Phó từ thời gian

Một phần của tài liệu Tìm hiểu về thi pháp thơ Đường: Phần 2 (Trang 107 - 127)

Trong 4 Trong 4 câu đầu của bài thơ, màu sắc có tác dụng quan trọng. Trước tiên là trong mỗi câu đều chứa đầy màu

B. Loại tu sức bằng tính từ hạn định như: nhiệt phong, hoàng vân, hương đạo (gió nóng, mây vàng, lúa thơm)

3.2. Động từ tĩnh thái

3.5.4. Phó từ thời gian

Hình thái và đường nét của sự kiện thông thường dùng trợ từ thể mạo (hình thể đáng vẻ) biểu hiện, điểm này trong tiếng Hán cổ và tiếng Hán hiện đại đều giống nhau. Nhưng trong thơ cận thể rất ít đùng trợ từ thể mạo.

Tác dụng của những trợ từ này dường như hoàn toàn do phó từ thời gian đảm nhiệm. Ở trên, chúng ta đã thấy những ví dụ về loại phó từ này như hai câu: "Xuân phong hựu lục giang nam ngạn"” (xem I.2) và "Lạc nhật tâm do tráng, thu phong bệnh dục tô (xem 1.4) có các phó từ "hựu”,

"do" biểu thị sự tiếp tục, chúng đại biểu cho hai mặt chủ yếu của thời gian, chúng tôi cũng dựa vào đó mà chia phó từ thời gian làm hai loại:

A. Phó từ biến hoá

Ngá bối phục đăng lâm (440) (Bọn ta lại leo lên) Hốt quá Tán phong thị (433) (Bỗng qua phố Tan

phong)

Thuỷ kiến hương lô phong (440) (Mới thấy ngọn lò 341

huong)

Thường độc Viễn công truyện (440) (Thường doc truyện Viễn công)

Du nữ thường giải bội (445) (Gái chơi thường cởi

yếm)

Thời hữm lạc hoa chí (445) (Có khi hoa rơi rụng) Bạch đâu tạo cánh đoán (470) (Đâu bạc tóc ngắn ngủn)

Đĩ cận khổ hàn nguyệt (479) (Đã gần mảnh trăng

lạnh)

Xuân sắc chính dong lai (495) (Sắc xuân chính từ đồng tới)

Minh thời phương ái tài (495) (Thời vua sáng mới quí người tài)

Xuân phong xuy hựu sinh (505) (Gió xuân thổi lại mọc lên)

B. Phó từ tiếp diễn

Vĩnh hoài trần ngoại tông (440) (Nhớ mãi dấu bụi đường)

Trường tại Hán gia doanh (413) (Doanh Hán còn mãi đó)

Thường tuỳ bộ liễn quy (454) (Thường về bộ vin theo

xe vua)

Mỗi xuất thâm cung lý (454) (Mỗi khi ra khỏi thâm cung)

342

Từ gia cửu vị hoàn (516) (Xa nha lâu chưa về)

Huân nghiệp tân khan kính (487) (Noi gương nhiều nghiệp vẻ vang)

Vọng tận tự do kiến (489) (Nhìn mãi tựa như còn thấy) 3.3.5. Động từ cập vật

Cơ sở tư tưởng của động từ cập vật là động thái liên tiếp, nó là sự chuyển di của lực từ chủ ngữ tới tân ngữ. Do đó, kiểu câu phản ảnh đầy đủ hình thức chuyển đời này nên là câu hoàn chỉnh gồm đủ cả chủ ngữ - động từ - tân ngữ.

Tuy rằng trong tiếng Hán chủ ngữ thường thường bị tỉnh lược, chúng ta vẫn có thể căn cứ vào tân ngữ tiếp sau nó mà nhận ra động từ cập vật, đương nhiên trong tình hình này thì hiệu quả động từ giảm đi phần nào. Liên kết là một tư tưởng rất cơ bản, không có sự liên kết của động từ thì một bài thơ sẽ trở thành một tập hợp của những danh từ xếp đẳng lập.

