NGON NGU CUA THO DUONG

Một phần của tài liệu Tìm hiểu về thi pháp thơ Đường: Phần 2 (Trang 144 - 155)

Trong 4 Trong 4 câu đầu của bài thơ, màu sắc có tác dụng quan trọng. Trước tiên là trong mỗi câu đều chứa đầy màu

B. Loại tu sức bằng tính từ hạn định như: nhiệt phong, hoàng vân, hương đạo (gió nóng, mây vàng, lúa thơm)

V. NGON NGU CUA THO DUONG

Tới đây, chúng tôi đã từng bước so sánh trên các bình diện về ngôn ngữ ý tượng và ngôn ngỡ suy luận: Về sự không liên tục và liên tục, về tính khách quan và việc lấy cái tôi làm trung tâm, giữa ý thức cảm quan và sự lý giải lý tính, về thời gian không gian tuyệt đối và tương đối. Nhưng phải chăng tồn tại một sợi dây trung tâm xuyên suốt những điểu khu biệt nói trên ? Đối với hai loại ngôn ngữ đại biểu cho hai phương thức kinh nghiệm khác nhau này phải chăng miểu ta như vậy đã là hợp lý ? Trong chương này, chúng tôi 378

căn cứ vào sự đối chiếu với lý luận của Cassirer để trả lời vấn đề.

Ngôn ngữ ý tượng không thể chia tách mà ngôn ngữ suy luận thì gần như ngược lại, đây là sự khác biệt căn bản của hai loại, tất cả những sự khác biệt đều từ đây mà ra.

"Đồng ý chấm dứt hoài nghi”, đó là thái độ nên có đối với bộ phận ý tượng của thơ. Với thái độ này, ý tượng là chân thực, mà căn bản không có sự khu biệt thực hư; ý tượng của thơ chỉ có thể thưởng thức gián tiếp chứ không có cách gì quan sát trực tiếp, bởi vì nó là kết quả quan sát thế giới của nhà thơ. Tuy rằng trẻ em không thể không có quan hệ đối lập sự vật với bản ngã, nhưng nhà thơ lúc này đừng lại ở trạng thái đồng nhất nguyên thuỷ đối với thế giới. Đối với những kẻ theo chủ nghĩa thần bí, những kẻ mắc chứng thần kinh bệnh hoạn, người nguyên thuỷ, trẻ em cho đến những nhà thơ có tâm hồn trẻ thơ, lúc này là tất cả thời gian, đó là những giờ phút duy nhất có thể có cho sự sảng khoái hưởng phúc và ý tượng, mà tất cả những cái được cho rồi thì phải hết sức biểu hiện nó ra bằng hình thức cô đọng và thuần tuý. Đối với việc nhận thức thế giới khách quan cần có kinh nghiệm, quan sát lâu dài và vất bỏ sự chấp nê ngay lúc này, tức là dù mặt trăng mất đi ánh sáng chiếu trên mật đất thì nó vẫn ở đó; bất luận là trăng non hay trăng tròn xuất hiện, nó vẫn là mặt trăng như nhau. Đối với trẻ thơ, mặt trang là thứ có thể sờ mó lấy được. Mà đối với nhà the thi điều quan trọng hơn là đặc trung lung linh toả sáng, trong 379

trắng, lại hơi lạnh lẽo bao tràm lên con người, thái độ chăm . chú mê say này đã khiến vật thể hoà vào trong các đặc trưng khác, chính bởi thái độ này mà mỗi sự vật mỗi cảm giác đều có thể hấp dẫn chú ý trong từng phút từng giây hoặc như Kierkegaard đã nói: "Sự trong trắng của trái tim là ở nỗi khát vọng cầu mong một sự vật nào đó". Trong thơ, thái độ này được biểu hiện ra bằng tiết tấu không liên tục, ý tượng đẳng lập và bằng cú pháp độc lập. Ngôn ngữ ý tượng bao gồm một loại thanh âm thuần phác không gợn vết, những em bé đã phát ra những âm này có trong mỗi chúng ta, nhưng chúng ta lại sợ nhận ra nó.

