Tìm hiểu thêm về tính cụ thể

Một phần của tài liệu Tìm hiểu về thi pháp thơ Đường: Phần 2 (Trang 49 - 55)

Trong 4 Trong 4 câu đầu của bài thơ, màu sắc có tác dụng quan trọng. Trước tiên là trong mỗi câu đều chứa đầy màu

2.5. Tìm hiểu thêm về tính cụ thể

Trong bài viết có nhan để là: "Tiêu chuẩn thực thể"

(The substantive Level) Wimsatt (7) di phan biét ba hinh thái chủ yếu:

1. Hình thái trừu tượng hoặc yếu hơn so với thực thể đặc thù, ví dụ như: công cụ

2. Hình thái cụ thể hoặc thực thể đặc thù mức thấp nhất như: cái xẻng

3. Hình thái cụ thể đặc biệt hoặc mạnh hơn thực thể đặc thù: ví dụ cái xẻng tròn gỉ.

Trước đó, ông còn nêu ra sự khu biệt giữa người với

283

người da trắng (chúng tôi cho rằng hai từ này có thể đối xứng với xẻng và xẻng gì) và ông cũng định nghĩa về "tiêu chuẩn thực thể" như sau: "... người và thượng đế cùng trong mức độ phân loại, ở đây tính đặc thù và tính cụ thể đan xen vào nhau. Trong phạm vị thông thường, chúng ta có thể coi tiêu chuẩn này là một đường giới tuyến gồm: Cao hơm tiêu chuẩn này, trừu tượng tương đối (không đặc thù lắm) rất dễ thích ứng với trừu tượng tuyệt đối (không cụ thể) đến nỗi tính cụ thể lùi vào vị trí thứ yếu, tính hoàn chỉnh của thực thể bị trừu tượng hoá trở thành một tính chất thuần tuý;

ngược lại, thấp hơn tiêu chuẩn này sẽ sinh ra sự tích tụ vô số những chỉ tiết". Sau đó ít lâu, ông lại bổ sung thêm: “Bat luận là mạnh hơn hay yếu hơn hình thái thực thể đều là phương thức miêu tả rất đặc thù nội tại và nội tỉnh, một mặt nó biểu hiện những cảm xúc phức tạp chồng chéo như ý thức kinh nghiệm đối với chỉ tiết của Proustean; mặt khác,

nó biểu hiện tính trừu tượng mơ hồ như cái mông lung trần tré trong tho”.

Đối với những quan điểm này của Wimsatt, chúng tôi có phần nửa tin nửa ngờ cái "tính hoàn chỉnh thực thể bị trừu tượng hoá trở thành tính chất thuần tuý". Điều này tựa hồ như miêu tả rất sát đối với một đặc trưng ý tượng giản đơn trong thơ cận thể; "Tính trừu tượng mơ hồ", "Sự mông lung tràn trẻ". Đây là sự miêu tả của ông về hiệu quả của những cái yếu hơn hình thái thực thể, cũng có thể ứng dụng cho thơ cận thể như một chỉnh thể. Song, thơ cận thể ít khi

284

xa rời những hình thái cụ thể mức độ thấp nhất, thiên (trời) và hoàng kim (màu vàng) là những ý tượng danh từ điển hình. Thế là vấn dé đã nảy sinh một cách tự nhiên rằng: Vì sao tính thực thể của thơ cận thể lại yếu hơn mức độ mà Wigsatt dự báo ? Chúng tôi cho rằng: nguyên nhân là vì Wimsatt chí tập trung chú ý vào mặt ngữ nghĩa mà coi nhẹ tác dụng của cú pháp.

