I. NGU NGHIA VA NGUYEN TAC BONG DANG
1.1. Định nghĩa về đồng đẳng
Trong phần trên, chúng tôi đã nói đến một cách vấp tắt vấn để ý nghĩa, ví dụ: Khi đem ngôn ngữ thơ cận thể phân chia thành ngôn ngữ ý tượng và ngôn ngữ suy luận, chúng tôi đã lấy ý nghĩa gọi tên làm tiêu chuẩn phân chia, cũng tức tà làm cho ý nghĩa cảm giác đối lập với ý nghĩa khái niệm, chứng tôi căn cứ vào tính chất lĩnh để phân tích danh từ, tính từ; căn cứ vào tính chất động để phân tích động từ và vị ngữ mang tính chất động từ; căn cứ vào sự suy luận mà câu thơ muốn biểu đạt để phân tích bản ‘han cau tho.
Nói gọn lại, phần thảo luận trên đây của chún; tôi phần lớn đều giới hạn trong ý nghĩa mặt chữ giản đơn của các yếu tố ngôn ngữ. Do đó, có thể sẽ gây cho bạn đọc một ấn tượng là: thơ cận thể có vẻ rời rạc, vụn vặt lỏng lẻo và hôn loại, cho nên đơn điệu, hời hợt. Sé di roi rac, vun vat [3 vì trong ý
4
tượng giản đơn, các từ ngữ kể nhau cấu tạo thành một quan hệ đẳng lập, không ảnh hưởng gì nhau; còn lỏng lẻo, rối loạn là vì thiếu cái ảnh hưởng qua lại tạo thành hiệu quả mới mẻ. Các từ được sử dụng lặp đi lập lại (như đực thuỷ, mình nguyệt, cao sơn) lại được nhấn mạnh quá đáng. Nảy sinh ấn tượng như thế, nên hiểu là do góc độ phân tích của chúng tôi còn hạn chế, chứ không phải do khiếm khuyết vốn có của thơ cận thể.
Mặt khác, nguyên tắc đa nghĩa trong một thời gian dài vẫn là một học thuyết chiếm địa vị chủ đạo.
Ý nghĩa của ý nghĩa (Meaning oƒ meaning, 1923) của Ogden va Richards, bang loại hình ý nghĩa mơ hồ của Emison, thông qua những phương pháp khác nhau khiến cho phê bình chuyển hướng sang nguyên tắc đa nghĩa. Gần đây, Nonhrop Frye trong sách Giải phẩu phê bình (Anatomy of Criticism, 1957) đã đành cả một chương ("Ki
hiệu học") để nghiên cứu vấn đề các lớp ý nghĩa trong văn học. Như mọi thi ca khác, thơ cận thể cũng có thể sinh nhiều tầng ý nghĩa. Bởi vì mục dích của bài này là miêu tả đặc trưng ngôn ngữ của thơ cận thể, cho nên hiện tượng nhiều nghĩa của một từ tự nhiên cũng thuộc phạm vi thảo luận
Nhiều nhà nghiên cứu hứng thú với việc chứng mình tính mơ hồ nội tại của thi ca, hoặc đem ý nghĩa của thi ca phân chia thành các tầng lớp và loại hình khác nhau, còn chúng tôi thì sẽ đặt trọng điểm ở quá trình diễn biến từ ý 390
nghĩa cơ bản của từ sang ý nghĩa mở rộng. Lý do làm như thế, chúng ta cũng sẽ được thấy sáng tỏ dần trong quá trình thảo luận của chúng tôi. Nói một cách giản đơn, cách làm đó có thể khiến chúng tôi có thể sử dụng một quan điểm thống nhất để nghiên cứu các vấn đề tương quan, bao gồm cả ẩn dụ và điển cố.