Song, quan niệm vạn vật đồng nhất thống trị trong thế

giới chân thực trẻ thơ không thể kéo dài mãi, thế giới tự

thân nó phân ly thì tự ta cũng phân ly cái bản ngã của mình, nhưng tâm hồn trẻ thơ trường tồn của nhà thơ thì kiên trì mạnh mẽ trong sự đồng nhất cái vốn không ngừng bị phá huỷ này. Đúng như Roman Jakobson đã nói: "trong thơ chứa đây những nguyên tắc đồng đẳng", “chức năng của thơ là đưa nguyên tắc đồng đẳng từ lựa chọn chuyển vào tổ hợp” (10) khiến cho mọi sự vật đồng đẳng hoá chính là sự _ cố gắng hòng xây dựng lại sự đồng nhất nguyên thuỷ từng bị che lấp. Đối với ngôn ngữ phổ thông truyền đạt tin tức mà nói thì sự khu biệt đầy đủ và đối lập là không thể thiếu . được, còn trong thơ đặc trưng ngôn ngữ riêng lẻ thì được tạm thời sử dụng để tạo thành nguyên tắc đồng đẳng có tính chất chỉ phối, do đó tiết tấu, vận luật trở thành sự đồng đẳng âm và trọng âm ; đối xứng trở thành sự đồng đẳng cấu trúc ngữ 380

pháp; từ loại trong thơ ca truyền thống Trung Quốc là một.

loại đồng đẳng ý nghĩa; ẩn dụ cũng là một loại đồng đẳng ý nghĩa (ví dụ ví thuyền với cái cày, với biển với ruộng cho nên có thể nói: "Thuyên tại hải thượng canh vân" (Thuyền cày trên biển cả). Trong bài viết sau đồng đẳng sẽ được coi là khái niệm mấu chốt và sẽ được trình bày rõ.

Nhưng đồng đẳng chỉ là một trong những nguyên tác mà thơ ca tuân theo, nếu dừng ở đây thì thơ chỉ có thể được xem như là sự trở lại thời con trẻ mà không xứng với cái tên là "tấm gương của cuộc sống" - một cuộc sống được xem như là chân thực và ổn định. Khác biệt là điều không thể tránh khỏi, thống nhất lại những khác biệt ấy là một trong những chức năng của cú pháp, nhất là cú pháp lấy ngôn ngữ suy luận làm đặc trưng mà trong quá trình thực hiện chức năng này, cú pháp trở thành công cụ để nối tiếp suy luận (discursive articulation). C4i gọi là suy luận là chỉ sự mở rộng mà bỏ sự tập trung, nội dung mặt chữ của tác phẩm chỉ là khởi điểm mà không phải là tiêu điểm chú ý; cái gọi là nối tiếp chính là nói rõ tường tận từng bộ phận và chỉ ra chính xác quan hệ giữa chúng với nhau. Nếu như nói nguyên tắc giải trí đã chi phối ngôn ngữ ý tượng, thì nguyên tắc hiện thực chỉ phối ngôn ngữ suy luận - ngôn ngữ phát ra bằng âm thanh đầy đủ và từng trải thì âm thanh này hẳn phải là từ một người lớn trưởng thành đã từng trải bao băn khoăn lo lắng...

Sự nối tiếp suy luận với tư cách là một phương thức 381

ngôn ngữ quyết không thể đạt được hiệu quả cô đúc và mạnh mẽ. Đối với nhà bình luận như Pound và H. Read từng dùng từ Đức văn "Dichtung" để chỉ sự cô đọng và cô đúc, ngôn ngữ suy luận thuộc về văn xuôi mà không thuộc về thơ ca. Quan điểm này có lẽ không phải là không có điểm khả thủ, nó nhất định cũng có một số ảnh hưởng với thơ ca hiện đại, nhưng sự thực lại là: ngôn ngữ suy luận trong thơ tiếng Anh luôn luôn đóng vai trò quan trọng; còn trong thơ cận thể hầu như tất cả các liên cuối đều viết bằng ngôn ngữ suy luận.

