Nguy cơ thách thức

Một phần của tài liệu Câu hỏi và trả lời môn lịch sử đảng 12 câu – có liên hệ (Trang 71 - 76)

V- CẢI CÁCH HỆ THỐNG TỔ CHỨC VÀ LÀM TRONG SẠCH BỘ MÁY NHÀ NƯỚC, NÂNG CAO HIỆU LỰC CỦA PHÁP LUẬT

1. Nguy cơ thách thức

- Tụt hậu xa hơn về kinh tế, tăng trưởng chưa gắn với phát triển và phát triển bề vững.

So sánh với các quốc gia trong khu vực, hiện chỉ Việt Nam có tốc độ tăng trưởng giảm trong 3 năm liên tiếp, từ khi khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2009. Giai đoạn 2011-2013, tăng trưởng kinh tế ở mức khiêm tốn.

Trước đó, giai đoạn 2000-2005, tăng trưởng bình quân khoảng 7%/năm, đến giai đoạn 2006- 2010 giảm xuống 6,3%/năm. Và giai đoạn 2011-2013, tăng trưởng GDP chỉ khoảng 5,62%. Xu thế giảm nhanh và liên tục bắt đầu từ năm 2007 đến năm 2012, tăng trưởng kinh tế ở mức thấp nhất trong 15 năm qua với tốc độ tăng GDP chỉ ở mức 5,25% - cũng thuộc hàng thấp nhất so với các nước trong khu vực Đông Nam Á.

Chính vì vậy, nền kinh tế nước ta đang tiềm ẩn nguy cơ tụt hậu. Do nền kinh tế trong nước mất cân đối và kém hiệu quả, mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào thâm dụng vốn và lao động, hiệu quả đầu tư thấp, thâm hụt ngân sách lớn, nợ xấu cao… Các lĩnh vực có sự phát triển nhanh như bất động sản, chứng khoán... nhưng lại không bền vững.

Cơ cấu kinh tế mặc dù đã có chuyển dịch tích cực, nhưng vẫn tập trung vào những ngành, những sản phẩm truyền thống, công nghệ chưa cao. Dịch vụ là ngành có giá trị tăng thêm cao nhưng nhiều năm liền tỷ trọng trong GDP giảm. Nhiều sản phẩm nông nghiệp có sản lượng đạt thứ bậc cao, xuất khẩu với khối lượng lớn, nhưng phải bán qua trung gian, nên chẳng những không quyết định được giá cả mà thường bị thấp so với giá thế giới. Tăng trưởng công nghiệp cao, nhưng còn mang nặng tính gia công, phụ thuộc vào nước ngoài về nguyên liệu và giá cả, nên giá trị tăng thêm thấp.

Xuất khẩu tăng cao, nhưng cơ cấu xuất khẩu vẫn chủ yếu là từ khai thác tài nguyên (dầu thô, than đá...), hàng nông sản chưa qua chế biến hoặc mới sơ chế (gạo, cà phê, hạt tiêu, hạt điều, cao su, chè, thuỷ sản...), hàng chế biến nhưng chủ yếu là gia công (dệt may, da giày, điện tử máy tính, sản phẩm gỗ...) Mới mở cửa mà nhập siêu gia tăng mạnh.

Vốn đầu tư tăng và đạt tỷ lệ cao so với GDP, nhưng tỷ trọng vốn nhà nước còn lớn, mà nguồn này hiệu quả sử dụng thấp do bị lãng phí, thất thoát nhiều; tỷ trọng vốn ngoài quốc doanh còn thấp và tăng chậm. Lao động đông về số lượng, nhưng chất lượng và năng suất lao động thấp, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo còn ít.

Chỉ số phát triển còn người (HDI) tuy đạt kết quả khả quan (tăng liên tục qua các năm, xếp hạng đã tăng lên và thứ bậc cao hơn thứ bậc về GDP bình quân đầu người), nhưng vẫn còn đứng thứ 109 trên thế giới. Chất lượng giáo dục từ phổ thông đến đại học nhìn chung còn thấp, còn chạy theo số lượng; cách dạy và học nặng về thuộc lòng, còn kém tính sáng tạo và năng lực thực hành; bệnh chạy theo thành tích rất nặng; xã hội vẫn chưa yên tâm về nội dung và cách thức cải cách giáo dục; chất lượng đào tạo chưa có chuyển biến rõ nét, chưa đáp ứng được yêu cầu về nguồn nhân lực và đào tạo nhân tài... Giá thuốc tăng liên tục với tốc độ cao gấp nhiều lần giá tiêu dùng; chậm khắc phục phân biệt đối xử trong khám, chữa bệnh...; số giường bệnh bình quân 1 vạn dân giảm...

