Tính cụ thể trong thơ

Một phần của tài liệu Tìm hiểu về thi pháp thơ Đường: Phần 2 (Trang 31 - 39)

Cho tới nay, chúng tôi tập trung chú ý vào cú pháp bên ngoài của danh từ và cụm danh từ, tức là phương diện hình thức của nhân tố này với các thành phần khác trong câu.

Bây giờ, chúng tôi bắt đầu thảo luận một vấn đề bổ sung thêm là: ý tượng của những danh từ và cụm danh từ này thuộc loại hình nào ?

“Loại hình" từ ngữ này nói chung có ý hướng triết học

ie) nn a

hoặc ngữ pháp ngữ nghĩa, trong tình huống đặc thù nó có hai ý hướng đó. Quan điểm dưới dây thoạt nhìn thì hết sức tự nhiên: ý tượng lấy danh từ làm cơ sở là cụ thể, là lấy sự vật làm trung tâm. Bởi vì những ý tượng không cụ thể thì không có cách gì tưởng tượng được, mà như chúng ta đã biết trong quy tắc ngữ pháp, danh từ là tên gọi nhân vật, địa điểm hoặc sự vật. Đây cũng là quan diém cha Hulme va một số người khác. Hulme nói rằng: "(Thơ) không phải là thứ ngôn ngữ máy tính mà là một thứ ngôn ngữ cụ thể có thé cảm nhận được... ý tượng của thơ không chỉ là sự trau chuốt mà là tĩnh hoa của ngôn ngữ trực quan". Lưu Nhược Ngu khi bàn về thơ Trung Quốc cũng nói: "Rất tự nhiên là trong thơ Trung Quốc chúng ta phát hiện hang loạt những ý tương giản đơn giế. ; như thi ca của bất cứ một ngôn ngữ ào khác, bởi vì thiên tính của thơ là cụ thể chứ không phải là trừu tượng”.

Nhưng khi chúng ta nói ngôn ngữ của thơ nên là ngôn ngữ cụ thể, mà chính ý tượng đem cho nó tính cụ thể, thì rút cuộc là chúng ta muốn nói cái gì ? Xét về một ý nghĩa tặc biệt nào đó cái mà nó biểu đạt là như mọi người đều biết:

cảm giác cụ thể hơn khái niệm, chủng loại cụ thể hơn là loại. Chẳng hạn như "cái xéng” thi cụ thể hơn là "chân lý”

và "công cụ”. Song, vấn để này nếu phân tích ở cấp độ sâu hơn thì không đơn giản như vậy. Thử so sánh một chút: "cái xéng ri” theo hướng tay chỉ "cái xẻng kia", "cai xéng sau cửa", "cái xẻng tay nắm có đường rãnh" thì cái nào cụ thể 266

nhất ? Cái nào trừu tượng nhất ? Xét về ý nghĩa nào đó "cái xẻng đã cũ rỉ” là cụ thể nhất, bởi vì chúng ta có thể tưởng tượng ra đặc trưng chung của nó: mầu đen, chất thô, còn ở một ý nghĩa khác "cái xẻng kia" và "cái xẻng sau cửa” đều kèm theo chỉ thị nhằm nói rõ rút cuộc là cái xẻng nào. do đó tỏ ra là cụ thể hơn, dù rằng trước khi tìm được cái xẻng ấy, chúng ta không có ấn tượng nào về hình dáng trạng thái cái xẻng; mà "cái xẻng tay nắm có đường rãnh" tuy rằng có tên gọi riêng và chi tiết riêng, nhưng nó lại không nêu ra phương hướng cụ thể để tìm cái xẻng này, cũng không miêu ta diện mạo của cái xẻng, cho nên khi chúng ta phán đoán về sự biểu đạt của văn tự có cụ thể hay không thì điều nên làm trước hết là hãy xác minh điểm chú ý và phạm vi biểu đạt c¿ › nó.

