MỞ RỘNG VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

Một phần của tài liệu Câu hỏi và trả lời môn lịch sử đảng 12 câu – có liên hệ (Trang 48 - 51)

Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa kinh tế - chính trị - an ninh quốc phòng; giữ vững nguyên tắc bảo vệ độc lập chủ quyền, an ninh chính trị, bình đẳng, cùng có lợi trong quan hệ với bên ngoài, đồng thời có đối sách linh hoạt, triệt để khai thác các yếu tố tích cực, hạn chế tác động tiêu cực của những yếu tố bất lợi để không ngừng đẩy mạnh kinh tế đối ngoại.

Khai thác khả nãng của các doanh nghiệp tham gia kinh tế đối ngoại, mở rộng quyền trực tiếp quan hệ với thị trường nước ngoài theo luật định, đồng thời tiếp tục đổi mới và tãng cường vai trò quản lý thống nhất của nhà nước bằng pháp luật, chính sách.

1- Chính sách thị trường.

Chính sách ngoại giao và kinh tế đối ngoại cần được điều chỉnh phù hợp với những biến động trong cục diện thế giới, nhằm výợt khỏi bao vây, cấm vận, không ngừng mở rộng quan hệ với các nước và tãng cường vị trí trên thị trường quốc tế. Khai thác thuận lợi do việc bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc và giải pháp chính trị về Campuchia để mở rộng thị trường, trước hết là thị trường khu vực.

Tích cực phát triển quan hệ kinh tế - thương mại với Trung Quốc. Ngoài việc mở rộng quan hệ với trung ương, cần quan tâm mở rộng quan hệ với các tỉnh, đặc biệt là ba tỉnh biên giới Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam. Quản lý tốt mậu dịch biên giới, chống buôn lậu gây thiệt hại cho cả hai nước.

Việc tãng cường quan hệ kinh tế với Lào phải coi trọng hiệu quả, đi liền với sự phối hợp chống buôn lậu qua biên giới. Chủ động nghiên cứu các hình thức quan hệ kinh tế thích hợp với tình hình mới ở Campuchia.

Đối với các nước ASEAN, tãng cường quan hệ hợp tác và phối hợp chính sách xuất khẩu trong khu vực để mở rộng thị trường. phấn đấu giảm dần thương mại qua trung gian, mở rộng quan hệ trực tiếp với các thị trường nước ngoài.

Coi trọng việc phát triển quan hệ với Ấn Độ, Ôxtrâylia và các nước trong khu vực có thiện chí với ta.

Các nước cộng hòa của Liên Xô trước đây và các nước Đông Âu vẫn là khu vực thị trường có quan hệ truyền thống và có nhiều tiềm nãng có thể tiếp tục khai thác theo cơ chế mới; chuyển sang giao dịch thương mại và hợp tác trực tiếp với từng nước và giữa các doanh nghiệp của hai bên.

Duy trì và mở rộng trong những lĩnh vực thích hợp quan hệ kinh tế với các nước tuy xa về địa lý nhýng có thiện chí với ta nhý các nước Bắc Âu, Trung Đông và châu Phi.

Để sớm khai thông và phát triển quan hệ với Tây Âu, Nhật, Mỹ và với các tổ chức tài chính quốc tế, cần tranh thủ mọi cơ hội xúc tiến các quan hệ về nhiều mặt, qua nhiều đường, nhiều hình thức, chú trọng tạo những khâu đột phá từ những nước có thiện cảm và có lợi ích trong quan hệ với nước ta.

2- Chính sách xuất nhập khẩu.

Để đạt được mục tiêu xuất khẩu 2,2 tỷ đô-la Mỹ năm 1992 và 12 - 15 tỷ trong 5 năm 1991 - 1995, chính sách xuất khẩu phải định hướng và khuyến khích, hỗ trợ mạnh mẽ hõn việc sản xuất và kinh doanh hàng xuất khẩu, đổi mới cơ cấu và nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa.

