Sản xuất trong ngắn hạn

Một phần của tài liệu Giáo trình kinh tế học vi mô 1 (Trang 151 - 158)

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ HỌC VI MÔ

4.1.2. Sản xuất trong ngắn hạn

4.1.2.1. Hàm sn xut trong ngn hn

Khi phân tích về sản xuất, các nhà kinh tế học chia sản xuất thành hai quá trình: Sản xuất trong ngắn hạn và sản xuất trong dài hạn.

Ngắn hạn là khoảng thời gian mà trong đó có ít nhất một yếu tố đầu vào không thể thay đổi được. Ngược lại, dài hạn là khoảng thời gian đủ để tất cả các yếu tố đầu vào đều có thể thay đổi. Như vậy, sản xuất trong ngắn hạn là sản xuất khi có ít nhất một yếu tố đầu vào không thể thay đổi được. Yếu tố đầu vào không thay đổi được gọi là yếu tố đầu vào cố định.

Còn sản xuất dài hạn là sản xuất khi tất cả các yếu tố đầu vào đều thay đổi được. Trong dài hạn, không còn yếu tố đầu vào cố định nữa. Lưu ý rằng, ngắn hạn và dài hạn trong kinh tế học vi mô không gắn với một mốc thời gian cụ thể nào mà phụ thuộc vào sự biến đổi của các yếu tố đầu vào mà doanh nghiệp đó sử dụng.

Đối với các doanh nghiệp, yếu tố đầu vào dễ thay đổi thường là lao động. Tuy nhiên, lao động không luôn luôn là yếu tố đầu vào biến đổi.

Việc tìm kiếm thêm một lao động lành nghề nhiều khi cũng mất khá nhiều thời gian. Tương tự như vậy, vốn có thể là yếu tố đầu vào cố định nhưng cũng có thể là yếu tố đầu vào biến đổi. Một doanh nghiệp có thể thay đổi rất dễ dàng số lượng các tài sản vốn nhỏ (ví dụ xe tải nhỏ, máy

152

tính cá nhân...), nhưng sẽ mất vài năm để thay đổi một tài sản vốn lớn hơn (ví dụ nhà xưởng, dâychuyền sản xuất...).

Nếu giả định một doanh nghiệp chỉ sử dụng hai yếu tố đầu vào là vốn và lao động, nếu sản xuất trong ngắn hạn với số lượng vốn cố định, hàm sản xuất có thể được viết như sau:

) ( ) ,

(K L f L f

Q 

Thực chất lúc này, do số lượng vốn không đổi nên số lượng đầu ra chỉ còn phụ thuộc duy nhất vào yếu tố đầu vào lao động. Hay nói cách khác, muốn thay đổi số lượng đầu ra, doanh nghiệp chỉ có một sự lựa chọn duy nhất đó là thay đổi số lượng đầu vào lao động sử dụng trong quá trình sản xuất.Rõ ràng, sản xuất trong ngắn hạn mang tính kém linh hoạt.

Trong trường hợp vốn là yếu tố đầu vào biến đổi còn lao động là yếu tố đầu vào cố định, ta có hàm sản xuất sau:

) ( ) ,

(K L f K f

Q 

4.1.2.2. Mt s ch tiêu sn xuất cơ bản

Để đo lường về hiệu quả trong sản xuất, người ta sử dụng một số chỉ tiêu sau:

* Sản phẩm trung bình của một yếu tố đầu vào (AP)

Sản phẩm trung bình của một yếu tố đầu vào là số sản phẩm bình quân do một đơn vị đầu vào tạo ra trong một thời gian nhất định.

Sản phẩm trung bình của lao động (APL) là số sản phẩm tính bình quân do một đơn vị đầu vào lao động tạo ra và được tính bằng công thức sau:

L APLQ

Sản phẩm trung bình của vốn (APK) là số sản phẩm tính bình quân do một đơn vị đầu vào vốn tạo ra và được tính bằngcông thức:

153 K APKQ

* Sản phẩm cận biên của một yếu tố đầu vào (MP)

Sản phẩm cận biên của một yếu tố đầu vào là sự thay đổi trong tổng số sản phẩm sản xuất ra khi yếu tố đầu vào đó tăng thêm một đơn vị.