Trong luận điểm của Hulme (dẫn ở phần 1.1 trên) ông cũng đã nhắc tới "sự vật cụ thể" và "sự vật vật chất". Ông nói: "CThơ) thường bám riết anh, khiến anh luôn luôn nhìn thấy sự vật vật chất, ngăn chặn anh trong quá trình trượt đến các ý n:ệm trừu tượng”. Fenollosa cũng có quan aiệm tương tự. Ông cho rằng câu động từ cập vật "khiến ngôn ngữ càng gần với sự vật hơn”. Từ một ý nghĩa nào đó mà nói, bất kế coi thế giới là sự tụ tập của rất nhiều sự vật hay coi là sự tập hợp của các tính chất đều như nhau: một sự vật là tập hợp của các tính chất của nó; mà một tính chất là đặc trưng chung của cả một loại sự vật. Nhưng ở một ý nghĩa khác thì những cách nhìn khác nhau ấy lại hình thành nên những thế

267

giới khác nhau. Ví dụ như việc tạo nên một bức tranh không chi bao bém người và sự vật mà cũng bao gồm cả mầu sắc và mặt bằng. Đối với Lêona dợ Vanh xỉ và những bậc thầy nghệ thuật thời văn nghệ phục hưng thì hội hoạ rõ ràng là lấy người hoặc sự vật làm trung tâm, mầu sắc. sắc điệu. mật phẳng, đường nét đều căn cứ vào nguyên tắc hội hoạ hiện thực chủ nghĩa mà tổ hợp, còn đối với H. Matisse và Cezanne thì hội hoạ tạo cho người ta ấn tượng trực tiếp bang một cái gì đó mà người ta có thể nhận biết được, nhưng trong đó, mối quan hệ giữa các bộ phận có lẽ không thể nhận thấy trong thế giới hiện thực. Chúng tôi cho rằng. thơ cận thể đời Đường, cũng giống như quan điểm của Matisse va Cezamne, phần nhiều là nhấn mạnh tới tính chất nôi tại của chất liệu nghệ thuật mà không phải là nội dụng m:. :hất liệu nghệ thuật ấy biểu hiện. Trong thơ Đường, chất liệu nghệ thuật vừa bao hàm các ý tượng danh từ giản đơn, lại vừa bao hàm đặc trưng tính chất mà chúng biểu hiện. Để làm rõ quan điểm này cần phân biệt hai khuynh hướng hoặc thiên về sự vật noặc thiên về tính chất. Đây là vấn đề thứ hai mà chúng tôi cần thảo luận.

Những vấn để này đều có mối liên hệ nội tại. Trong ngôn ngữ thơ tiếng Anh có nhiều hình thức cú pháp có thể dùng để liệt kê chỉ tiết của đối tượng hoặc chỉ ra quan hệ tự nhiên giữa các đối tượng. Trong ngôn ngữ ấy, ta có được tính cụ thể, một sự cụ thể hướng tới sự vật. Khi chúng ta tập trung chú ý vào các chỉ tiết sẽ đến nối tiếp nhau, ta sẽ có

268

một ảo giác: đối tượng vật chất có thể sờ mó được. hoặc là cả cảnh tượng như hiển hiện ra trước mắt. Song, giống như mốt liên hệ cú pháp khiến từ và từ liên kết với nhau, sức kéo hướng về tính chất do đối tượng sản sinh ra cũng làm trở ngại cho việc thực hiện một loại độc lập có tính chất khác.

Đây là một loại độc lập thiếu tính hiện thực giống như màu sắc và mật phẳng của Matisse và Cezanne,