Chúng tôi đặc biệt nêu ra lý luận phân thành 3 giai đoạn để sửa đối quan điểm của Wimsatt. Trong phan 2.1 trên, từ góc độ cú pháp bên ngoài, chúng tôi đã thảo luận về tính không liên tục, về sự đặt sai, và hiện tượng đa nghĩa tồn tại một cách phổ biến trong thơ cận thể đã khiến cho danh từ có ý tượng độc lập. Trong mục 2.3 và 2.4, chúng tôi đã khảo sát sự tạo thành nội tại của danh từ, tức là từ ghép tính từ + danh từ và danh từ + danh từ, hơn nữa, cũng đã phát hiện ra rằng phần lớn chúng có khuynh hướng về tính chất nội tại. Thực thể là một cách nêu Tên sự vật, chỉ cần ý tượng giản đơn hướng về tính chất thì thơ cận thể với phương thức yếu hơn hình thái thực thể ấy đã cho một ấn tượng tồn tại.

Trong mục 2.6, vấn dé chúng tôi sẽ thảo luận là: trong tiếng Anh có rất nhiều thủ đoạn cú pháp phô bày chỉ tiết của đối tượng danh từ, trong đó chủ yếu là đại từ quan hệ, đại từ chỉ thị và quán từ xác định, cho nên ý tượng danh từ trong thơ ca tiếng Anh có khuynh hướng vẻ sự vật. Do trong ngôn ngữ Hán và Anh có sự khác biệt cơ bản về cú pháp mà thơ ca tiếng Anh thông thường là tỏ rõ tính thực thể tương đối

285

mạnh.

Ngoài ra, cách phân loại của Wimsatt. sau khi sửa đối chút ít đã giúp chúng tôi dùng một phương thức hệ thống hơn để nêu lại vấn để đã bàn ở trên.

Wimsatt đã sử dụng một mô thức phân loại hỗn hợp:

từ "công cụ" đến "cái xéng” là trật tự từ loại đến chủng: từ

"cái xẻng" đến "cái xẻng làm vườn đã gĩ" là theo một trình tự từ danh từ đơn giản đến danh từ phức tạp (danh từ có tính từ tu sức hoặc các danh từ khác tu sức). Phân tích theo tuyến chủng loại, chúng tôi muốn đi sâu hơn men theo thân

"Cây. ban nham” này (Tree of porphyry). Ở phần gốc của nó, chúng tôi phát hiện ra cá thể và hình thức ngôn ngữ đối ứng với nó: Danh từ riêng, đại từ hoặc đại từ chỉ thị. Nói chung, ba loại này đều không có lợi cho việc cấu tạo nên ý tượng. Trong thơ cận thể, danh từ riêng thường thường xuất hiện với hai phương thức: một là tên người trong điển cố, một nữa là địa danh. Ở trên kia chúng tôi đã thấy được địa danh khong hé thiéu tiém lực tạo thành ý tượng. ví đụ Lam điển”. Từ đó mà suy thì khi nhân vật lịch sử được đề cập một cách gián tiếp mục đích không

"Ngọc môn quan”,

hẳn là nói đến cá nhân cụ thể nào, mà là hồi ức về những sự kiện liên quan với nhân vật, sự kiện này bằng hình thức tương tự mà ta thấy lại trong hoàn cảnh trước mắt. Như mọi người đều biết, trong thơ cận thể rất ít sử dụng những đại từ nhân xưng, t âm chí chủ ngữ cũng thường bị tĩnh lược; đại từ chỉ thị "này", “ngày này” không xuất hiện trong bộ phận og 286

ý tượng thơ mà xuất hiện trong bộ phận suy luận (tức là câu cuối hoặc câu gần cuối), tác dụng của nó khi ấy là dẫn ra sự đối chiếu thời gian và không gian hoặc tương đối với tuyệt đối (xin xem mục 4.3).

