoà Nhân đàn Trung Hoa (Trung Quốc)

CHND Trang Hoa 1a mot nước lớn với diện tích 9.397.000km", dân số 1.264 triệu người (năm 2000) chưa kể Hồng Kông và Macao. Diện tích

“Trùng Quốc lớn hơn Hoa Kì năm chục nghìn km” nhưng dân số thì lớn gấp gin 5 lần. Vùng đất rộng lớn của Trung Quốc là Tân Cương có 80% dân số theo Hồi giáo. Một số ít người Trung Quốc theo Thiên chúa giáo và Do thấi giáo. Ngôn ngữ Trung Quốc có nhiều thé ngữ, quan trọng nhất là tiếng phổ

185

thông, mà tiêu chuẩn là tiếng Bắc Kinh. Một vài thổ ngữ quan trọng khác là tiếng Thượng Hải, Quảng Đông, Triểu Chau, Phúc Châu. Ba mươi ngàn chữ viết tượng hình và diễn ý được dùng trong ngôn ngữ viết của Trung Quốc hiện nay, cùng với nhiều thổ ngữ, đã trở thành một vấn để lớn của giáo dục

'Nết nhất quần của lịch sử Trung Quốc là sự kế tục cơ bin nén giáo đục và văn hoá dân tộc, mặc dù tải qua nhiều triều đại và các thời kì nội chiến kéo dài. Giáo dục dựa trên nền tảng văn hoá Trung Hoa với hệ tư tưởng chủ yếu là Khổng giáo, nhưng Lão giáo và Phật giáo đã đóng một vai trò quan trong trong tiến trình phát triển lịch sử Trung Quốc.

Nén van minh Trung Hoa bit déu hơn 2000 năm trước Công nguyên.

Thời đó người dân Trung Quốc đã biết canh tắc đất đai, chân nuôi gia súc và làm đồ gốm. Các nhà tư tưởng lớn của Trung Hoa thời cổ đại Khổng Tử, Lão Tứ và Mạnh Tứ đã sáng lập những học thuyết lầm nền tắng tư tưởng cho nên văn hiến phương Đông... Khổng Tử là người thấy vĩ đại ở thể kỉ thứ 5 trước

“Công nguyên đã thiết lập nên lí tưởng đạo đức cho nén van minh Trung Hoa.

Ông đạy người "quân tử” vẻ trung, hiếu, nhân, lễ, nghĩa, trí, tín. Ông nhấn

manh vai trò của giáo dục (rong việc rèn luyện con người. Tư tưởng Khổng Từ đã được người Trung Quốc coi trọng, và sự trung thành đó được duy trì cqua sự biến đổi của nhiều triểu đại.

“Thời kì nội chiến Đông Chu Liệt Quốc kéo theo sự suy tàn của triểu đại nhà Chu và kết thúc bằng sự nắm quyển của Tần Thuỷ Hoàng, một người cai trị chuyên chế. Ong không chỉ xây đưng Vạn Lí Trường Thành để ngân chặn các bộ tóc phương Bắc tràn xuống, ma còn thực thi một chính sách kiểm soát chặt chẽ, đố các sách vỡ cổ điển mà từ đó có thé nay sinh ra các tư tưởng nguy hiểm. Ông tiêu chuẩn hoá các hình thức viết chữ, sắp xếp các đạo luật, quy định chiều đài trục xe, làm ra tiền đức v.v.

Đế chế của Tân Thuỷ Hoàng bị sụp đổ sau 14 năm, sau đó nhà Hán lên ngôi. Hệ thống đạo lí và đạo đức của Khổng Tử được sống lại và thiết lập như một tín ngưỡng chính thức. Trong triều đại nhà Hán. sy kiểm soát của Trung Quốc mở rộng ra tới Trung A và Tay Tạng. Triểu đại này da day Iai được sự xâm lấn của rợ Hung nô và tạo nên một nên van mỉnh mới, xây dung nến một tẳng lớp các nhà quản tí có học, các quan lại sống theo đạo đức của Không giáo. Hệ thống gia đình đóng người nhiều đồi chung sống và hệ thống thị tốc tiếp lục lồn tại va trong bối cảnh này tạo ra một cơ hội cho sự phát triển cá nhân. Hệ thống giáo đục tỉnh hoa có tính chọn lọc của Trung Quốc