Tình hình của thơ cận thể thì khác hắn. Chúng ta thấy là trong thơ cận thể đầy những ý tượng giản đơn, chúng ta sẽ còn thấy là: môi giới của loại ý tượng này tuyệt đại đa số là xuất hiện với hình thức tính từ - danh từ, hoặc danh từ - danh từ. Tính từ đương nhiên là đại biểu tính chất, mà đa số những danh từ tu sức cũng có khuynh hướng chỉ tính chất mạn!. mẽ. Ví dụ "ngọc địch” là mát mẻ và bó:.z láng; "kim giáp” thì vàng choé loá mắt. Do đó, chỉ nói riêng về cấu trúc nội tại của ý tượng giản đơn thôi thì giữa tính chất và sự vật có một loại cân bằng. Ngoài ra, do quan hệ cú pháp hết sức lỏng lẻo, ngôn ngữ của thơ Đường có cá tính độc đáo, những biện pháp ngữ pháp nhằm liệt kê chi tiét, chi rõ quan hệ hoặc là trong tiếng Hán căn bản không có, hoặc là trong quá trình chuyển hoá từ ngôn ngữ phổ thông đến ngôn ngữ thơ ca đã bị bỏ qua. Khi quan hệ cú pháp yếu đi thì cơ chất trở thành nhân tố chủ yếu. Trong các loại quan hệ cơ chất, tương tự hoặc tương phản, có tầm quan trọng đặc biệt đối với các ý tượng giản đơn. Ngoài ra, cơ sở tạo thành câu đối cũng là tương tự hoặc tương phản, Khi so sánh hai sự vật,

269

chúng ta thường so sánh trên đặc trưng hoặc tính chất nào đó. Vì thế, kết luận của chúng tôi là: ý tượng giản đơn trong thơ Đường có khuynh hướng mạnh về biểu hiện tính chất mà không phải là biểu hiện sự vật. Nó có một tính cụ thể hoàn toàn khác, về mặt truyền đạt ý nghĩa của tính chất sinh động, ý tượng giản đơn là cụ thể. Song, chúng hoàn toàn không phải bắt rễ vào bản thân sự vật - các bộ phận của những sự vật này và quan hệ giữa nó với các sự vật khác là tương đối xác định - xét về ý nghĩa này ý tượng giản đơn lại là trừu tượng.

2.3. Khuynh hướng tính chất của ý tượng giản đơn Những điều bàn trên kia có thể thông qua một ví dụ đặc thù để kiểm nghiệm minh xác, đó là liên thứ hai trong bài “Giang Hán”.

Phiến vân thiên cộng viễn í Vĩnh dạ nguyệt đồng cô.

“Thiên” (trời) là một ý tượng giản đơn, là một danh từ đơn âm tiết không có bất cứ tu sức nào, nó hiển nhiên không phải là đối tượng phô bày chỉ tiết.

Theo ý dịch của A.C. Graham (6) câu thứ ba là:

"Under as far a sky as that steak of cloud”

(Dịch sát từng chữ là: "Dưới bầu trời xa xăm như đám

may")

Đây là cách biểu dat theo tập quán của thơ tiếng Anh, theo cách này thì quan hệ không gian giữa trời và mây (cũng chính là quan hệ hiện thực) được biểu thị ra một cách

270

chính xác, nhưng trong câu thơ nguyên bản trung văn thì quan hệ này là hàm ẩn. Là một đối tượng trời được coi là tập hợp có một loạt tính chất: thoáng đãng, xanh lơ, mênh mông, xa xăm - Đây đều là những tính chất có quan hệ đến trời. Trong ngữ cảnh của câu thứ ba Trời đã thể hiện một đặc trưng "rộng đài” (quảng mậu). Vì sao vậy ? Trước hết là trong liên đầu đã có sự tương phản gay gất giữa cái mênh mông của vũ trụ với cái bé nhỏ của du tử; thứ hai, hai danh ti "van" va "da" lam thành ngữ cảnh trực tiếp của trời đều thông qua phương pháp tu sức mà biểu hiện một cách minh xác thuộc tính to hoặc nhỏ, "đám mây" (phiến vân) là nhỏ bé, "đêm dài (vĩnh dạ) là to lớn, Đặc trưng ngữ nghĩa "rộng đài” và sự đối sánh "to nhỏ” đều thuộc về cùng một loại. Do đó, ni trời có khuynh hướng tính chất là bối ›ai lý đo: Về mặt tiêu cực thì do nó vừa không phải là danh từ chỉ tên đặc thù, lại không phải là tiêu điểm trưng bày nhiều các chỉ tiết, nên nó không có công dụng của "hiện thực". Xét từ mặt tích cực, nó thuộc vào lĩnh vực đặc thù, ở đây thông qua sự đối chiếu giữa cái to lớn và sự bé nhỏ mà biểu hiện ra các tính chất.