Bởi sự nối tiếp suy luận là nguyên tắc tiểm tại, khi ngôn ngữ suy luận xuất hiện trong liên cuối của thơ cận thể nó thường làm mờ ý nghĩa cảm giác. nó chỉ có nhận thức và lý giải. Chúng ta hãy thử xem bài thơ của Tô Thức dẫn ra trên kia: Cái đặc trưng trong trắng, ngọc ngà ấy được hấp dẫn có nghĩa là bị cái ma lực của ngôn ngữ ý tượng chỉnh phục; hiểu được cái sự thực là mặt tràng vẫn như xưa, thế mà ta đã phiêu bạt khắp nơi thì cũng hiểu được cái ý nghĩa và quan hệ cửa mật trăng đối với ta. Chỉ ra thời gian, địa điểm, nhân xưng - như liên cuối của thơ cận thể biểu hiện ấy chính là một loại phương thức nối tiếp diễn ngôn, do đó cũng chính là phương thức dẫn nhập của thời gian liên tục tương đối.

Thuyết minh tường tận mỗi bộ phận và khiến chúng liên hệ với nhau, điều này đòi hỏi có môi giới đầy đủ, chính vì như vậy mà ngôn ngữ suy luận thường xuất hiện bằng 382

hình thức đặc thù của đối lưu thủy, từ đó có không gian biểu hiện của 1O hoặc 14 âm tiết. Tiết tấu liên tục thuộc sản phẩm phụ của ngôn ngữ suy luận, một phan coi như là một thủ thuật để thống nhất hoá. Sự chia rẽ giữa tôi với thế giới là một loại vết thương đòi hỏi vỗ về xoa dịu, liên cuối với ngôn ngữ suy luận đã đồn tới thống nhất (như bai tho Vinh nguyệt của Tô Thức). Kết quả là nhà thơ không chỉ nhìn thấy thế giới này mà cũng thấy được một cách tự giác rằng mình đang ở trong thế giới đó; đem so sánh với mô thức khách quan thuần tuý của bộ phận ý tượng, sự chuyển biến lấy cái tôi làm trung tâm đã cho liên cuối một cơ điệu cá nhân mạnh mẽ.

Ngôn ngữ ý tượng với tính đồng nhất và tính mạnh mẽ của nó đã biểu hiện khuynh hướng chốc lát và không liên tục. Ngôn ngữ suy luận thì hoàn toàn ngược lại, nó lấy tính thống nhất và tính chỉnh thể làm mục tiêu, Nhưng giữa hai loại còn có một khoảng giữa đó là câu động từ cập vật. Theo quan điểm của Fenollosa thì câu động từ cập vật phản ánh sự chuyển di lực trong tự nhiên, đồng thời lại là một loại phương thức khiến hai đanh từ cất rời nối lại với nhau.

Động từ "to be" (là) "to be like" (giống như), "to appear"

(xuất hiện), "to connect” (liên tiếp, nối liên), "to break"

(rách, xé ra...) thì là một phương thức nối danh từ khác. Do sự đối lập căn bản của hai loại phương thức kinh nghiệm là khác biệt (differentiated), và không khác biệt (undifferentiated), cũng do những danh từ xuất hiện bằng 383

hình thức danh từ ẩn chứa lực hướng tâm cho nên bất cứ quan hé tinh nào giữa hai danh từ đều thuộc về một trạng thái cân bằng tuyệt vời (vi diệu), còn những động từ nói trên có khuynh hướng chuyển hoá theo ý nghĩa đối lập của chúng là dấu biệu đặc trưng của sự thống nhất có sức căng (trương lực).

Tính đồng nhất nguyên thuỷ của ngôn ngữ ý tượng nên khu biệt với sự thống nhất lại do ngôn ngữ suy luận thực hiện. “Phù ván dụ tử ý" là một loại hình thức đồng đẳng, sự đồng đẳng của nó là do quan hệ cơ chất thực hiện.

Trong loại quan hệ cơ chất này, ý tượng giữ gìn cường độ và sự độc lập của nó; nhưng "phù vân du tử ý” lại là một loại nối tiếp suy luận, nó nói rõ mỗi bộ phận và chỉ ra mối quan hệ tương tự của chúng. Hệ từ "là” và các động từ kiểu

“như”, "tựa như" là những động từ có tính khái niệm mạnh nhất, chúng chỉ xuất hiện ở liên cuối, trở thành một tiêu chí phân công ngôn ngữ ý tượng và ngôn ngữ suy luận trong thơ cận thể.