Đưới đây, chúng tôi sẽ giải thích, thế nào là nguyên tác đồng đẳng và bằng cách nào mà nó có thể làm nảy sinh ý nghĩa mới trong thi ca. Bởi vì nguyên tắc này trước hết do Roman Jakobson nêu ra một cách khái quát, cho nên chúng tôi sẽ bắt đầu bằng một đoạn ý kiến của ông:
"Đặc biệt đáng chú ý là , cái đặc trưng nội tại mà một bài thơ không thể thiếu được là gì ? Muốn trả lời câu hỏi này, chúng ta phải nhớ lại hai loại mô hình sắp xếp được sử dụng trong hành vi ngôn ngữ: Lựa chọn và tổ hợp. Nếu chủ đề của một đoạn văn là "trẻ em”, thì người nói sẽ lựa chọn một danh từ ít nhiều tương tự trong các vốn từ vựng hiện có, như trẻ con (child), nhi đồng (kid), cậu bé (youngster), đứa bé (tot), tất cả những từ này đều đẳng trị trên một phương diện nào đó. Tiếp theo, khi trần thuật về chủ ngữ đó, người nói có thể lựa chọn một vị ngữ cùng loại như ngủ (sleeps), ngủ thiếp (dozes), ngủ gật (nods), chợp mất (naps). Cuối cùng, đem từ đã lựa chọn dùng một chuỗi lời tổ hợp lại. Sự lựa chọn nảy sinh trên cơ sở đồng đẳng, trên cơ sở giống nhau và khác nhau, đồng nghĩa và trái nghĩa; còn trong quá trình tổ hợp, việc xây dựng trật tự lời nói thì dựa vào cơ sở 391
kề nhau. Chức năng của thơ là đem nguyên tắc đồng đẳng từ quá trình lựa chọn chuyển vào quá trình tổ hợp. Đồng đẳng trở thành biện pháp tạo thành của trật tự lời thơ. Trong thơ một âm tiết có thể đồng đẳng với bất kì một âm tiết nào khác trong cùng một trật tự lời thơ, trọng âm với trọng âm, phi trọng âm với phi trọng âm, âm dài với âm dài, âm ngắn với âm ngắn, giới hạn từ với giới hạn từ, không có giới hạn từ với không có giới hạn từ, chỗ ngừng cú pháp với chỗ ngừng cú pháp, không có chỗ ngừng với không có chỗ ngừng đều phải ngang nhau. Âm tiết biến thành đơn vị đo lường, âm ngắn và trọng âm cũng như vậy".
Lựa chọn và tổ hợp tạo thành hai phương thức cơ bản để sắp xếp kí hiệu ngôn ngữ. Lí luận này có thể truy ngược lên Ferdinand de Saussure (1 I), người sáng lập ra ngôn ngữ học hiện đại. Tính đồng nhất của cấu trúc kí hiệu là do nó đồng đẳng với tính hệ thống của kí hiệu khác, tức là do nó được xác định bởi tính giống nhau hay khác nhau so với các bộ phận kí hiệu khác. Ví dụ giản đơn nhất là trong âm vận học, m- và n- của tiếng Anh tương tự nhau, vì chúng đều là âm mũi, nhưng khác nhau ở chỗ âm trước là âm hai môi, âm
sau là âm đầu lưỡi. Âm mũi có thể tương tự với âm tắc, âm xát. Điểm cơ bản trong lí luận của Saussure là đem lời nói (parole) và ngôn ngữ (langue) tách bạch nhau ra, Lời nói là hoạt động thực tế, là nội dung mà người ta nói hay viết trong không - thời gian cụ thể; ngôn ngữ là cấu trúc tổng thể, là cái kho vật liệu mà các hoạt động lời nói đều sử 392
dụng. Trong hoạt động lời nói các kí hiệu cá biệt (thành phần ngôn ngữ) sở đĩ có chức năng truyền đạt thông tin một phần là do chúng đối lập với các kí hiệu khác trong ngôn ngữ, một phân là do chúng liên hệ với các kí hiệu khác trong cùng một ngữ đoạn: nói bằng m- có nghĩa rằng không nói n-, lựa chọn chíld (đứa trẻ) và sleep (ngủ) có nghĩa là vứt bỏ old man (người già) và walk (đi), đó đã là lựa chọn.
Trong chuỗi lời đó kí hiệu cá biệt đã liên kết nhau trên cơ sở tương cận (kể nhau) để tạo thành một đơn vị càng ngày càng lớn, cũng tức là những kí hiệu trực tiếp kể nhau trước hết do cấu trúc ngữ pháp tổ hợp lại, còn phạm vi không ngừng được mở rộng.