Tỷ lệ nghèo giảm mạnh (nghèo lương thực - thực phẩm giảm từ 55% năm 1990 xuống còn 7,8% năm 2004, nghèo chung giảm từ 70% năm 1990 xuống còn 24,1% năm 2004), nhưng mức giảm chậm lại và chênh lệch giàu nghèo lại gia tăng (năm 1990 mới có 4,1 lần, năm 1995 tăng lên là 7 lần, năm 2002 và năm 2004 là 8,1 lần).

- Lúng túng khi xác định mô hình và bước đi của CNXH, nhất là nội hàm của những vấn đề cơ bản như thể chế kinh tế, dân chủ xã hội chủ nghĩa, chệch hướng xã hội chủ nghĩa…

Với nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan nên Việt Nam đã lâm vào khủng hoảng từ năm 1979. Một trong những nguyên nhân đó là nóng vội, duy ý chí trong cải tạo xã hội chủ nghĩa và

quan hệ sản xuất mới bộc lộ nhiều hạn chế, khuyết điểm, nhất là về cơ cấu kinh tế và cơ chế quản lý.

Quan hệ sản xuất đã làm cho nền kinh tế trì trệ, kém phát triển và cũng không thể mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển.

Trải qua nhiều năm đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa lực lượng sản xuất đã có những bước phát triển rất quan trọng. Nhưng trên thực tế, dù đã có nhiều chuyển biến và thay đổi nhưng vẫn còn những hạn chế như việc đổi mới mô hình kinh tế tăng trưởng còn bị ảnh hưởng bởi tư duy kinh tế theo kiểu kế hoạch bao cấp. Nền kinh tế đã có nhiều thay đổi, môi trường bên ngoài cũng thay đổi nhưng việc đưa ra quyết định đổi mới lại có lúc chậm; chưa làm rõ nội dung của mô hình tăng trưởng kinh tế mới. Chúng ta vẫn chưa làm rõ được mối quan hệ giữa mô hình thị trường mới trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN rồi sẽ tương tác với nhau như thế nào? và đâu sẽ là cốt lõi của mô hình tăng trưởng kinh tế mới?”

Chưa xác định cách tiếp cận mô hình này phải cần đến tư duy nào về các quy luật để vận dụng mặt tối ưu của quy luật kinh tế thị trường. Do vậy, chưa giải quyết triệt để và rõ ràng mối quan hệ giữa phát triển kinh tế thị trường và định hướng XHCN. Vấn đề mở rộng dân chủ và tự do trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam phải cải cách thể chế chính trị, kinh tế ra sao? Chúng ta vẫn còn lúng túng trong giải quyết vấn đề sở hữu kinh tế và thành phần kinh tế, trong đó đặc biệt là sở hữu đất đai khiến các nguồn lực của nền kinh tế chưa được huy động và sử dụng có hiệu quả.

- Nạn tham nhũng, quan liêu, tha hóa trong đội ngũ cán bộ, đảng viên; niềm tin của nhân dân suy giảm; mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân có dấu hiệu sa sút…

Tham nhũng, quan liêu, tha hóa là trở lực lớn đối với quá trình đổi mới đất nước và làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, đối với sự nghiệp xây dựng đất nước, tiến lên chủ nghĩa xã hội, khiến mối quan hệ giữa đảng với dân có dấu hiệu sa sút…

Hiện nay, tình hình tham nhũng ở nước ta đã ở mức nghiêm trọng, đáng báo động. Tham nhũng không chỉ xảy ra ở cấp Trung ương, ở những chương trình, dự án lớn mà còn xuất hiện nhiều trong các cấp chính quyền cơ sở - là cơ quan tiếp xúc với nhân dân hằng ngày, giải quyết những công việc liên quan trực tiếp đến lợi ích của nhân dân. Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX chỉ rõ: “... Điều làm cho nhân dân còn nhiều bất bình, lo lắng, bức xúc nhất hiện nay là tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí, suy thoái về tư tưởng, chính trị và phẩm chất, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên vẫn còn rất nghiêm trọng...”.

“Tham nhũng lớn” bị phát hiện ngày càng tăng về số lượng, mức độ thiệt hại, thất thoát. Đi cùng với nó, nhiều vụ “tham nhũng nhỏ” diễn ra công khai. Điều đó làm giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, gây ra sự bất bình, bức xúc, thậm chí phản ứng của nhân dân đối với chính quyền.

Nghị quyết Đại hội XI của Đảng nêu rõ: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp, cùng với sự phân hóa giàu nghèo và sự yếu kém trong quản lý, điều hành của nhiều cấp, nhiều ngành làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, đe dọa sự ổn định, phát triển của đất nước”.

Thậm chí “Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy tội, chạy bằng cấp, huân chương chưa được khắc phục”. Nhiều vụ việc tham nhũng gây thất thoát lên đến hàng nghìn tỷ đồng, diễn ra cả trong các cơ quan cấp cao, cơ quan bảo vệ pháp luật, chủ yếu được các phương tiện thông tin đại chúng phanh phui.

