Tính trung tàm của động từ

Một phần của tài liệu Tìm hiểu về thi pháp thơ Đường: Phần 2 (Trang 184 - 190)

Cho đến lúc này, chúng tôi chỉ mới thảo luận phương thức sản sinh ý nghĩa mới của danh từ, vậy từ động từ sẽ nhận được ý nghĩa mới bằng cách nào ? Vấn để này có thể nêu ra một cách khác: khi danh từ và động từ kết hợp với 418

nhau một cách không phù hợp, hài hoa, thì đó là một trường hợp khác thường của ngữ nghĩa. Chúng ta đã nói về danh từ thích ứng động từ. nhờ đó mà có được nghĩa mới, nhưng tại sao loại thích ứng đó chỉ là một chiều mà không thể thay nó bằng các phương thức khác ?

Đáp án của vấn đề này là: giữa động từ và danh từ có một hiện tượng không đối xứng nội tại. Lấy ví dụ "cái ghế mỉm cười", ghế là đanh từ không có sự sống, còn động từ

"cười" thì đồi hỏi một vật thể có sự sống làm chủ ngữ. Như vậy, ta hình thành một mâu thuân. Cách giải quyết mâu thuẫn là đem "cái ghế” xem là một sinh vật khác thường bị động từ chỉ phối. Nhưng chúng ta lại không thể hiểu "cười"

theo một phương thức khác thường được, không cho đó là một hoạt động khác thường của một sự vật không có sự sống. Đối với một sự thực hiển nhiên và khá quan trọng như vậy Wallace Chafe có một cách diễn đạt rõ ràng nhất: tính trung tâm của động từ (the centrality of verb) (14).

Chúng ta đã nhìn thấy, trong một ngữ cảnh không ăn nhập, ý nghĩa của động từ vẫn giữ nguyên không đối, do đó căn bản không thể có vấn dé động từ nhận được ý nghĩa mới. Trong tiếng Hán, một tính từ ở vào vị trí của vị ngữ thì phát huy tác dụng tương tự như động từ, nó có khi được gọi là "động từ trạng thái". Các động từ trạng thái này có được tính ổn định về ý nghĩa như động từ cập vật và động từ bất cập vật. Trong ví dụ: "Chiếc ghế mỉm cười" hay "chiếc ghế tất hớn hở" đều đã biến cái ghế từ Không có Sự sống thành 419

cái có sự sống, mà không cần xét xem vị ngữ là động từ cập vật hay động từ trạng thái.

Sự thực này có một ý nghĩa quan trọng. Bat dau tir Aristote tu từ học phương Tây đã có truyền thống đem phương thức loại suy hay loại tỉ để phân tích ấn dụ của động từ. Theo lí luận của họ thì một ẩn dụ bao gồm bốn sự vật liên hệ với nhau theo một quan hệ đặc thù. Các quan hệ đó là: A đối với B giống như € đối với D. Do đó nói “thuyền cày biển lớn" cũng tức là nói quan hệ giữa thuyền và biển giống như quan hệ giữa cày với ruộng. Danade Davis cho rằng các nhân tố mà ẩn dụ liên hệ không phải bốn, mà là sáu, tức cày, thuyền, ruộng, biển, động tác cày và động tác di dong thuyén (15). Di rang cho đến nay vẫn chưa có người nêu ra ý kiến khác, thì trên cơ sở của Davis tăng thêm hai nhân tố nữa vẫn được. Đó là: sự liên hệ giữa cày và

ruộng với động tác cày ruộng, sự liên hệ giữa thuyển và biển với động tác khiến thuyền di động. Khi bắt dầu phân tích, chúng ta chỉ cảm nhận một cách trực giác rằng một ẩn dụ liên can tới hai nhân tố - dụ thể (vehicle) và dụ chỉ (tenor), nhưng kinh qua sự phân tích của lí thuyết loại suy, các nhân tố đó liền tăng lên 4, 6, 8, thậm chí nhiều hơn nữa.