Sản phẩm cận biên của lao động (MPL) phản ánh sự thay đổi trong tổng số sản phẩm sản xuất ra khi yếu tố đầu vào lao động thay đổi một đơn vị.

L MPL Q

 

Trong đó:ΔQ phản ánh sự thay đổi trong tổng số sản phẩm sản xuất ra và ΔL phản ánh sự thay đổi trong số lượng lao động.

Khi biểu diễn mối quan hệ giữa số lượng đầu ra và đầu vào thông qua hàm sản xuất, chúng ta có thể tính được sản phẩm cận biên của lao động theo công thức đạo hàm như sau:

MPL = Q’(L)

Tương tự như vậy, ta có công thức tính sản phẩm cận biên của vốn (MPK):

K MPK Q

  hoặc MPKQ'(K)

Về mặt ý nghĩa, nếu như giá trị sản phẩm trung bình phản ánh năng suất bình quân, có tính chất cào bằng thì sản phẩm cận biên phản ánh năng suất của riêng từng yếu tố đầu vào, nó cho biết nếu riêng yếu tố đầu vào đó được sử dụng thêm thì sẽ làm sản lượng đầu ra thay đổi là bao nhiêu.

4.1.2.3. Quy luật sn phm cận biên gim dn

Khi nghiên cứu về sản xuất trong ngắn hạn, các nhà kinh tế học nhận ra một quy luật liên quan đến sự biến động của sản phẩm cận biên của yếu tố đầu vào biến đổi. Quy luật đó được các nhà kinh tế học gọi là Quy

154

luật sản phẩm cận biên giảm dần hay còn được gọi với một cái tên khác là Quy luật hiệu suất sử dụng các yếu tố đầu vào có xu hướng giảm dần. Quy luật này được phát biểu như sau: Khi gia tăng liên tiếp những đơn vị của một yếu tố đầu vào biến đổi trong khi cố định các yếu tố đầu vào khác thì đến một lúc nào đó, sản phẩm cận biên của yếu tố đầu vào biến đổi đó sẽ giảm dần.

Chúng ta cùng nghiên cứu một ví dụ: Giả sử một doanh nghiệp sử dụng hai yếu tố đầu vào là vốn và lao động với yếu tố vốn là yếu tố cố định. Sản lượng đầu ra tương ứng với số lượng lao động và giá trị của các chỉ tiêu APL và MPL được thể hiện ở Bảng 4.1.

Bảng 4.1. Tổng sn phẩm, sn phẩm trung bình và sn phẩm cn biên khi sn xuất trong ngn hn với yếu tố vốn cốđịnh

L Q APL MPL

0 0 - -

1 20 20 20

2 50 25 30

3 87 39 27

4 116 29 29

5 140 28 24

6 156 26 16

7 168 24 12

8 168 21 0

9 162 18 -6

10 150 15 -12

Giả sử quá trình sản xuất mà ta nghiên cứu là quá trình sản xuất tại một công xưởng may. Xưởng may đó có số lượng máy may là cố định (vốn cố định), khi đó số lượng hàng hóa tạo ra (số bộ quần áo) sẽ phụ thuộc vào yếu tố lao động (người lao động).

155

Nếu chỉ có một người lao động, để làm ra sản phẩm hoàn chỉnh, người này phải thực hiện tất cả các công đoạn của quá trình sản xuất, đó là đo, cắt, may và hoàn thiện sản phẩm. Tuy nhiên, khi có thêm lao động, xưởng may này có thể thực hiện phân công lao động (chuyên môn hóa sản xuất), ví dụ một lao động chuyên đo, cắt và một lao động chuyên may và hoàn thiện sản phẩm. Nhờ việc chuyên môn hóa này năng suất lao động của tất cả những người lao động khi đó sẽ tăng lên. Đây chính là lý do giải thích tại sao người lao động thứ hai lại có sản phẩm cận biên cao hơn so với người lao động thứ nhất.

