L ợ i ích và quy luật lợi ích cận biên giảm dần

Một phần của tài liệu Giáo trình kinh tế học vi mô 1 (Trang 103 - 107)

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ HỌC VI MÔ

3.1. S Ở THÍCH C ỦA NGƯỜ I TIÊU DÙNG

3.1.2. L ợ i ích và quy luật lợi ích cận biên giảm dần

Giả định rằng người tiêu dùng có thể xếp hạng lợi ích bằng cách nhận biết hàng hóa nào mang lại độ thỏa mãn cao hơn cho họ. Tuy nhiên, họ không thể lượng hóa mức lợi ích của một hàng hóa, dịch vụ đem lại cho họ bằng một con số cụ thể là bao nhiêu. Khái niệm về lợi ích sẽ giúp cho việc xếp hạng các giỏ hàng hóa theo sở thích một cách dễ dàng hơn, chẳng hạn như một người tiêu dùng cảm thấy là việc mua một vé xem ca nhạc làm cho mình thỏa mãn hơn mua một bộ quần áo thì tổng lợi ích từ buổi hòa nhạc cao hơn bộ quần áo. Chúng ta xem xét lợi ích đạt được khi một cá nhân tiêu dùng một số lượng hàng hóa X nhất định qua ví dụ sau:

Một người công nhân bốc vác vừa làm xong công việc của mình, anh ta đang rất mệt và khát. Để giải tỏa cơn khát của mình, anh ta quyết định mua một lon bia Sài Gòn, và hiển nhiên nó đem lại cho anh ta sự thỏa

104

mãn rất cao. Sau lon bia thứ nhất, anh ta đã đỡ khát đi phần nào và cảm nhận được vị của lon bia rất thơm và ngon nhưng anh ta chưa thực sự hoàn toàn hết khát, vì vậy anh ta tiếp tục uống lon thứ hai, rồi thứ ba,...

Nếu như cứ tiếp tục tăng tiêu dùng hàng hóa này thì tổng lợi ích đạt được sẽ tăng. Tuy nhiên, đến lon bia thứ tư, độ thỏa dụng đạt mức tối đa và không tăng nữa. Khi đó, việc tiếp tục tiêu dùng thêm lon bia thứ năm sẽ làm lợi ích không những không tăng mà còn có thể sút giảm vì khi uống quá nhiều anh ta có thể sẽ bị say bia và không cảm nhận được vị ngon của những lon bia kế tiếp nữa mà ngược lại, anh ta có thể bị bội thực.

Lợi ích tiêu dùng (U) là sự hài lòng, thỏa mãn của người tiêu dùng do tiêu dùng một số lượng hàng hóa, dịch vụ nhất định mang lại. Sự hài lòng (thỏa mãn) càng cao chứng tỏ lợi ích mang lại từ việc tiêu dùng càng lớn.

Tổng lợi ích (TU) là tổng mức độ thỏa mãn của một người tiêu dùng khi tiêu dùng các loại hàng hóa trong một khoảng thời gian nhất định.

Công thức xác định tổng lợi ích:

1 2

1

... n ... n i

i

TU TU TU TU TU

     

Lợi ích cận biên (MU) là mức lợi ích tăng thêm khi tiêu dùng thêm một đơn vị hàng hóa hoặcdịch vụ.

Công thức tính:

( )X

MU TU

X



Nếu phương trình hàm lợi ích là một hàm số liên tục, khi đó:

' ( )X ( )X

MUTU

Theo công thức này, lợi ích cận biên chính là đạo hàm của tổng lợi ích theo số lượng hàng hóa X. Nói cách khác, tổng lợi ích chính là tổng (tích phân) của các lợi ích cận biên. Vì thế, ta có thể viết:

105

( ) ( )

TU X MU X

Nếu hàm lợi ích là một hàm số rời rạc (như trong bảng 3.1), ta có thể tính lợi ích cận biên theo công thức:

MU(Xn) = TU(Xn) - TU(Xn-1)

Trong đó: MU(Xn): Là lợi ích cận biên của đơn vị sản phẩm thứ n:

TU(Xn) và TU(Xn-1): Là tổng lợi ích do tiêu dùng lần lượt nn - 1 đơn vị sản phẩm.