Mấy câu thơ dưới đây dẫn từ bài “Cung trưng hành lạc từ" của Lý Bạch:

Liễu sắc hoàng kim nộn Í Lê hoa bạch tuyết hương Ngọc lâu sào phỉ thuỷ ! Kim điện toả uyên ương (455) (Sắc liễu non vàng suộm / Hoa lê trắng tuyết thơm Lầu ngọc tổ chim thuý / Điện vàng khoá uyên ương

271

Bốn câu tiếp dưới là kêu gọi các ca nhí kỹ nữ bước ra khuê môn để theo hầu xe ngọc của vua, cuối cùng là kết bài theo kiểu vấn đáp (như thuật ngữ của chúng tôi gọi là ngôn ngữ suy luận):

Cũng trung thuỳ đệ nhất ! Phì vền tại chiêu dương (Trong cung ai là thứ nhất / Chỉ có nàng Phi Yến như én bay dưới ban mai)

Chúng tôi quan tâm ý tượng giản đơn trong 4 câu đầu, Câu 1, 2 nói đến sắc liễu vàng rực và mềm mại, hoa lê trắng như tuyết và ngát thơm. Song, sự không liên tục của cú pháp khiến cho "hoàng kim” (màu vàng chói) và "bạch tuyết"

(tuyết trắng) trở nên độc lập, từ đó mà chúng là ý tượng giản đơn. "Hoàng kim" và "bạch tuyết" là loại từ phức hợp gồm tớnh từ ¿ ơộp với danh từ. Những loại từ ghộp tưc..g tự như thế có rất nhiều như: “Minh nguyệt", "Bạch lộ", "trường ha", "lục thuỷ”, "loan cung". Trong loại từ ghép này , tác dụng của tính từ không hạn chế mà là nhấn mạnh: trước

“kim” thêm "hoàng" không phải là để hạn chế phạm vi chỉ tên kim (vàng) mà là để nhấn mạnh tính chất của nó. Trong trường hợp này, màu sắc "hoàng" thường gắn với "kim".

Con như "hoàng kim” hoặc "minh nguyệt", thì cách biểu đạt này có khi bị coi là những ý tượng cũ Kĩ hoặc sáo ngữ. Dù cho quan điểm này đúng đắn ra sao thi đều cần phải làm rõ thêm nữa là: thơ trữ tình đời Đường hoạt động trong lĩnh vực được tạo thành bởi đặc trưng trạng thái, chỉ cần sự biểu đạt của thơ Đường chú trọng ở tính chất thì 272

chúng có thể có tác dụng quyết định để duy trì fĩnh vực này.

Khi những từ ngữ trau chuốt qua nhiều lần thí nghiệm và khảo nghiệm lâu dài được thu thập trong các sách "Loại thư, vận phủ”, thì hoàn toàn có khả năng vận dụng để tạo nên những kiểu câu và "cơ chất” mới mẻ. Chúng ta thấy ngay rằng diéu này được chứng minh trong thơ Lý Bạch.

Trong liên thứ 2, đối tượng của hai câu đã làm nổi rõ sắc thái tươi tắn của hai loài chim “phi thuý" và "uyên ương” là hai danh từ song âm tiết, nó cùng thuộc một loại với "phượng hoàng", “anh vũ”, "bồ đào”, "phù dung”... Cho dù không có tính từ thì những danh từ này cũng hướng vào tính chất thị giác. Chúng đều là những tên gọi của các sự vật có màu sắc. Ngoài ra, "phi thuý" là từ điệp vận, "uyên ương” là từ song thanh đều có hiệu quả thính giác. Cũng như vậy thì "ngọc lâu" và "kim điện" cũng có thể qua đối tượng mà sinh ra hiệu quả thính giác: một là mầu trắng đối với một bên là mầu vàng.

Một phần của tài liệu Tìm hiểu về thi pháp thơ Đường: Phần 2 (Trang 31 - 39)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(279 trang)