PHÁT HUY MẠNH MẼ TIỀM NÃNG CỦA CÁC

Một phần của tài liệu Câu hỏi và trả lời môn lịch sử đảng 12 câu – có liên hệ (Trang 42 - 48)

1- Chỉnh đốn và nâng cao hiệu quả kinh tế quốc doanh.

- Tập trung củng cố và phát triển kinh tế quốc doanh trong những ngành và lĩnh vực then chốt, những doanh nghiệp trọng yếu. Trong một số lĩnh vực quan trọng khác có nhiều thành phần kinh tế tham gia, quốc doanh phải có vị trí cần thiết để góp phần bảo đảm vai trò điều tiết vĩ mô của Nhà nước. Việc xác định các xí nghiệp quốc doanh hiện có cần củng cố và phát triển cãn cứ vào những yêu cầu dýới đây: góp phần quan trọng bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế về vật tý, thiết bị, hàng hóa thiết yếu; đảm nhận các nhiệm vụ quan trọng mà các thành phần kinh tế khác không thay thế được; đảm nhận các yêu cầu đặc biệt có quan hệ đến quốc phòng, an ninh; kinh doanh có hiệu quả và đóng góp nhiều cho ngân sách; làm nòng cốt thúc đẩy đổi mới công nghệ; có quy mô tương đối lớn.

Những ngành, lĩnh vực nào mà các thành phần kinh tế khác có thể đầu tý kinh doanh có hiệu quả thì nên khuyến khích, hỗ trợ các thành phần kinh tế ấy phát triển. Theo hướng đó, cần soát xét các xí nghiệp quốc doanh hiện có trong tất cả các lĩnh vực, xác định cụ thể từng xí nghiệp cần duy trì hình thức quốc doanh. Tiến hành đãng ký lại các xí nghiệp quốc doanh; chỉ coi là xí nghiệp hợp pháp khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động; các cơ quan, tổ chức khác không được phép ra quyết định thành lập xí nghiệp.

- Đối với các xí nghiệp không cần giữ hình thức quốc doanh, trước hết là các xí nghiệp thuộc loại này đang thua lỗ kéo dài, cần kiên quyết xử lý dứt điểm trong năm 1992 bằng các hình thức thích hợp với điều kiện thực tế nhý cho thuê, bán, sáp nhập với các đơn vị khác hoặc giải thể. Trước mắt, tập trung giải quyết đối với khu vực thương nghiệp bán lẻ, dịch vụ, các đơn vị quốc doanh quận, huyện và các xí nghiệp thuộc các cơ quan hành chính, sự nghiệp, đoàn thể, lực lượng vũ trang.

Khi giải thể các xí nghiệp thua lỗ, phải truy cứu trách nhiệm về tài chính, trách nhiệm dân sự và hình sự (nếu có) của những người quản lí. Trong việc thanh lý tài sản của các đơn vị giải thể, số vốn Nhà nước thu lại được cần dành ýu tiên giải quyết việc làm và đời sống cho những người lao động ra khỏi biên chế nhà nước.

- Trên cơ sở sắp xếp lại xí nghiệp quốc doanh và giải quyết dứt điểm việc thanh toán công nợ, tài chính Nhà nước bảo đảm một phần vốn cho các xí nghiệp cần thiết phải duy trì và phát triển. Hoàn chỉnh các quy định về bảo toàn, phát triển vốn và tài sản mà xí nghiệp nhận của nhà nước.

Tín dụng Nhà nước dành ýu tiên cho các xí nghiệp có dự án đầu tý chiều sâu để đổi mới thiết bị và công nghệ. Thu hút nước ngoài đầu tý liên doanh trực tiếp vào các cơ sở quốc doanh hiện có để giải quyết nhu cầu cả về vốn, công nghệ và trình độ quản lý.

Tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh chế độ kế toán, thống kê, đồng thời tãng cường hệ thống thanh tra tài chính và quy chế thanh tra của Nhà nước đối với các doanh nghiệp. Thực hiện việc công bố kết quả hoạt động tài chính, trước hết đối với các xí nghiệp quốc doanh và các doanh nghiệp tý nhân lớn.