Trường hợp tiêu dùng một tổ hợp gồm nhiều loại hàng hóa khác nhau và tổng lợi ích được cho dưới dạng hàm số TUX,Y = f(X,Y,...) thì lợi ích cận biên MU được đo lường bằng đạo hàm riêng bậc nhất của hàm tổng lợi ích TU. Cụ thể:

'

( )X ( )X

MU TU TU X

 

'

(Y) (Y)

MU TU TU Y

 

Ví dụ: Một người tiêu dùng tiêu dùng hai loại hàng hóa là X và Y.

Tổng lợi ích thu được từ việc tiêu dùng tổ hợp hàng hóa trên được xác định bởi hàm lợi ích: TUXY = 100XY. Khi đó, lợi ích cận biên của việc tiêu dùng hàng hóa X và Y được xác định: MUX = 100Y và MUY = 100X.

3.1.2.2. Quy luật li ích cận biên gim dn

Nội dung quy luật: Lợi ích cận biên của một hàng hóa có xu hướng giảm đi khi lượng hàng hóa đó được một người tiêu dùng nhiều hơn trong một giai đoạn nhất định.

Bản chất của quy luật này là sự hài lòng hay sự thích thú của người tiêu dùng với một mặt hàng có xu hướng giảm đi khi tiêu dùng thêm một đơn vị mặt hàng đó. Quy luật cho biết tổng lợi ích tiêu dùng sẽ tăng lên nhưng với tốc độ ngày một chậm đi và sau đó giảm. Do đó, quy luật cũng

106

khuyến cáo người tiêu dùng không nên tiêu dùng quá nhiều một loại mặt hàng trong ngắn hạn. Ví dụ: Một người tiêu dùng muốn thỏa mãn cơn nghiện ăn bánh Chocopie của mình bằng cách mua và ăn Chocopie liên tục trong ngày. Bảng đo lường lợi ích và lợi ích cận biên của người tiêu dùng này được tổng hợp như sau:

Bảng 3.1. Tổng li ích, li ích cn biên khi thay đổi mc tiêu dùng bánh Chocopie

Q

(Bánh Chocopie)

Tổng li ích (TU)

Li ích cn biên (MUX)

1 9 9

2 17 8

3 24 7

4 30 6

5 35 5

6 39 4

7 40 1

8 40 0

9 35 -5

10 25 -10

Bảng 3.1 cho thấy, tổng lợi ích tăng lên khi tiêu dùng 7 chiếc bánh đầu tiên. Đến chiếc bánh Chocopie thứ 8, sau khi người tiêu dùng đã trải qua tâm lí “cái gì hiếm thì quí” cảm thấy tổng lợi ích mang lại sau 8 chiếc bánh không hề tăng lên so với 7 chiếc trước đó. Thậm chí nếu người tiêu dùng tiếp tục ăn đến chiếc thứ 9, thứ 10 thì tổng lợi ích lại giảm đi. Xét đến lợi ích cận biên, thì từ chiếc bánh thứ nhất cho đến chiếc thứ mười có xu hướng giảm dần. Lợi ích cận biên cũng có thể bằng 0 và âm.

107

Hình 3.1. Mối quan hệ giữa tổng li ích và li ích cn biên

Nhìn vào Hình 3.1, chúng ta thấy giữa tổng lợi ích và lợi ích cận biên có mối quan hệ với nhau:

- Nếu MU > 0 thì TU tăng.

- Nếu MU < 0 thì TU giảm.

- Nếu MU = 0 thì TU đạt giá trị lớn nhất.

Như vậy, một cá nhân chỉ tiêu dùng thêm hàng hóa, dịch vụ khi lợi ích cận biên vẫn còn giá trị dương, bởi vì một người chỉ tiêu dùng khi cần thỏa mãn thêm từ hàng hóa, dịch vụ. Tuy nhiên, quy luật lợi ích cận biên giảm dần chỉ xét với một loại hàng hóa hoặc dịch vụ, nếu tiêu dùng nhiều hơn một loại hàng hóa, dịch vụ thì cần giả định giữ cố định mức tiêu thụ của các hàng hóa khác. Hơn nữa, quy luật này chỉ đúng khi tiêu dùng trong một thời gian ngắn và tần suất tiêu dùng là liên tục.

Một phần của tài liệu Giáo trình kinh tế học vi mô 1 (Trang 103 - 107)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(356 trang)