Nhưng như trên đã nói, trong ngữ cảnh không ăn nhập thì ý nghĩa của động từ giữ nguyên không đổi, mà là thay đổi danh từ để thích ứng với nó, Nếu chúng ta xem đó là một hiện tượng cơ bản của ngôn ngữ, thì không cần phải có li thuyết loại suy nữa. "Chiếc ghế mỉm cười” là một ẩn dụ

420

mang tính động từ, đối với nó nên phân tích so sánh về loại như thế nào ? Chúng ta có thể giả định có bốn nhân tố:

người, động tác cười, ghế, động tác cười. Thế là cái ghế cười như là một người cười. Thế nhưng trên thực tế, chỉ có ba nhân tố, sự khiếm khuyết đó chỉ có tăng thêm một động tác mới - một động tác biểu hiện ghế cười thì mới bù đấp được. Nhưng như vậy lại làm cho vấn để phức tạp thêm.

Trên kia có nói “Thuyền cày biển lớn” có sáu nhân tố, trong đó có một nhân tố là do nhà lí luận bổ sung vào, đó là động tác đi thuyền. Chúng ta biết: thuyển di động là nhờ máy móc. trong câu không để cập tới cội nguồn động lực của việc đi thuyền, do đó không bao hàm nhân tố "động tác đi thuyền”, Nhưng một sự phân tích giản đơn cũng đủ cho thấy động từ cầy (canh vân) đã bao hàm ý nghĩa đi thuyền rồi, hơn nữa hai danh từ "thuyền" và "cày" đều trực tiếp phù hợp với "canh vân" (cày), không cẩn thiết phải thêm động từ làm môi giới cho chúng liên hệ với nhau.

Chúng ta còn có thể nêu ra lí do để thuyết minh tại sao mà phản đối sự phân tích kiểu Aristote. Các nhà thơ đều mong muốn truyền đạt những kinh nghiệm độc đáo, mới mẻ của mình, ẩn dụ là một trong những biện pháp › xà họ có thể sử dụng để thực hiện mong muốn đó. Do đó, đoi với một ấn dụ, nhà thơ và người đọc cảm thấy hứng thú nhất là tính chất hay động tác, cũng tức là đem dụ thể biến thành dụ chỉ (đem cái ẩn dụ biến thành cái được ấn dụ); nhưng một số nhà lí luận, nhất là nhà lí luận kiểu Aristote thì cái toà họ

quan tâm chỉ là tim ra các nhân tố tạo thành ẩn dụ trong tính chất hay hành động. Làm như thế thực chất là vô ích.

Cái sự thực vẻ việc động từ vẫn giữ nguyên ý nghĩa cũng có thể được dùng để giải thích cách vận dụng động từ trong ẩn dụ. Muốn hiểu một ẩn dụ, điều mấu chốt là phải căn éứ vào hai thành phần được so sánh với nhau để lý giải tính chất và động tác mà chúng biểu hiện. Lấy câu "phù vân du tử ý” làm ví dụ, "phù vân" và "du tử” đều là từ phức hợp do danh từ và tính từ hợp thành. "Du tử” thông thường là đanh từ phức hợp không cần phân tích nữa, ý nghĩa là chỉ

"người đi chu du"; nhưng ở đây, dưới ảnh hưởng của "phù van", chữ ”du” cũng trở thành độc lập (16). Chúng tôi đã chỉ ra: tính từ không giới hạn như chữ “phù” này có tác dụng tăng cường tính chất vốn có của đối tượng, đồng thời nó cũng có tác dụng phụ trợ khiến cho "phù vân” tạo thành một

ý tượng giản đơn. Ở đây, chúng tôi muốn lưu ý tới một tác

dụng khác của nó: khi hai tính từ đồng thời xuất hiện thì sự đối chiếu của chúng liền trở thành một tiêu điểm đáng chú ý. Nói cách khác, khi hai danh từ không có tính ngữ như

"van" va "tâm” đặt ngang hàng, thì chúng được so sánh với nhau theo phương diện nào đều không rõ lắm; tính từ tu sức đã thu hẹp phạm vì tương đồng, làm cho ý nghĩa ẩn dụ trở nên nổi bật. Do đó, nguyên tắc đồng đẳng không phải là phương thức duy nhất để cấu tạo nên ẩn dụ, các tính từ tu sức cũng có thể đóng một vai trò nhất định.