Nghị quyết Đại hội XI của Đảng chỉ rõ: “Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí chưa đạt được yêu cầu đề ra. Quan liêu, tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng, với những biểu hiện tinh vi, phức tạp, chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, gây bức xúc xã hội”. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) cũng nêu rõ: “Quan liêu, tham nhũng, xa rời nhân dân sẽ dẫn đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước, của chế độ xã hội chủ nghĩa và của Đảng”.

- Diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ; nguy cơ về an ninh, quốc phòng.

“Diễn biến hòa bình” là chiến lược toàn cầu của chủ nghĩa đế quốc nhằm chống phá độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội, tập trung vào lật đổ chính quyền cách mạng, chuyển hóa chế độ xã hội theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Chiến lược “DBHB” thường được sử dụng bằng các biện pháp tổng hợp: Tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội và răn đe quân sự. Trong đó, lấy tiến công trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa làm mũi đột phá vừa tạo sự chuyển hóa tư tưởng chính trị, vừa xây dựng lực lượng đối lập, tạo thời cơ gây bạo loạn lật đổ (BLLĐ) chủ yếu bằng lực lượng chính trị hoặc chính trị kết hợp vũ trang.

Sự tồn tại và phát triển của chế độ XHCN Việt Nam sau sự sụp đổ của Liên Xô và một số nước XHCN Đông Âu là điều mà chủ nghĩa đế quốc không bao giờ muốn. Cho nên, chúng đang ra sức đẩy mạnh chiến lược “DBHB” và không loại trừ khả năng tiến hành BLLĐ đối với cách mạng nước ta.

Một trong những thách thức đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (Khóa IX) đã chỉ rõ: “Hoạt động “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch sẽ gia tăng; các thế lực phản động tiếp tục sử dụng chiêu bài dân chủ, nhân quyền để can thiệp vào nội bộ ta” và gần đây trong Chỉ thị 34 CT/TW của Ban Bí thư (ngày 1-4-2009) cũng nêu:

“Các thế lực thù địch ráo riết đẩy mạnh chiến lược “DBHB” thúc đẩy “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa” đối với nước ta ngày càng mạnh mẽ, tinh vi và xảo quyệt hơn. Trong đó, chúng coi “DBHB” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa là mũi đột phá, hòng làm tan rã niềm tin, đưa hệ tư tưởng tư sản thâm nhập vào cán bộ, đảng viên và nhân dân nhằm chuyển hóa, xóa bỏ chủ nghĩa xã hội”. Đây thật sự là một nguy cơ lớn đới với sự ổn định và phát triển của đất nước nói chung, tỉnh nhà nói riêng. Bởi vậy, chủ động phòng, chống “DBHB”, BLLĐ và nguy cơ “tự diễn biến” là vấn đề đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

2. Những đề xuất ngăn chặn những nguy cơ, thách thức

- Thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần, xây dựng đồng bộ cơ chế thị trường…

Công cuộc đổi mới toàn diện ở nước ta đã trải qua gần 3 thập niên, đã giành được những thắng lợi về kinh tế, chính trị, xã hội, đối ngoại, an ninh quốc phòng, tạo thế vững chắc để nước ta vững bước trên con đường xây dựng nền kinh tế thị trường dịnh hướng XHCN, vì hạnh phúc của nhân dân.

Trong thắng lợi to lớn có tính chiến lược đó phải kể đến tác động của chính sách cơ cấu kinh tế nhiều thành phần nói chung và quan điểm, chính sách đối với kinh tế tư nhân nói riêng, từ đó tạo nền tảng và căn cứ để đổi mới cơ chế quản lý kinh tế cho phù hợp với cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế.

Có thể nói, cho tới nay không còn một người nào, dù là bảo thủ nhất, còn nghi ngờ và phủ nhận vai trò của kinh tế tư nhân ở nước ta. Thực tiễn cho thấy việc chuyển nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung vốn mang nặng tính quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường là hoàn toàn cần thiết. Chính cơ chế thị trường đã góp phần quan trọng vào việc khai thác và phát huy được các tiềm năng sản xuất trong xã hội, làm bật dậy sức sáng tạo to lớn của hàng chục triệu người lao động, là nền tảng bảo đảm thực hiện quyền làm chủ về mặt kinh tế của người lao động, trên cơ sở đó, mở rộng và phát huy dân chủ trong tất cả các lĩnh vực khác của đời sống.

Và, để thể chế kinh tế thực sự là động lực để thúc đẩy quá trình thực hiện và mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trước hết cần sớm hoàn thiện cơ chế vận hành của 5 loại thị trường.