Jakobson đặc biệt chỉ ra hai điểm khác biệt giữa ngôn ngữ có tính thơ và ngôn ngữ thông thường: 1, Nguyên tắc đồng đẳng trong ngôn ngữ thông thường phát huy chức năng bên ngoài chuỗi lời nói (tức là phát huy tác dụng trên cấp độ ngôn ngữ mà không phải lời nói); còn trong ngôn ngữ mang tính thơ thì tác dụng ngay trong chuỗi lời, 2, Trong ngôn ngữ thông thường thành phần ngôn ngữ tương cận do cấu trúc ngữ pháp liên kết lại; còn trong ngôn ngữ mang tính thơ thì các hạn chế về ngữ pháp không còn thích hợp nữa. Các thành phần ngôn ngữ không kể nhau có thể kết hợp được với nhau thông qua nguyên tắc đồng đẳng.
Mặc dù Jakobson chỉ thuyết mính lí luận của ông từ góc độ vận luật, nhưng nguyên tắc đồng đẳng cũng được biểu hiện ra ở nhiều phương diện khác: sự tương đồng về
393
thanh mẫu, vận mẫu là sự đồng đảng về mặt ngữ âm. Cân đối và thành phần cân đối thuộc về đồng đẳng ngữ pháp. Do đó, căn cứ theo nguyên tắc đồng đẳng mà suy nghĩ đến đặc trưng ngữ âm và đặc trưng ngữ pháp trong thơ là một phương pháp tự nhiên và dễ hiểu. Nếu như phương pháp này cũng có thể ứng dụng cả trên phương diện ngữ nghĩa thì chúng ta có thể xây dựng được một lí luận nhất quán. Tuy nhiên, ý nghĩa của nguyên tắc đồng đẳng còn cần phải được làm sáng tỏ hơn nữa.
“Đồng đẳng" (đối đẳng, đẳng trị) nói chung bao hàm các ý nghĩa bằng nhau và tương đồng. Bạn đọc từ các ví dụ mà Jakobson đưa ra như trẻ em, nhí đồng, cậu bé cũng có thể nhận thấy: đồng đẳng và tương tự là như nhau; nhưng theo một ý nghĩa chặt chẽ thì tương phản (trái nhau) cũng là một bộ phận không thể thiếu của sự đồng dẳng vẻ ý nghĩa.
Jakobson tiếp tục viết rằng: "Sự lựa chọn nằm trên cơ sở đồng đẳng trên cơ sở giống nhau, khác nhau, đồng nghĩa, trái nghĩa mà sản sinh...". Michael Riffaterre cũng đã nói về vấn để này rất rõ ràng: "Ví như mấy từ do đồng đẳng về phương diện phát âm mà kết hợp thành một chuỗi liên tục cùng thanh mẫu, vận mẫu và nhịp điệu, thì như vậy, không tránh khỏi việc tạo thành một quan hệ đồng đẳng về ngữ nghĩa giữa các từ đó, do vậy ý nghĩa của mỗi yếu tố trong chúng cũng được xem là giống nhau (do đó mà tạo thành ví von và ẩn dụ) hoặc là trái nhau (do đó mà tạo thành đối sánh) và liên hệ với nhau" (12). Đồng đẳng bao hàm hai 394
mật giống nhau và trái nhau. Nó là một sức mạnh cưỡng bức của hai từ trong cùng một loại.
Quan điểm này có thể được diễn đạt bằng chữ cái:
chúng ta xem A, B là hai thành phần được đặt vào một chỗ và nối liền bằng:"dấu bằng". viết thành A = B. Ở đây, dấu bằng biểu thị quan hệ đồng đẳng, Á và B có phần giống nhau, có phần khác nhau. Trang Tử từ xưa đã nói: "Vạn vật tất đồng, tất dị". m- và n- cũng thuộc vào phụ âm, xét về mặt giống nhau của chúng, chúng đều là âm mũi, xét về mặt khác nhau, thì một cái là âm hai môi, một cái là âm đầu lưỡi.
Khi chúng ta suy nghĩ về vấn đề ý nghĩa thì trước tiên nên chú ý cách vận dụng về nguyên tắc đồng đẳng.