186

‘dip phát triển một cách tự nhiên đã đào tạo nên các quan lại cao cấp rất gi thông qua một hệ thống thỉ cử quốc gia. Chiến lược giáo dục dựa trên cơ sở.

trường địa phương (tỉnh) ở đó mọi người có tài thuộc mọi tắng lớp xã hội được khuyến khích học tập để làm quan. Các thị tộc, gia đình. cộng đồng ủng hộ giúp đỡ các thí sinh trong các kì thì quốc gia. Vào thế kỉ thứ 2 nghề

in đã được phát triển, va Phật giáo từ Ấn Độ chuyển qua vùng núi và trở

thành một nhân t6 quan trọng khác của nên van minh Trung Hoa.

Sau đó nhà Hán suy thoái và một riểu đại mới lên nắm quyển là nhà Đường. Để chế đời Đường mở rộng lãnh thổ Trung Quốc bằng cách xâm lược

tới tan Sibéri, Trung Á, Tây Tạng và Đông Nam châu Á. Trung Quốc thời đó.

chắc chắn là nước mạnh nhất trên thế giới. Những người cai trị đã cải tiến hệ thống thì cử để tuyển người làm quan và hoàn thiên hệ thống quan lại. Triều đại này được coi là xuất sắc trên mọi lĩnh vực của nghệ thuật

Các triều đại nối tiếp lần lượt nắm quyền thống tị. Sau đó người Mông Cổ trần vào nắm quyền và kiểm soát Trung Quốc vio thé ki XII lap nên triểu đại nhà Nguyên. Thành Cát Tư Hãn (Qengis Khan) và triều đại ngoại tộc này đã tị vì Trung Quốc với sự giúp đỡ của các quan lại bản xứ. Nên van mình Trung Quốc đã đạt tới trình độ cao ở thế ki XIII. Hệ thống giáo dục tỉnh hoa chọn lọc có hiệu quả cao và đào tạo ra các học già, các nghệ sĩ.

nhà công nghệ và các nhà quản lí giỏi. Sự kiểm soát của Mông Cổ kết thúc và thay thế bằng triéu dai nhà Mình kéo dài từ cuối thế ki XIV cho đến giữa thế kỉ XVII, Sau đó quan xâm lược Mãn Chau tràn xuống từ phương Bắc và lắp nên một đế chế mới, đó là tiểu dai nhà Thanh kéo dài từ năm 1644 đến năm 1911. Tôn Dật Tiên đã lãnh đạo cuộc cách mạng năm 1911 thắng lợi.

lập nên nước Công hoà Trung Hoa Dân quốc. Hệ thống giáo dục tỉnh hoa chon loc cb dan din tan vỡ, vì nó không đủ cơ sở để đáp ứng được nhu cầu của một nên dân chủ và công nghệ mới của thế kỉ XIX.

Nước Cộng hoà Trung Hoa Dân quốc bắt dầu xây dựng một hệ thống nhà trường hiện đại theo mô hình 6 ~ 3 ~ 3 với 6 năm giáo dục sơ học làm cơ sở, 3 năm trường sơ trung và 3 năm trường cao trong. Giáo dục phổ cập được thực hiện từ 6 tuổi đến 12 tuổi. Chính phủ Dân quốc dã thiết lập cơ sở dio tao tam thời loại hỗn hợp của trường cao trung, nhưng sau Š năm Bộ Giáo dục đã huỷ bỏ, và các trường trung học riêng biệt được xây dựng lại. bao gồm trường phổ thông và trường day nghề. Các trường đại học Trung Qué

187

dan dần có uy tín quốc tế. Sự đóng góp của giáo hội Thiên chúa giáo vào việc xây dựng nẻn giáo dục hiện đại ở Trung Quốc lúc đó có vai trò rõ rệt, cả trong phong trào xoá mù chữ và hình thành các trường đại học và các loại hình trường khác. John Dewey! và nhiều cố vấn nước ngoài đã từng gây ấn tượng cho những bước tiến của người Trung Quốc trong việc xây dựng nên giáo dục và văn hoá hiện đại. Đồng thời xuất hiện thời kì phục hưng của

“Trung Quốc trong văn học hiện đại. đặc biệt là trong các trường đại học.

trong đó có phong trào đơn giản hoá ngôn ngữ Trung Quốc và cách viết văn học dưới dạng bình đân để số đông người có thể hiểu được.