Phần lớn, nội dung chúng tôi bàn trên kia Cassirer trong cuốn “Ngôn ngữ và thân thoại” của ông ít ra cũng đã dự báo về nguyên tắc. Điều khác nhau là: Cassi4#+ chủ yếu quan tâm tới thần thoại cùng ngôn ngữ, nghệ thuật tạo thành hình thức tượng trưng cơ bản. Quả vậy, chúng cùng nguồn mà khác dòng. Từ Platon bát đầu trở đi, quan điểm cho rằng sự sản sinh thần thoại có quan hệ mật thiết với việc sáng tạo thơ ca đã được mọi người tiếp thu một cách phổ biến, Do

384

đó, trong đoạn dẫn văn dưới đây chỉ cần dùng thuật ngữ

“ngôn ngữ suy luận" và "ngôn ngữ ý tượng" thay thế cho "tư duy lý tính” và "tư duy thần thoại" thì có thể hiểu rõ ý nghĩa của nó trong bài văn với những mối quan hệ mà nó đề cập tới.

“Đúng như những điều chúng ta thường thấy, mục tiêu của tư duy lý tính chủ vếu là truyền đạt nội dung của những kinh nghiệm cảm giác hoặc kinh nghiệm trực giác nảy sinh trong sự cô độc, nó khiến cho những nội dung nay vuot qua giới hạn hẹp hồi của bản thân, mà tổ hợp, so sánh, móc nối với các sự vật khác trong một phạm vì bao gôm hết thay, theo trật tự xác định. Phương thức hành tiến của nó là

“Kiểu suy diễn", trong sự hành diễn này, nó coi noi dung trực tiếp chỉ là một khởi điểm, từ đó xuất phát nó có thể từ các phương hướng trải qua cả lĩnh vực ấn tượng, cho tới khi những ấn tượng này được thu nạp vào một khái niệm thống nhất, một hệ thống đóng chặt lại mới thôi. Trong hệ thống này không còn một quan điển nào độc lập, tất cả các quan điểm đêu có mối liên hệ tương hỗ, cùng nhau móc nổi mà gới ý cho nhau, giải thích cho nhau. Do đó, mọi sự kiện phản ly đều có một sợi dây tư tưởng vô hình ràng buộc vào trong một chỉnh thể: Ÿ nghĩa lý luận của phương thức tư duy này là ở chỗ nó có đặc trung chinh thé (totality).

Xét theo hình thức cơ bản nhất, tê duy thân thoại không có đặc trưng này.

25 - 208 385

Trên thực tế, đặc trưng thống nhất lý tính là đi ngược lại với tỉnh thân của tư duy thân thoại. Bởi vì trong tw duy thân thoại, tư duy không thể xử lệ một cách tự do nội dung trực giác để chúng liên hệ, đối chiếu với nhau mà ngược lại, chúng bị hấp dẫn và bị mê hoặc bởi trực giác đột ngột chúng thoả mãn với kinh nghiệm trực tiếp. với hiện tại có thể cảm giác được và lấy đó làm cái quan trọng nhất, mọi cái khác đều không đáng kế. Đối với một người mà sức lý giải hoàn toàn phục tùng theo thân thoại - tôn giáo, thì cả thế giới tựa hô như chìm đắm, những nội dụng trực tiếp khống chế tính thân tôn giáo của họ, vô luận chúng là cái gì, đêu tràn ngập trong ý thức của họ, đến nỗi họ coi rằng ngoài cái đó ra không còn gì khác tôn tại ở trên đời. "Cái tôi" đã dốc hết tỉnh lực vào đối tượng duy nhất, sống quên mình trong nó. Ở dây, chúng tạ nhận thấy được là sự hạn chế hết mức của kinh nghiệm trực giác chứ không phải là mở rộng phạm vì hgày càng lớn; là sự có cụm dày đặc mà không phải là sự phân tán rộng rấi. Mọi sức mạnh đều tập trung vào một điểm chính là tư duy thân thoại và là điều kiện tiên quyết mà thân thoại sản sinh" (theo "Ngôn ngữ và than thoai” trang 32, 33)