"Tự" (tựa), "như" tạo thành vi von để bàn về sự liên kết tĩnh.

Bây giờ, chúng tôi tiếp tục bàn về loại này, ngoài tác dụng liên kết của động từ cập vật, chúng tôi còn căn cứ vào trình độ và sự biến hoá động lực của chúng mà phân tích bản thân động từ cập vật.

Các cơ quan cảm giác của loài người khác với các cơ quan xúc giác của sinh vật cấp thấp, nó không thể có hoạt động rõ ràng. Nhưng mắt và tai của chúng ta có thể vươn ra thế giới bên ngoài. Như “kiến” (thấy), "văn" (nghe) là loại động từ đại biểu cho sự hoàn thành hoạt động cảm giác, cho 343

nên chúng là tĩnh mà những động từ cảm giác khác thì đòi hồi sự nỗ lực và năng lượng nhiều hơn. Trong các câu "Lá phong thính mộ thuyển" (422) (trước gió nghe tiếng ve chiều hôm) và “&huê trung chỉ độc khan" (469) (trong khuê phòng chỉ một mình nhìn), Động từ nhiệm vụ "thính"

(nghe) và "khán" (nhìn, xem) đều thể hiện ý nghĩa nỗ lực rất mạnh, có ý vị của động từ mạnh hơn là các động từ biểu thị tình cảm, như "liên" (thương xót), "ức" (nhớ), "cảm"

(cảm tính, cảm giác), "hận" (giận) trong các câu:

"Dao liên tiểu nhỉ nữ" (469) (xa thương con gái nhỏ)

“Không ức Tụ tướng quân" (462) (Nhớ suông Tạ tướng quân)

“Cẩm thời hoa tiễn lệ ! Han biệt điểu kính tâm" (470) Ở đây, sự nỗ lực biến thành khát vọng.

Biểu hiện động thái của địa điểm chính là sự chuyển rời vị trí, động từ biểu thị sự chuyển rời vị trí lấy hình thức động thái để liên kết các sự vật trong không gian. Trong hai . câu:

Chỉnh bông xuất Hán tdi / Quy nhạn nhập Hồ thiên (435)

Ở đây, "xuất" và "nhập" đã lần lượt nối "chim bồng”

với "Hán tái” (đồn trại của nhà Hán), "quy nhạn" (cánh nhạn bay về) với "Hồ thiên" (bầu trời đất Hồ). Dù rằng những liên kết này biểu thị cảm giác tình cảm và sự chuyển rời vị trí có tính chất động thái, nhưng ở một ý nghĩa khác 344

chúng lại là trung tính. Chúng không thể gây anh hưởng hoặc cải tiến đối tượng, bởi vì loại liên kết động thái này đòi hỏi một loại động từ cập vật khác. Trong hai câu "Khí trưng Vân Mộng trạch ¡ Bu hám Nhạc Dương thành" (438) (khí bốc lên như hâm nóng đầm Vân Mộng, Sóng lay động thành Nhạc Dương) thì trưng là sự biến hoá của không khí trên đầm hồ, hám là một loại vận động và va đập. Trong câu

"Ngạn phong phiên tịch lãng" (Gió ven bờ dâng sóng chiều hôm) thì "phiên" (iat, dâng) biểu thị kết quả chuyển di của lực. Có khi thạm chí chủ ngữ hoặc tân ngữ bị tỉnh lược thì những động từ cập vật đặc biệt vẫn có thể biểu thị mạnh mẽ sự vận động và sự biến hoá.

Trong hai câu:

Tôn lý ngộ phong vũ ! Song tiên động ba đào (496) (Gap gió mưa trong chén rượu, Trước cửa số động sóng đữ)

Chủ ngữ tỉnh lược của câu 2 là một lực tự nhiên nào đó khiến cho động từ cập vật "động" tỏ ra có sức mạnh.