Tuy nhiên, việc chuyên môn hóa sản phẩm chỉ giúp cho sản phẩm cận biên của lao động tăng lên vào giai đoạn đầu. Nếu cứ tiếp tục gia tăng lao động trong khi số lượng máy may cố định (vốn cố định) những lao động tăng thêm sẽ phải chờ đợi (họ phải chờ người khác làm xong mới có thể sử dụng máy may để sản xuất), và do vậy không tận dụng hết năng suất của những người lao động tăng thêm này. Điều đó khiến cho sản phẩm cận biên của những đơn vị lao động được tăng thêm giảm dần.

Ở trong ví dụ của chúng ta, sự giảm này xảy ra từ đơn vị lao động thứ ba.

Đây chính là điểm mà quy luật sản phẩm cận biên giảm dần bắt đầu tác động đến quá trình sản xuất.

Nếu vẫn tiếp tục gia tăng lao động trong khi lượng máy may không đổi, thì thời gian chết này sẽ tăng lên khiến những lao động tăng thêm sẽ tạo ra ngày càng ít sản phẩm, và thậm chí đến một lúc nào đó, người lao động tăng thêm không tạo ra sản phẩm mà sự có mặt của họ còn làm ảnh hưởng đến quá trình lao động của những người khác. Lúc này khi có thêm lao động, số lượng sản phẩm đầu ra không tăng lên mà có xu hướng giảm đi. Khi đó sản phẩm cận biên sẽ mang giá trị âm (đối với lao động thứ 9 và thứ 10 trong ví dụ ở trên).

Quy luật sản phẩm cận biên giảm dần có thể được giải thích tổng quát như sau. Trong quá trình sản xuất, cần có sự phối hợp giữa các yếu tố đầu vào. Năng suất của một yếu tố đầu vào không chỉ phụ thuộc vào bản thân đầu vào đó mà còn phụ thuộc vào yếu tố đầu vào khác cùng sử

156

dụng với nó và mối quan hệ này là mối quan hệ thuận. Ban đầu, khi gia tăng yếu tố đầu vào biến đổi, sự tăng lên của các yếu tố đầu vào sẽ giúp cho các doanh nghiệp có thể thực hiện chuyên môn hóa sản xuất và làm cho năng suất tăng lên. Tuy nhiên, khi các yếu tố đầu vào khác là cố định trong khi cho một yếu tố đầu vào biến đổi tăng lên, yếu tố đầu vào biến đổi này sẽ được làm việc với ngày càng ít hơn các yếu tố đầu vào cố định và do vậy làm cho năng suất của nó (được thể hiện bằng sản phẩm cận biên) sẽ bị giảm dần. Chính vì vậy, trong sản xuất ngắn hạn, sản phẩm cận biên của yếu tố đầu vào biến đổi ban đầu tăng lên và sau đó bắt đầu giảm đi khi bị quy luật này chi phối. Một lưu ý quan trọng nữa, đó là do phân tích trong điều kiện có những yếu tố sản xuất cố định nên quy luật này là quy luật của sản xuất trong ngắn hạn chứ không phải dài hạn.

4.1.2.4. Mi quan h gia sn phm trung bình và sn phm cận biên ca yếu tđầu vào

Giả sử xét một doanh nghiệp sản xuất trong ngắn hạn, chỉ sử dụng hai yếu tố đầu vào là vốn và lao động với vốn là yếu tố cố định. Bây giờ chúng ta sẽ biểu diễn sự biến đổi của sản lượng khi số lượng lao động tăng lên (Hình 4.2).

Như đã phân tích ở trên, do sự tác động của quy luật sản phẩm cận biên giảm dần nên sản phẩm cận biên của lao động ban đầu sẽ tăng lên rồi sau đó giảm đi. Vì thế, đường biểu diễn sản phẩm cận biên ban đầu đi lên (trong khoảng lao động từ 0-L1) và khi số lượng lao động vượt quá L1

thì bắt đầu đi xuống, thậm chí, nếu số lượng lao động vượt quá L3 thì sản phẩm cận biên của lao động nhận giá trị âm và đường MPL cắt trục hoành đi xuống dưới (xem Hình 4.2).

Về mặt giá trị, độ dốc của đường tổng sản phẩm chính là sản phẩm cận biên của lao động. Do vậy, trong khoảng lao động từ 0-L3, khi MPL> 0 thì đường tổng sản phẩm sẽ có độ dốc dương, nhưng có độ dốc thay đổi.