Cuộc xâm lược của Nhật năm 1930 đã bị người Trung Quốc chống lại quyết liệt. Họ chuyển sự kiểm soát của chính phủ và các trung tâm giáo dục vẻ phía Tây. Sự phấn đấu để phục hồi giáo dục đại học ở Trung Quốc năm 197 — 1945 là một nhiệm vụ cực kì quan trọng. Các giáo sinh và sinh viên sơ tần về phía Tây gập những khó khản lớn và phải đi về tận tỉnh phía Tây Nam la Van Nam. Giáo dục đại học được tiến hành trong một mỗi trường rất thô sơ. Nhiều người Trung Quốc đi tản ra nước ngoài và ở lại đó, trong đồ có C.N. Yang, nhà vật lí hạt nhân được giải thưởng Nobe.

Năm 1949 nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa thành lập, đem lại một su thay đổi vẻ vị thế quốc gia và chiến lược giáo dục. Đường lối của Đáng, Công sản Trung Quốc nêu lên chính sách chính thức cho sự phát triển giáo dục là “đản tốc, khoa học và đại chúng”, ning cao trình độ của tất cả mọi người, đặc biệt là nông dân và công nhân để trở thành những công dân xây dựng nhà nước mới xã hội chủ nghĩa. Tháng 2 năm 1956 một bộ 30 chữ cái La tinh ding để phiên âm chữ Trung Quốc được chấp nhận. Các kế hoạch 5 năm 1953 ~ 1957 và 1958 ~ 1962 đặt ra các mục tiêu về thành tích giáo dục, bao gồm xoá mù chữ, thiết lập giáo dục sơ học phổ cập, đẩy mạnh giáo dục trung học và đại học, đồng thời nhấn mạnh sư kết hợp chặt chế giữa lao động, sản xuất và học tập. Hệ thống giáo dục 6 - 3 - 3 - 4 vẫn giữ như trước năm.

1949, nhưng nhấn mạnh vào trọng tâm rút ngắn trường 12 năm thành trường phổ thông thống nhất 10 năm để đáp ứng kịp nhu cấu nhân lực. Các khoá đại học cũng được rút ngắn. Học sinh muốn vào trường trung học và đại học phải qua thí tuyển. Nước Cộng hoà Nhân đàn Trung Hoa cổ gắng mở rộng giáo đục theo một kiểu vừa tỉnh hoa, vừa đại chúng có biều quả cao giống như của

° in Dexey. 859 = 1952, nh it hoe vs pam Hoa Kip te phe wid chi nga Boe dung dt ch qua thin eh ugh côn cụ

188

Liên Xô. Cuốn sách “Mười nắm vĩ đại" do Chính phủ Trung Quốc in ở Bắc.

Kinh nam 1960 mô tả một thập kỉ của sự tiến bộ. Giáo dục được coi là vũ khí đầu tiên và không thể thiếu được cho sự tiến bộ của nhà nước xã hội chủ nghĩa của Trung Quốc.

Giáo dục thời kì cải cách và mở cửa

Công cuộc cải cách giáo dục Trung Quốc với những chính sách phát triển mới vẻ giáo dục được thực hiện trong bối cảnh biến đổi sâu sắc của đời sóng kinh tế ~ xã hội với các mốc lớn sau day:

ân phẩm đến hộ xã viên mở đường,

Nông thôn thực hiện chế độ khoán sảr

cho nông nghiệp phát triển và giải quyết cơ bản vấn để lương thực của một

nước hơn một tỉ người (bất đầu từ 1979),

“Triển khai toàn diện công cuộc cải cách thể chế kinh tế lấy thành phối làm trọng điểm để nâng cao nàng lực và hiệu quả sản xuất của các ngành công nghiệp, làm lành mạnh nến tài chính giá cả

— Thực hành chính sách đối ngoại mở cửa, phát triển các đặc khu kinh tế.

miễn duyên hải tạo điều kiện nhập công nghệ hiện đại và đầy mạnh xuất khẩu.

= Tren lĩnh vực hình thái ý thức xã hội: Từng bước khắc phục hậu quả của cuộc đại cách mạng văn hóa. bước đầu tạo môi trường dân chủ, hòa hợp ân tộc theo định hướng XHCN.