Lại như hai câu "Đã hoá thiêu bất tận í Xuân phong xuy hựu sinh" (5050) tân ngữ của động từ "sinh" (sinh ra, phát sinh) là "thảo" (cỏ). Tuy nó bị tỉnh lược nhưng sức tái sinh của mùa xuân vẫn được biểu hiện ra rất tốt. Như câu

"Mộ ái sinh thâm thụ" (511) (Sương chiêu sinh cây ram).

Có thể đọc hiểu là "Mộ ái tòng thâm thụ trung sinh khởi”, nghĩa là "Sương chiều sinh ra từ trong cây cối rậm rạp”, Nhưng một cách hiểu khác tựa hồ như hay hơn là: "Mạo 345

mật đích tùng lâm sinh xuất liễu mộ ái” (trong rừng rậm hiện ra sương chiều).

Có một số động từ cập vật ẩn chứa cách dùng động từ sai khiến. "Thôi" (thôi thúc) X nhằm khiến cho X nhanh hơn, "tống" (đưa) X là vì để cho X vận động theo một phương hướng nhất định, trong những tình hình này tân ngữ X đã trải qua sự biến hoá. Chẳng hạn, các câu:

Vũ tổng tửu thuyền hương (514) (Mưa đưa mùi thơm của thuyền rượu)

Nhật khí hàm tàn vũ / Vân âm tổng vấn lôi (412) (Khí trời toát vẻ sau mưa, Bóng mây đưa che tiếng

sấm còn dự) .

` Thục khí thôi hoàng điểw ! Tình quang chuyển lục bình.

(Mii chin duc chim vàng anh, sáng tạnh chuyển bèo xanh)

Hàn thiên thôi nhật đoản (491) (Trời lạnh dục ngày ngắn)

Trong ví dụ cuối cùng “nhật” là một từ kiêm ngữ, nó vừa là tân ngữ của 'thôi” lại là chủ ngữ của “đoản" với nghĩa: "hàn thiên thôi nhật tịnh sử nhật đoản" (trời lạnh thúc dục ngày và khiến cho ngày ngắn lại), theo cách hiểu này thì động từ cập vật "thôi” đã ẩn chứa cách dùng sai khiến.

Từ phản nghĩa của "liên" (liền), "tiếp" (nối) là "đoạn"

(đứt), "tuyệt" (dứt), "phân" (phân tách) những từ trước là

liên hợp, những từ sau là phân ly, hai loại từ đều thể hiện

346

lực. Hai ví dụ sau đây đều viết về "vân" (mây).

Vương Duy viết Vân hoàng đoạn xuân sắc (425) (mây vàng dứt vẻ xuân)

Đỗ Phủ viết: Phù vân liên hải đại (465) (May tréi liền biển lớn)

Câu của Vương Duy bày tỏ cảnh đứt hết vẻ mùa xuân, câu của Đỗ Phủ thì biểu hiện sự nối liên của động tác; vả lại, khái niệm nối liền có khuynh hướng chuyển thành phân ly, khái niệm phân ly cũng có khuynh hướng chuyển thành nối liền. Câu thơ nếu đổi thành "Phù vân phân hải dui" thì ý tượng của bức tranh đó vẫn được bảo tồn; câu "Ván hoàng đoạn xuân sắc" thì rõ ràng cùng loại với câu "Vạn lý phong vên tiếp tố thu", Nguyên tắc thể hiện ở đây đã được đề cập mấy lần ở trên: Động từ đồng nhất và động từ liên kết đều có khuynh hướng chuyển hoá từ bản thân nó sang hướng đối lập ý nghĩa.

3.3.6. Đảo trang

Giống như bất cứ một loại tự sự bằng văn tự nào khác, thơ ca cũng có sức hướng về phía trước nội tại, khi cú pháp đảo trang ngất đứt dòng chảy của ý tưởng tự nhiên thì sức mạnh mà nó sản sinh ra sẽ càng mạnh lên. Do đó, đảo trang cũng được coi là một đặc trưng của động thái.