Việc hoàn thiện mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN và thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là hai mặt của một vấn đề. Đó là giải bài toán phát triển của Việt Nam chính là giải bài toán mô hình kinh tế thị trường Việt Nam. Trong 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới và đặc biệt từ Đại hội Đảng lần thứ IX, vấn đề hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định XHCN luôn luôn được đặt ra, trên thực tế cũng đã không ngừng được thể chế bằng hệ thống pháp luật. Đại hội Đảng lần thứ IX đã cụ thể hóa 5 loại thị trường ở nước ta và đặt ra yêu cầu hoàn thiện. Đó là: Hoàn

thiện và phát triển thị trường tài chính; Thị trường bất động sản; Xây dựng thị trường hàng hóa tương lai và phát triển mạng lưới thương mại hiện đại;) Hoàn thiện và phát triển thị trường lao động; và thị trường công nghệ.

- Tăng cường quốc phòng, an ninh.

Trong điều kiện hiện nay, tình hình thế giới, khu vực còn tiềm ẩn nhiều diễn biến phức tạp, khó lường. Cách mạng nước ta đang đứng trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch với các âm mưu, thủ đoạn hết sức thâm độc, tinh vi như “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, can thiệp từ bên ngoài kết hợp gây mất ổn định từ bên trong, lợi dụng, kích động vấn đề dân tộc, nhân quyền, tôn giáo nhằm chống phá ta trên các lĩnh vực, tạo dựng lực lượng chống đối nhằm thủ tiêu chế độ, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng. Để ứng phó với tình hình trên, Đảng và Nhà nước ta đã có quan điểm đúng đắn về xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân; chiến lược bảo vệ Tổ quốc có sự điều chỉnh, bổ sung kịp thời, kinh tế kết hợp chặt chẽ với quốc phòng, an ninh; công tác đối ngoại ngày càng được mở rộng, tạo điều kiện cho củng cố quốc phòng; chăm lo xây dựng quân đội, công an vững mạnh về mọi mặt.

Để tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN, chúng ta cần nhận thức và thực hiện tốt một số nội dung chủ yếu sau:

Một là, tăng cường tuyên truyền, giáo dục tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc, trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia, làm cho mọi người có đủ kiến thức quốc phòng, an ninh và hiểu rõ những thách thức lớn tác động trực tiếp đến nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới.

Hai là, phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc trong xây dựng nền quốc phòng, an ninh trong tình hình mới.

Ba là, xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có số lượng hợp lý với chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu cao sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống.

Bốn là, bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội và công an, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh.

- Mở rộng quan hệ đối ngoại.

Công cuộc đổi mới ở Việt Nam diễn ra trong bối cảnh quốc tế đã có nhiều thay đổi, đặc biệt là xu hướng toàn cầu hóa kinh tế đang được đẩy mạnh và quá trình chuyển sang nền kinh tế tri thức đang diễn ra nhanh chóng. Với tư duy đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương đi đôi với phát huy cao độ ý chí tự lực tự cường, động viên mọi nguồn lực bên trong, cần khai thác tốt những điều kiện thuận lợi mới từ bên ngoài, thực hiện đa phương hóa và đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, đẩy mạnh mở cửa và chủ động hội nhập quốc tế, coi đây là cách thức hợp hợp lý để tiếp cận nhanh và có hiệu quả vào các xu hướng phát triển quyết định tương lai đang diễn ra trên thế giới, thông qua đó lựa chọn một mô hình thích hợp để giải quyết các vấn đề phát triển đang đặt ra gay gắt cho một nước đang bị tụt hậu phát triển.

Trong thực tiễn đổi mới, ngay từ đầu Việt Nam đã lựa chọn chính sách phát triển trên đây. Nhờ vậy, Việt Nam đã từng bước phá vỡ thế bao vây cấm vận, xây dựng và củng cố niềm tin trong cộng đồng quốc tế ; nhanh chóng mở rộng quan hệ kinh tế, chính trị và ngoại giao với các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới cũng như với các tổ chức quốc tế và khu vực. Nhờ đó, uy tín và vị thế quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng cao trong những vấn đề hợp tác quốc tế và khu vực. Kết quả rõ nhất của điều đó là tạo lập được một môi trường hòa bình, ổn định cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, là mức độ tăng trưởng cao của hoạt động ngoại thương, của các dòng đầu tư và tài trợ phát triển nước ngoài vào Việt Nam trong những năm qua.

- Đổi mới chỉnh đốn Đảng, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân.

Đây là bài học truyền thống của Việt Nam, thể hiện đặc biệt rõ qua việc huy động sức mạnh của toàn dân tộc trong các cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc.

Một phần của tài liệu Câu hỏi và trả lời môn lịch sử đảng 12 câu – có liên hệ (Trang 71 - 76)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(98 trang)
w