Sự phân tích về tính từ trên đây cũng thích hợp, hay có 422

thể nói là thích hợp hơn để phân tích động từ, bởi vì ý nghĩa của động từ là cố định, bất biến, điều đó khiến cho nó trở thành từ xác chỉ rất lí tưởng. Trong câu thơ "Vân lung viễn tụ sầu thiên phiến / Vũ đã qui chu luy vạn hàng" (Mây

giãng núi thẳm sầu muôn lớp, Mưa gõ thuyền về lệ vạn

hang) (TPT 72), thì “lung” nhấn mạnh sự sầu bị như tầng mây ôm núi, kết chặt không gỡ ra được, còn "đã" thì làm nổi bật lên cảnh nước mắt như mưa gõ vào chiếc thuyền trở về, cũng liên miên dai dẳng như thế. Trong câu "Thuỷ lưu tâm bất cạnh / Vân tại ý câu trì" (Nước trôi lòng không chạnh, Mây còn ý đều nhàn) (481), động từ "lưu" là sự vận động tự nhiên và thoải mái nhất của nước, do đó mà trở thành nỗi lòng tự tại; ý nghĩa mặt chữ của chữ "tại" là "tồn tại", ở đây hiểu là “liu lai", nó là một từ mang trạng thái tĩnh và đặc trưng trung tính, ở trong thơ nó biểu hiện sự nhàn nhã, vô vi.

Chúng ta hãy nhìn lại một lần nữa sự khác biệt của danh từ và động từ trong quá trình tạo thành ẩn dụ: với tư cách là một tập hợp tính chất của danh từ có một phạm vi đặc trưng rộng lớn hơn động từ, do đó khi danh từ và động từ cùng xuất hiện trong một ngữ cảnh không ăn nhập - ví dụ như "ghế mim cười", thì danh từ có một tính chất linh hoạt hơn trong việc làm cho nó thích ứng với động từ, chứ không phải là dùng các phương thức khác làm cho chúng ăn nhập với nhau. Đúng như điều ta nhìn thấy trong tranh biếm hoa, chúng ta dễ dàng hình dung một cái ghế đang mỉm cười, 423

đồng thời vẫn giữ nguyên hình đạng cái ghế: bốn chan, mat phẳng để ngồi, lưng ghế đế dựa. Với tư cách là danh từ chuyên môn. ngoài chức năng khiến cho sự vật không có sức sống trở thành có sức sống, cái ghế vẫn bảo lưu toàn bộ ý nghĩa đặc trưng vốn có của nó. Nhưng vì ý nghĩa của động từ "cười" bị hạn chế lớn hơn, cho nên không thể được điểu chỉnh như danh từ "ghế”. Khi một động từ xuất hiện trong một ẩn dụ do danh từ mở rộng ra, thì nguyên tắc trên vẫn thích hợp, ví dụ như trong câu "Vân lung viễn tụ sầu thiên phiến" thì hai danh từ "vân"và "sầu" đồng thời xuất hiện, sự đối sánh của chúng không xác định, nhưng "lung”

xuất hiện thì tính không xác định kia liền bị thủ tiêu, nhờ đó mà ẩn dụ càng tỏ ra có hiệu quả.

Một phần của tài liệu Tìm hiểu về thi pháp thơ Đường: Phần 2 (Trang 184 - 190)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(279 trang)