Một kiểu đảo trang thường thấy được tạo thành hình thức như sau:

Từ địa điểm + động từ bất cập vật + danh từ

34?

Động từ vốn nên đặt sau danh từ, nhưng đảo trang lại

đưa nó lên trước. .

Hoa bích phi hồng nhạn ! Sa song túc đẩu ngưu (420) (Trên vách vẽ chim nhạn bay, Trước rèm the sao đẩu sao ngưu ghé nhòm)

Thiêm phí uyển khê thuỷ ! Song lạc Kính Đình ván

(459)

(Thêm bay nước Uyén khé, Trước song sà xuống mây

núi Kính Đình)

Sự vận động của hai cặp đối này được thể hiện qua từ phi và cú pháp đảo trang. Dù là miêu tả cảnh tượng tĩnh, song bản thân phương pháp miêu tả cũng có thể truyền đạt sức sống:

Hoang đình thuỳ quất du / Cé 6c hoalong xd (485) (Sân hoang buông cành quất, Nhà cổ vẽ rắn rồng) Ý nghĩa của cặp đối liên này là: trong một chiếc sân hoang vắng mà trên cây quất đầy quả, trên tường vách ngôi nhà còn vẽ những bức tranh rồng rắn. Chính là thông qua đão trang của danh từ và động từ trong câu trước và phương pháp khiến cho động từ ở vị trí định ngữ trở thành cách đùng của động từ chủ yếu ở câu sau, nhà thơ đã sáng tạo thành công một ảo tượng: "Thùy" (rủ, buông) và “hoa”

trong chốc lát bỗng sinh động hẳn lên.

Một hình thức thường thấy khác của đảo trang rất gần gũi với động từ tĩnh hoặc cách dùng sai khiến của động từ bất cập vật, bởi vì sự tạo thành câu sai khiến của tiếng Hán 348

là đưa động từ tĩnh thái hoặc động từ bất cập vật lên trước chủ ngữ. Vô luận là tiếng Anh hay tiếng Hán, một câu có thể trở thành sai khiến hay không là do ở sự lựa chọn động từ. Khi suy nghĩ "to wet the towl" (làm ướt chiếc khăn) hoặc

“to warm the soup” (hâm nóng súp) chúng tôi cảm giác wet (ẩm ướt) và warm (nóng) không phải là động từ sai khiến mà là hình dung từ và động từ cap vat; trong "to sun his back” (phơi sống lưng của anh ta) hoặc "to ground an incompetent pilot” (hudn luyén mot phi cong không thành thạo) chúng tôi càng tin tưởng rằng "sun" (mặt trời) và

“ground” (đất đai) cơ bản là danh từ mà chỉ là được dùng nghĩa bóng để làm động từ. Lòng tự tin nay trong ví dụ của Allen Tate đã trở thành xác định không còn nghỉ ngờ: "The idiot greens the meadow with his eyes" (chàng ngốc này dùng đôi mắt làm xanh cả đám cỏ), "greens" (xanh lục) là cách dùng sai khiến (hoặc giả định) của tính từ là điều không còn nghỉ ngờ gì nữa. Ví dụ này đủ để chứng minh rằng một động từ có nên coi là động từ sai khiến hay không phụ thuộc ở tần số nó xuất hiện làm một động từ cập vật.

Tình hình trong thơ cận thể càng thêm lẫn lộn không rõ. Tiêu chí khiến cho "greens" dùng làm động từ là "-s” mà trong tiếng Hán thì không có dấu hiệu tương ứng. Ngoài ra, tiếng Hán luôn cho phép đảo trang và cách dùng giống như sai khiến. Điều này tất nhiên dẫn đến việc phối trí từ trong văn xuôi mất di tính quy phạm nên có, và khiến chúng ta rất khó khu biệt xác định giữa đảo trang và động từ sai khiến.