Chuyển cơ cấu sản xuất và xuất khẩu theo yêu cầu của thị trường thế giới. Nâng cao trình độ chế biến hàng nông sản xuất khẩu. Mở rộng diện nhận gia công xuất khẩu hàng công nghiệp sang các thị trường khác ngoài các nước thuộc Liên Xô trước đây và các nước Đông Âu. Nắm bắt và phát triển nhanh những mặt hàng có thị trường mà các nước công nghiệp phát triển muốn chuyển giao công nghệ nhý may mặc, dệt, điện tử dân dụng… Đẩy mạnh sản xuất các mặt hàng đang có thị trường tiêu thụ không hạn chế nhý dầu mỏ, tõ tằm, tôm…

Tiếp tục thu hút vốn và công nghệ nước ngoài theo luật đầu tý, mở khu chế xuất, cho các công ty xuyên quốc gia lập chi nhánh sản xuất hàng xuất khẩu ở nước ta. Các công ty quốc doanh phải nâng cao sức cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường hàng xuất khẩu chủ lực bằng phương thức kinh doanh. Khai thác tối đa nguồn lực của các thành phần kinh tế, nguồn vốn trong nhân dân; áp dụng các hình thức liên doanh giữa ngân hàng với các tổ chức sản xuất và xuất nhập khẩu quốc doanh, hợp tác xã và tý nhân, tạo thế liên hoàn đồng bộ giữa các khâu vốn, sản xuất, xuất nhập khẩu.

Hạn chế tối đa diện mặt hàng xuất khẩu quản lý bằng hạn ngạch; miễn thuế xuất khẩu đối với sản phẩm chế biến, sản phẩm mới, sản phẩm gặp sự cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế; kết hợp miễn thuế xuất khẩu với miễn hoặc giảm thuế doanh thu, lợi tức đối với những trường hợp cần hỗ trợ đặc biệt; có thuế suất hợp lý đối với xuất khẩu nguyên liệu; lập quỹ bảo trợ xuất khẩu; ngân hàng áp dụng nghiệp vụ thanh toán giúp người xuất khẩu thu hồi vốn nhanh.

Quản lý chặt chẽ hoạt động nhập khẩu, đáp ứng nhu cầu nhập khẩu vật tý, hàng hóa thiết yếu và đổi mới công nghệ cho nền kinh tế.

Đi đôi với việc sửa đổi cơ chế quản lý ngoại tệ, Nhà nước bảo đảm ngoại tệ cho một số công ty quốc doanh nhập khẩu một phần vật tý thiết yếu để đáp ứng một số nhu cầu và để đối phó với những biến động bất thường trên thị trường. Đối với các nhu cầu khác, Nhà nước tạo điều kiện hỗ trợ và dùng chính sách khuyến khích các ngành và cơ sở, bằng nhiều hình thức khác nhau (kể cả làm đại lý tiêu thụ cho nước ngoài) khai thác các nguồn vật tý trong và ngoài nước, tự giải quyết nhu cầu vật tý của mình

và đáp ứng nhu cầu của xã hội theo cơ chế kinh doanh.

Lập lại danh mục hàng hóa theo cách phân loại của thị trường quốc tế; quy định rõ những hàng cấm nhập, những hàng nhập khẩu phải quản lý bằng hạn ngạch và các biện pháp hành chính khác;

dùng thuế làm công cụ chính để điều tiết nhập khẩu. Thuế suất tùy thuộc vào mức độ khuyến khích hay hạn chế nhập khẩu, vào chênh lệch giá cả quốc tế với trong nước. Thực hiện chính sách bảo hộ ở mức hợp lý đối với sản xuất trong nước. Chính sách thuế đối với nguyên liệu nhập khẩu cần phân biệt loại nguyên liệu thiết yếu, nguyên liệu sản xuất hàng xuất khẩu và nguyên liệu sản xuất xa xỉ phẩm, tiêu dùng nội địa. Thuế nhập khẩu tãng dần theo trình độ chế biến của sản phẩm nhập khẩu (kể cả đối với máy móc thiết bị). Nâng tỷ trọng thu về thuế nhập khẩu trong tổng thu thuế lên mức hợp lý. Thay đổi quy chế ban hành thuế suất để có thể điều chỉnh kịp thời theo những biến động của thị trường.

Tãng cường công tác hải quan, phối hợp với các nước có chung biên giới để chống buôn lậu; áp dụng biện pháp truy thu thuế đối với hàng ngoại trốn thuế nhập khẩu lýu thông trong nội địa.

Chấn chỉnh hệ thống tổ chức quản lý và kinh doanh xuất nhập khẩu. Tập trung chức nãng quản lý nhà nước đối với các hoạt động xuất, nhập khẩu vào một đầu mối là Bộ Thương mại và du lịch. Bộ Thương mại và du lịch phải đổi mới phương thức quản lý, chấn chỉnh việc cấp hạn ngạch và giấy phép để nâng cao hiệu lức pháp chế nhýng không gây cản trở, phiền hà cho các hoạt động xuất, nhập khẩu.