Cụ thể trong khoảng lao động từ 0-L1, đường tổng sản phẩm có độ dốc tăng dần, nhưng từ L1-L3, đường tổng sản phẩm có độ dốc giảm dần. Khi số lượng lao động bằng đúng L3, MPL = 0 và sản lượng sẽ đạt giá trị lớn

157

nhất. Nếu vượt quá L3, MPL< 0, đường tổng sản phẩm có độ dốc âm và đi xuống dưới về phía phải.

Hình 4.2. Mối quan hệ giữa sn phẩm trung bình và sn phẩm cn biên trong ngn hn

Điểm A trên đường tổng sản phẩm (tương ứng với số lượng lao động L1) biểu thị sự biến đổi trong độ dốc của đường tổng sản phẩm từ tăng dần chuyển sang thoải dần. Điểm C (tương ứng khi số lượng lao động là L3) là điểm mà tại đó tổng sản lượng đạt giá trị lớn nhất. Trên đường tổng sản lượng, chúng ta xác định thêm điểm B bằng cách từ gốc tọa độ kẻ một đường thẳng tiếp xúc với đường tổng sản phẩm, điểm tiếp xúc đó chính là điểm B, tương ứng với số lượng lao động L2.

Từ công thức tính sản phẩm trung bình của lao động (APL = Q/L), ta thấy, về mặt giá trị, APL chính là độ dốc của đường thẳng xuất phát từ gốc tọa độ nối với điểm nằm trên đường tổng sản lượng tương ứng tại mức lao động đó.

0

158

Với hình dáng của đường tổng sản phẩm được biểu diễn trên Hình 4.2, APL ban đầu sẽ tăng lên khi số lượng lao động gia tăng, đạt giá trị lớn nhất khi số lượng lao động là L2 và khi vượt quá mức lao động này APL sẽ bắt đầu giảm dần. Chính vì vậy, đường APL ban đầu cũng đi lên rồi sau đó sẽ đi xuống. APL sẽ đạt giá trị lớn nhất ở mức lao động là L2. Có một điểm đặc biệt là khi số lượng lao động bằng L2, độ dốc đường OB chính là giá trị của APL, nhưng lúc này OB cũng đồng thời là đường tiếp tuyến với đường tổng sản lượng tại điểm B, và do vậy độ dốc đường OB cũng chính bằng giá trị sản phẩm cận biên của lao động. Hay nói cách khác, khi số lượng lao động là L2 thì MPL = APL. Do đó, trên đồ thị khi số lượng lao động là L2thì hai đường APL và MPLsẽ cắt nhau.

Nhìn trên đồ thị ta thấy, khi đường MPL nằm trên đường APL, nó sẽ kéo đường APL đi lên, còn khi MPL nằm dưới đường APL, nó lại kéo đường APL đi xuống và khi hai đường cắt nhau thì APL sẽ đạt giá trị lớn nhất. Mối quan hệ này được cụ thể hóa như sau:

- Nếu MPL> APL thì khi gia tăng sản lượng, giá trị của APL sẽ tăng.

- Ngược lại nếu MPL< APL thì khi gia tăng sản lượng, giá trị của APLsẽ giảm.

- Và khi MPL = APL thì APL đạt giá trị lớn nhất.

Mối quan hệ giữa APL và MPL thực chất khá đơn giản, nó cũng giống như mối quan hệ giữa một số cộng thêm với giá trị trung bình của tổng. Số cộng thêm chính là giá trị MPL, còn giá trị trung bình của tổng chính là APL. Khi ta cộng thêm một số vào một tổng, nếu số đó có giá trị lớn hơn giá trị trung bình của tổng, thì kết quả là giá trị trung bình của tổng mới sẽ tăng lên. Ngược lại, nếu số cộng thêm có giá trị nhỏ hơn giá trị trung bình của tổng thì kết quả là giá trị trung bình của tổng mới sẽ giảm đi.

Một phần của tài liệu Giáo trình kinh tế học vi mô 1 (Trang 151 - 158)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(356 trang)