349

Chúng ta hãy ôn lại một chút những ví dụ trên kia.

Né dung phi yén ni | Sa noãn thuy uyên ương C(TĐT 2475)

Mỗi câu trong cập đối này đều bao hàm hai loại mô hình cấu trúc, lấy câu 1 làm ví dụ: (A) "Sự tan hoà bùn đất (như tuyên cáo rằng mùa làm tổ đã đến), và khiến cho chim yến bay ra", Đó là sự sai khiến. (B) Hiện tượng đảo trang là:

Từ "Nê dung yến tử phi" đảo trang thành "nê dung phi yến tử", Về mặt lý thuyết, câu này còn có thể xuất hiện với hình thức giản đơn hơn; (C) Hình thức giản đơn là: "Nê dung, Yến tử phi". Dù đọc câu thơ bằng cách nào chúng ta đều cảm thấy sự sống và vận động. Nếu dùng (A) thì động từ sai khiến "phi" với địa vị động từ cập vật ấy nó đã thể biện sự chuyển di của lực, với ý nghĩa ấy đã chỉ rõ kết quả của sự vận động. Nếu dùng (B), sự đảo trang đã ngăn trở vận động hướng tới phía trước, từ đó mà sinh ra sức căng động thái;

Nếu dùng (C) thì kết cấu diéu kiện - kết quả ẩn chứa, đã biểu hiện động tác nhân quả. Trong ba tình hình có lẽ hiệu quả động thái của sai khiến là mạnh nhất.

Nói khác đi là chỉ cần chúng ta đặt một từ cụ thể nào đó vào trong trật tự lời nói thông được là ta đã có cú pháp động tác. Có điều là trong cặp đối nêu trên còn có thể có một cách hiểu khác cũng quan trọng như vậy, nó là sự tập hợp mà hai câu thơ này được coi là có tính chất nh thái, độc lập: ấm áp (vì "nê dung”), động tác (“phi”), sự nhạy bén (vì có "chim én"), ấm áp (vì "nhật noãn”), yên tinh (vi cé sự 350

“thuy”: ngủ), êm ả (vì có "uyên ương”). Do đó, điều quan trọng không phải là cấu trúc ngữ pháp "chân chính" mà nên nhớ rằng: một câu thơ vừa có mặt tĩnh của tính chất lại vừa có mặt động của cú pháp. “

Còn có thể nêu ra những ví dụ cùng loại như:

"Tục tỉnh giao tông diệp ! Khai cử đoạn trúc căn"

(TĐT 2487)

(Đào giếng xiên lá cọ / Khai mương đứt gốc tre)

hoặc "Xuân nhật phôn ngư điểu ! Giang thiên túc chỉ ha" (TĐT 2558)

(Ngày xuân nhiều chim cá, Trời sông đủ ấu sen)

Lại còn một loại đảo trang liên quan tới việc đổi chỗ của chủ ngữ và tân ngữ, chúng tuy có phức tạp hơn nhưng nguyên lý như nhau.

Tuyển thanh vết nguy thạch / Nhật sắc lãnh thanh tùng (435)

(Tiếng suối nghẹn đá hiểm / Sắc trời lạnh tùng xanh) Nó có thể hiểu là:

(A) Chỉ địa điểm: "Nhật sắc tại thanh tùng trung lãnh"

(Màu sắc mặt trời lạnh lếo trong rừng tùng xanh) (Œ) Đảo trang đơn giản: "Tại nhật sắc trung, thanh tùng lãnh”

(Trong sắc mặt trời, rừng tùng xanh lạnh lếo)

{C) Sự sai khiến cộng với sự đổi chỗ chủ và tân ngữ:

“Nhật sắc sử thanh tùng lãnh"

(Sắc mặt trời khiến tùng xanh lạnh lẽo)