Bây giờ chúng tôi trở lại vấn để mà bài viết lúc đầu nêu ra là: Chức năng cú pháp trong thơ là gì ? Donald Davie từng nêu ra ba loại trả lời là: Cú pháp phi thơ (như quan điểm của T.E. HuÌme), cú pháp có tính động tác (như quan 386

điểm của E. Fenollosa) và cú pháp có tính âm nhạc (như quan điểm của Susane Langer). Quan điểm của riêng Davie là: Cú pháp trong thơ là công cụ nối tiếp suy luận, nó không khác nhiều với cú pháp trong văn xuôi (xem chương 13, 14 cuốn “Sức mạnh nối tiếp").

Khi chúng tôi đứng ở thời điểm trước mắt mà nhìn sự tranh luận này, bất giác nghĩ tới câu chuyện người mù xem voi. Đương nhiên, đánh giá như vậy là không công bằng.

Trước hết là, ngoài Langer ra, thái độ của những người này đối với thơ tượng trưng chủ nghĩa, hoặc thơ phái hậu tượng trưng chủ nghĩa ngược lại hản, hơn nữa, tuyên ngôn của họ chỉ là có tính chất cương lĩnh; song vấn để mà họ quan tâm là có tính hiện thực: "Cú pháp nên phát huy tác dụng như thế nào trong thơ ?" hoặc giả "Thơ hiện đại nên có diện mạo như thế nào?"”. "Nó nên có hình thức cú pháp như thế nào

?”, Thứ hai là, sự tranh luận của họ chủ yếu là tập trung vào thơ tiếng Anh, mà tiếng Anh so với tiếng Hán thì rườm rà, rời rạc, chí ít thì trong ngôn ngữ thơ cũng là như vậy. Kết quả là: Những sự vật có thể biểu hiện một cách tương đối tự nhiên bằng tiếng Hán (sự độc lập của ý tượng danh từ thông qua cú pháp) nếu dùng tiếng Anh để biểu đạt thì tỏ ra không tự nhiên hoặc không thể biểu đạt được hết, ngược lại cũng như vậy.

Sau khi đã giải thích những điều trên, còn lại một vấn đề: Chức nang cú pháp trong thơ cận thể như thể nào ? Chúng tôi thảo luận vấn để này từ hai góc độ: Một mặt từ 387

góc độ danh từ, động từ và câu. tức là phân tách cú pháp thành từng nhân tố tạo thành nó. Đương nhiên, cho dù thảo luận tách bạch từng vấn dé thì đáp án cũng không phải giản đơn, Do đó. trong khi thảo luận về ý tượng danh từ, chúng tôi không thể không suy nghĩ đến cú pháp độc lập; khi nghiên cứu động từ lại liên quan đến ngữ nghĩa của động từ cá biệt...

Một mặt khác nêu ra ba quan điểm về chức năng cú pháp của ba tác giả nêu trên kia là: Sự tạo thành ý tượng, bắt chước động tác, nối tiếp suy luận. Chúng tôi chân thành tiếp thu những quan điểm này và tìm những ví dụ chứng minh tương ứng cho từng loại trong thơ cận thể. Dù sao thì quan điểm đa nguyên luận nên xem là hợp lý nhất, trong một bài thơ cận thể, những bộ phận khác nhau nên có những cú pháp khác nhau, những loại cú pháp này cũng có những chức năng khác nhau. Nhất là đòi hỏi chỉ ra rằng: Sự đối lập của ngôn ngữ ý tượng và ngôn ngữ suy luận là căn bản, chúng tôi thử miêu tả đặc trưng từng loại của chúng và gắn bó chúng lại theo hai loại mô thức tư duy khác nhau. Chính vì vậy, bài này lấy đầu đề là "Ngôn ngữ của thơ Đường”.

388

Một phần của tài liệu Tìm hiểu về thi pháp thơ Đường: Phần 2 (Trang 144 - 155)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(279 trang)