Sự khảo sát khái quát này đã đề ra một vấn để quan trọng là, trong thực tế bộ phận ý tượng của thơ cận thể vừa không có sự vật cá thể lại cũng chẳng có tên gọi riêng. Vậy thì, cuối cùng nó đã thể hiện ra sao về ý nghĩa nơi này, lúc này ? Vấn đề này chúng tôi sẽ trả lời ở chương ba khi bàn về vị ngữ động từ,

Phần trên của "Cái cây ban nham” là loại, loại thứ và chủng. Do đó, trong vần loại của thơ cổ Trung Quốc thì

“nhân vật” là một loại lớn gồm có "quân vương", "tể tướng",

“bằng hữu", "thân thích" v.v... Loại chim (cầm) thì có "anh mm" “

vũ", "yến „ tước”, "phượng hoàng”; loại hoa thì có "quế hoa”, "cúc hoa", "lê hoa" và "đào hoa". Như trên cho thấy, cấu trúc đẳng lập của danh từ ("thiên địa", “giang hồ") là con đường để đạt được mức độ khái quát tương đối cao, một lối khác để đạt mức độ này là các danh từ thuộc loại hoặc các từ ngữ gốc, như "nhân", "mã", "hoa". Thời sơ Đường, thủ pháp dùng danh từ loại có hiệu quả sáng tạo ý thơ này tương đối thịnh hành. Bài thơ "Điểu mình giản" (khe chìm kêu) của Vương Duy là một ví dụ:

Nhân nhàn quế hoa lạc ! Dạ tĩnh xuân sơn không Nguyệt xuất kinh sơn điểu ! Thời mình xuân giản trung (753)

287

(Người nhàn hoa quế rụng / Đêm xuân núi vắng teo Trăng lên chim nháo nhác / Dưới khe chốc chốc kêu) Ba danh từ không có từ tu sức đồng thời xuất hiện đó là người, đêm và trăng; ngoài ra có hai danh từ có thành phần tu sức là sơn và điểu, mà tác dụng của thành phần tu sức chủ yếu chỉ rõ thời gian, không gian chứ không phải là hạn chế phạm vi; cho nên ý tượng mà bài thơ này biểu hiện là một thế giới tạo nên bởi người, chim, hoa và núi.

Phong cách thơ đơn giản tự nhiên mà đặc sắc này của thơ Vương Duy có quan hệ lớn đến việc vận dụng danh loại không cần từ trau chuốt của ông.

Bài thơ này đã được Robet Payne dịch ra tiếng Anh

như sau: `

Walking at leisure we watch laurel flowers falling, In the silence of this night the spring mountain is empty.

The moon rises, the birds are startled,

As they sing occasionally near the spring fountain (valley).

Lời dịch rõ ràng là đã để mất đi cái ý nghĩa danh loại

“Nhân” (người) trong câu thơ là một bộ phận của thế giới, còn we (chúng ta) trong thơ dịch thì lại là chỉ những người du chơi thưởng ngoạn vẻ xuân; This nígh (đêm nay) là để chỉ một đêm đặc biệt nào đó đã xác định; Bird (chim) thêm đuôi s chỉ số nhiều đã biến một danh từ chỉ loại (danh loại) thành một bẩy chim. Chúng ta thường nói trong thơ cổ

288

Trung Quốc không có thời thái, số và đại từ, chính đặc điểm này khiến cho thơ Trung Quốc có thể dùng danh loại tạo ra hiệu quả đặc thù. Đây là một sự thực chưa được coi trọng đây đủ.

Chúng ta hãy trở lại với cái mô thức phân tích hỗn hợp của Wimsatt và mô phỏng ông để xây dựng nên một cấu trúc phân loại:

1. Danh từ không có tu sức

A. Loại đẳng lập như: thiên địa, giang hồ, giang hán . B, Loại trừu tượng như: thanh, sắc

€. Loại đơn âm tiết như: nguyệt, thiên, vân, sơn

D. Loại song âm tiết như: anh vũ, phượng hoàng, phù dung, bồ đào

2. Danh từ có thêm tu sức

A. Loại tu sức bằng tính từ không hạn định như: minh nguyệt, hoàng kim, bạch vân.

Một phần của tài liệu Tìm hiểu về thi pháp thơ Đường: Phần 2 (Trang 49 - 55)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(279 trang)