351

Trong ba cách hiểu này có tiềm ẩn một số tính chất độc lập, đó là "bạch" và "noãn” (do "nhật sắc"), sự lạnh lẽo ("lãnh"), mầu xanh và sự lạnh lẽo ("thanh tùng"). Cũng phân tích như vậy, có he dùng cho các câu thơ sau: „

Loạn vân đê bạc mộ ! Cấp tuyết vũ hồi phong (TĐT 2402)

(Mày loạn trời chiều thấp, Tuyết dày gió cuốn)

Yên sương thê dã nhật ! Canh đạo thục thiên phong (TDT 2501)

(Khói sương buồn ánh nắng trên đồng, Lúa chin cả gió

trời)

3.3.7. Cấu trúc sai khiến và cấu trúc kiêm ngữ Theo Fenollosa phân tích hình thức ngữ pháp của sự chuyển di lực là: Kẻ phát sinh động tác - động tác - đối tượng động tác.

Trong thực tế, quá trình truyền tải còn có nhân tố thứ 4, tức là hiệu quả sinh ra do lực tác động vào đối tượng.

Trong câu sai khiến thì động tác và hiệu quả đều biểu hiện bởi từ sai khiến. Động tác biểu hiện ra do vị trí ngữ pháp của động từ, hiệu quả thì bao hàm trong nội dung ngữ nghĩa của động từ, như cau: "Xudn phong hựu lục giang nam ngạn". Cái gọi là kiếm ngữ thức bao gồm cấu trúc ngữ pháp của danh từ l + động từ ẽ + đối tượng động tỏc, nú dựng động từ thứ 2 để biểu đạt hiệu quả động tác. Như câu thơ:

"Đại thanh xuy địa chuyển" (490), ý nghĩa của câu này là 352

"những âm thanh vang động thổi trên trái đất và khiến cho trái đất chuyển động", "địa" (đất) là tân ngữ của "xuy”

(thổi) và là chủ ngữ của "chuyển", cho nên đây là câu kiêm ngữ. Trong hai loại mô hình câu trên kia thì động từ chuyển đi lực giữa chủ ngữ và tân ngữ, khiến chúng sinh ra sự liên hệ động thái, người đọc cũng có thể có được sự cảm nhận rằng: năng lượng xuyên qua đối tượng và xuất hiện ở một đầu khác với hình thái đã được chuyển hoá.

Trong câu thơ của Vương An Thạch "Xuân phong hựu lục giang nam ngạn”, chúng ta không chỉ nhìn thấy được kết quả cuối cùng, mà còn có một chuyện nói với chúng ta rằng: Ông đã lựa chọn như thế nao.

“Trong nhà một học trò ta còn giữ được bản thảo, lúc đầu viết là "hựu đáo giang nam ngạn"”, rồi khuyên bỏ đi chữ đáo mà chú rang: "không hay", sửa thành chữ "quá" rồi lại xoá bỏ mà đổi thành chữ "nhập", sửa thành chữ "mãn"; cứ thế sửa đến 10 chữ mới định là chữ "lục" (theo Hồng Mại

"Dung Trai tục bút” quyển 8).

Chúng ta có thể suy xét thấy lý do mà Vương An Thạch cuối cùng đã chọn dùng chữ "lục" là vì: "đáo", “quá",

“nhập”, "mãn” đều là động từ cập vật chỉ có thể biểu hiện động tác không biểu hiện hiệu quả; động từ sai khiến "lục"

thì có thể gồm cả hoạt động về lực và tính chất sinh động của kết quả. Bởi thế, có thể hoàn toàn có lý do đoán định rằng: Vương An Thach có ý thức tự giác dùng câu sai khiến là câu có năng lượng biểu đạt tương đối lớn.

22 - 20B 353

Một phần của tài liệu Tìm hiểu về thi pháp thơ Đường: Phần 2 (Trang 107 - 127)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(279 trang)