1. Khi hai từ tạo thành một quan hệ đồng đẳng thì sẽ sản sinh một ý nghĩa mới hay ý nghĩa mở rộng. Ở đây, có bai loại hình thức chủ yếu: Nếu như hai từ đều là danh từ thì chúng đều tác động vào nhau để làm nổi bật mặt giống nhau hoặc khác nhau. Nếu một từ là danh từ, một từ là động từ, vì ý nghĩa động từ khá ổn định, thì danh từ sẽ bị biến đổi để thích ứng với động từ. Chẳng hạn "the ship ploughs the sea" (Thuyền cày biển khơi), danh từ "thuyền" có được ý nghĩa là do liên hệ với ý nghĩa của tir "cay".
2. Trong đoạn trên. chúng tôi đã phân biệt hai khái niémedu trúc và cơ chất: cấu trúc chỉ các mối liên hệ tương đối lớn của các bộ phận chủ yêu của các tác phẩm, còn "cơ chất" là chỉ các mối liên hệ của các bộ phận tương đối nhỏ 395
của tác phẩm. Trong "cơ chất", tức là trong việc sắp xếp các mối quan hệ cục bộ giữa từ và câu cần phải phân biệt thêm:
Nếu các quan hệ giữa từ và từ được biểu hiện đầy đủ và được tổ chức lại theo hình thức ngữ pháp thì người ta gọi đó là "quan hệ ẩn dụ". Ngôn ngữ được tạo thành theo hai loại quan hệ này, chúng ta phân biệt gọi bảng: " ngôn ngữ phân tích" và " ngôn ngữ ẩn dụ", .
Chúng tôi cồn chỉ ra, trong thơ cận thể trần đầy các ý tượng danh từ giản đơn và chúng phát huy tác dụng trong thơ cận thể quan trọng hơn nhiều so với thơ tiếng Anh.
Chúng tôi đã sử dụng khái niệm " ngôn ngữ phân tích" dùng để khái quất ngắn gọn hình thức ngôn ngữ này và các đặc trưng hữu quan của chúng.
Các đặc điểm ấy bao gồm: Ngôn ngữ ý tượng là một ngôn ngữ không liên tục, khách quan, nó trực tiếp nói với cảm giác và còn bao hàm một sự đồng đẳng vẻ thời gian, không gian... Trên thực tế, ngôn ngữ ý tượng và ngôn ngữ ẩn dụ là cùng một hiện tượng mà được quan sát dưới hai góc độ khác nhau. Nói một ngôn ngữ nào đó là ngôn ngữ ý tượng tức là nói rằng giữa các từ thiếu vắng mối liên hệ cú pháp hoặc chỉ có mối liên hệ cú pháp lỏng lẻo. Do đó, thơ cận thể cho người ta một ấn tượng tản mạn, phiến đoạn ; khi gọi cùng một ngôn ngữ ấy là ngôn ngữ ẩn dụ (trên ý nghĩa chặt chế), thì là nói quan hệ giữa các từ với nhau không bị quan hệ cú pháp ràng buộc mà là kết hợp với nhau theo nguyên tác đồng đẳng. Cách gọi trước nhấn mạnh tới bộ 396
phận được cấu thành. tức là chất liệu tạo thành thơ cận thể, cách gọi sau nhấn mạnh tới phương thức kết hợp giữa các bộ phận với nhau.
Nguyên tác đồng đẳng là cơ sở tổ chức cục bộ trong thơ, nó đem từ và từ liên hệ lại với nhau và khiến chúng biến thành những cơ chất. Mối liên hệ cú pháp của tiếng Hán vốn không lấy gì làm chặt chẽ, đến thơ cận thể, do sự hạn chế nhiều mặt của thể tài, mối liên hệ cú pháp lại càng thêm mỏng manh, kết quả là nó khiến cho quan hệ ẩn đụ vượt trội lên trên quan hệ phân tích. Do đó, lí luận của Jakobson càng dễ được sử dụng để thuyết minh hiện tượng thơ cận thể - mặc dù lí luận này đầu tiên là nêu ra cho thơ phương Tây. Dưới đây, chúng tôi sẽ nêu ví dụ thuyết minh rằng nguyên tắc đồng đẳng không chỉ có thể khiến cho các từ cục bộ kết thành một khối, mà còn có thể trở thành nguyên tắc phổ quát của tổ chức cấu trúc quán xuyến trong toàn bộ bài thơ.