Các bước chuyển biến trên đây tạo cơ sở thực tiễn và điều kiện để Trung

“Quốc công bố mục tiêu phấn đấu chung của công cuộc kiến thiết hiện đại hóa trong giai đoạn 20 nấm (1981 ~ 2000) là:

~ Tăng 4 lần giá trị tổng sản lượng nhằm đạt giá trị thu nhập quốc dân lên 1000 tỉ đô la (800 USD / đầu người bằng mức sống trung bình thế giới năm 1980)

~ Dự kiến vào năm 2049 vươn tới gắn trình độ các nước phát triển hiện nay với tổng sản lượng trên 4000 tỉ đ la (4000 USD / người)

— Đào tạo 34 triệu chuyên gia và cán bộ chuyên môn trong đó có 700.000 tốt nghiệp trên đại học: § triệu tốt nghiệp ĐH; 17 hiệu tốt nghiệp các trường nghề và phổ cập giáo duc bat bude.

Để thực hiện các mục tiêu trên hệ thống giáo dục cắn phải có những bước chuyển cân bản về thể chế và chất lượng giáo dục ở tất cả các bậc học.

“Các chính sách giáo dục hướng vào ba lĩnh vực chính

189

a. Tang cường năng lực quản lí nhà nước về giáo đục (cấp vĩ mô) với việc thành lập UB giáo dục (nay là Bộ Giáo dục) đồng thời mở rộng việc phân quyền giáo dục và quản lí giáo duc cho địa phương và các trường đại học.

b. Điều chỉnh cơ cấu giáo dục trung học. Đẩy mạnh tốc độ phát triển giáo đục kĩ thuật nghề nghiệp.

e. Phát triển giáo dục cao đẳng nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực rộng rãi 'Nàng cao chất lượng và hiệu quả xã hội của giáo dục đại học.

Một số quan điểm cơ bản được nêu ra trong cải cách giáo dục làm cơ sở

‘cho quá trình hoạch định chính sách là:

Trong giai đoạn của CNXH (mà theo Đặng Tiểu Bình có thể kéo đài 100 năm) nhiễm vụ trọng tâm là phát triển lực lượng sản xuất. Do đó, tiêu chuẩn duy nhất để đánh giá giáo dục là sự đóng góp của giáo đục vào quá trình phát triển lực lượng sản xuất.

Sự phát triển giáo dục tất yếu chịu sự chỉ phối của nguồn lực kinh tế.

Nhu vay, phải quan tâm đến năng suất, chất lượng và hiệu quả hoạt động, giáo đục và phải phát triển giáo dục theo khả năng của đất nước.

~ Giáo dục cơ sở là yếu tổ quyết định trực tiếp tới chất lượng của lực lượng lao động trong nửa đầu thể kỉ XXI, vì vậy công tác xoá mù chữ và phổ cập tiểu học có ý nghĩa chiến lược.

~ Đầu tự kinh phi cao cho giáo dục phải được coi là chính sách quốc gia hàng đầu. Đâu tư giáo đục phải được xem như đầu tư phát triển sản xuất

— Phát triển giáo dục chuyên nghiệp theo hướng đáp ứng nhu cấu nhân lực đủ chuẩn. Xây dựng hệ thống chính sách mới bao gồm các mặt:

++ Thu kinh phí đồng góp từ người học, các tổ chức xã hội + Thu lợi nhuận từ giáo đục nghề nghiệp đem lai

+ Đổi mới chương trình dạy nghề theo nhủ cầu thị trường lao động.

~ Phát triển giáo dục theo hoàn cảnh địa phương. Bảo đảm sự tham gia rong rãi của công đồng vào việc quản lí giáo dục và đầu tư cho giáo đục.

Chính phủ Trung Quốc để ra chiến lược "làm cho đất nước giàu mạnh thông qua khoa học và giáo dục” và như nhà kiến trúc sư của sự nghiệp cải tổ của Trung Quốc Đăng Tiểu Bình đã nói: "Một đất nước có trên 1 tỉ dân khi giáo dục phát triển thì ưu thế to lớn vẻ nguồn nhân lực con người của nó sẽ không có nước nào sánh nổi”

-ơ sở sản xuất.

180

Một phần của tài liệu Quản lý các vấn đề giáo dục: Phần 1 (Trang 183 - 200)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(208 trang)