Các đơn vị xuất nhập khẩu quốc doanh cần được sắp xếp lại theo chủ trương chung đối với khu vực kinh tế quốc doanh. Nhà nước tãng cường quản lý và kiểm soát vốn kinh doanh, định hướng kế hoạch và hợp đồng với bên ngoài. Ngãn chặn việc thành lập các công ty xuất, nhập khẩu một cách tùy tiện, không bảo đảm vốn và nghiệp vụ kinh doanh.

3- Chính sách thu hút vốn đầu tý trực tiếp của nước ngoài.

Để thực hiện mục tiêu thu hút khoảng 2,5 - 3,5 tỷ đô-la Mỹ đầu tý trực tiếp của nước ngoài trong năm 1991 - 1995, đi đôi với việc cải thiện tình hình trong nước, khai thông quan hệ chính trị - ngoại giao, cần tích cực tạo môi trường và điều kiện hấp dẫn đầu tý. Chú trọng hoàn chỉnh pháp chế và chính sách đầu tý, xây dựng tốt các dự án gọi vốn đầu tý, khẩn trương đào tạo cán bộ làm việc với các nhà đầu tý nước ngoài.

Trong chính sách cụ thể, cần bổ sung một số điểm:

- Cho nước ngoài đầu tý xây dựng cơ sở mới và đầu tý chiều sâu, cải tạo xí nghiệp quốc doanh, kể cả các cơ sở đang hoạt động có hiệu quả. Các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh được tham gia hợp tác đầu tý với nước ngoài dýới những hình thức và trong những lĩnh vực theo luật định. Khuyến khích người Việt cư trú ở nước ngoài đầu tý vào trong nước.

- Bổ sung chính sách thuế và các ýu đãi khác nhằm khuyến khích đầu tý vào miền trung, miền bắc và những vùng có nhiều khó khăn về điều kiện kinh tế, sinh hoạt.

- Trên nguyên tắc bảo đảm hiệu quả kinh tế - xã hội và lợi ích của đất nước, không hạn chế quy mô và loại tài nguyên mà nước ngoài muốn đầu tý khai thác. Mở rộng hợp lý thời hạn cho thuê đất và áp dụng chính sách đối với người thuê đất phù hợp với thông lệ quốc tế.

- Cho phép một số ngân hàng nước ngoài thành lập ngân hàng liên doanh với ngân hàng Việt Nam hoặc đặt chi nhánh tại Việt Nam.

- Triển khai thực hiện quy chế khu chế xuất ở thành phố Hồ Chí Minh, phát triển thêm ở một số nõi nhý Hải Phòng, Vũng Tàu, Quảng Ninh và một số tỉnh, thành phố khác.

- Chấn chỉnh các tổ chức dịch vụ đầu tý, bảo đảm hoạt động nghiêm chỉnh, tạo thuận lợi cho các nhà đầu tý. Khắc phục tình trạng gây khó khăn, phiền hà, đòi hối lộ đối với người nước ngoài. Hoàn chỉnh quy chế hoạt động của đại diện công ty nước ngoài ở nước ta và quy chế quản lý cán bộ, nhân viên làm việc trong các vãn phòng đại diện, các liên doanh với nước ngoài, bảo đảm bí mật quốc gia và an ninh chính trị, kinh tế.

4- Phát triển đa dạng các hình thức kinh tế đối ngoại khác.

Trong lĩnh vực hợp tác lao động, chuyên gia, cần kịp thời xử lý những vấn đề mới trong quan hệ với các nước thuộc liên bang Xô Viết trước đây và các nước Đông Âu; tích cực mở rộng quan hệ sang các nước khác, trước hết là các nước Trung Đông, Châu Phi.

Phát triển du lịch quốc tế, tập trung ở một số vùng trọng điểm. Mở rộng hợp tác với các tổ chức du lịch thế giới, đặc biệt là các nước trong khu vực. Tổ chức dịch vụ nhà ở và phục vụ sinh hoạt cho người nước ngoài kinh doanh thường trú ở nước ta.

Phát triển hàng hải, hàng không, býu điện quốc tế và các dịch vụ khác trong những lĩnh vực này.

Tổ chức lại và phát triển các đội tàu viễn dương.

Hình thành tổ chức và quy chế bảo đảm quản lý và khai thác có hiệu quả nguồn kiều hối, viện trợ của các tổ chức quốc tế và các tổ chức phi chính phủ.

Tãng cường sự chỉ đạo, phối hợp liên ngành trong hoạt động kinh tế đối ngoại. Xây dựng tổ chức và cơ chế quản lý, điều hành thanh toán quốc tế, vay nợ, trả nợ nước ngoài.

Một phần của tài liệu Câu hỏi và trả lời môn lịch sử đảng 12 câu – có liên hệ (Trang 48 - 51)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(98 trang)
w