Áp dụng hình thức hội đồng quản trị đại diện cho các chủ sở hữu đối với các công ty cổ phần quốc doanh hoặc liên doanh; làm thử hình thức này đối với một số xí nghiệp quốc doanh 100% vốn nhà nước. Nghiên cứu sâu hình thức tổ chức bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của cơ sở đảng, chế độ thủ trưởng của giám đốc và vai trò làm chủ của người lao động trong xí nghiệp. Đặc biệt chú trọng việc đào tạo, bồi dýỡng các giám đốc xí nghiệp. Xây dựng quy chế về giám đốc xí nghiệp, vừa bảo đảm hoạt động của các giám đốc theo pháp luật, vừa bảo vệ các giám đốc trước pháp luật.

Trên nguyên tắc tuân thủ pháp luật, bảo toàn và phát triển vốn được nhà nước giao, thực hiện các nghĩa vụ do nhà nước quy định, các xí nghiệp quốc doanh phải được thật sự chủ động tổ chức sản xuất kinh doanh, giao dịch với khách hàng, tự chủ về tài chính, giá cả, tuyển chọn, sắp xếp lao động, trả

lương và cho thôi việc theo Luật lao động. Xóa bỏ sự can thiệp không đúng chức nãng của các cơ quan quản lý hành chính vào hoạt động của xí nghiệp; cơ quan hành chính cấp trên chấm dứt việc làm thay xí nghiệp trong việc giao dịch, ký kết hợp đồng, kể cả hợp đồng với các công ty nước ngoài. Chấm dứt việc bắt buộc xí nghiệp đóng góp ngoài quy định của Nhà nước. Các xí nghiệp phải hạch toán đúng và đủ các chi phí vật chất, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước và trách nhiệm với bên ngoài theo hợp đồng đã ký; trên cơ sở đó mà phân phối thu nhập trong nội bộ xí nghiệp. Sau khi trích các quỹ phát triển, sản xuất, quỹ phúc lợi xã hội, phần tiền lương được phân phối theo nguyên tắc tiền lương không výợt quá nãng suất lao động và hiệu quả công việc. Động lực quan trọng hàng đầu đối với hoạt động của xí nghiệp là trả công lao động theo nguyên tắc có làm có ãn, không làm không ãn, làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít. Mở rộng hình thức khoán trong xí nghiệp. Quy định bội số tối đa lương giám đốc so với lương bình quân của công nhân. Xóa bỏ bao cấp trong trả công lao động, đồng thời xây dựng quỹ bảo hiểm xã hội để trợ cấp đúng mục đích, đúng đối tượng.

Theo tinh thần trên, cần sử đổi ngay Quyết định 217 và 50 của Hội đồng Bộ trưởng, xây dựng Luật về công ty và xí nghiệp quốc doanh.

- Chuyển một số xí nghiệp quốc doanh có điều kiện thành công ty cổ phần và thành lập một số công ty quốc doanh cổ phần mới. Phải làm thí điểm, chỉ đạo chặt chẽ, rút kinh nghiệm chu đáo trước khi mở rộng trong phạm vi thích hợp.

- Sửa đổi các quy định về tổ chức liên hiệp xí nghiệp, tổng công ty phù hợp với cơ chế mới, bảo đảm nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi, không phân biệt quan hệ sở hữu của các doanh nghiệp thành viên. Trước mắt, giải quyết những liên hiệp xí nghiệp chỉ hoạt động nhý cấp hành chính trung gian.

Các doanh nghiệp được quyền mở rộng mạng lýới đại lý. Tãng cường hiệu lực của chế độ hợp đồng kinh tế, xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm. Sớm thành lập Tòa án kinh tế.

2- Tiếp tục đổi mới kinh tế tập thể, phát triển các hình thức hợp tác đa dạng trong nông thôn với hộ xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ, phát triển kinh tế hộ cá thể, tý nhân.

- Đổi mới hình thức tổ chức, nội dung kinh doanh và cơ chế quản lí của các hợp tác xã và tập đoàn sản xuất hiện có trong nông nghiệp theo hướng vừa bảo đảm cho hộ xã viên thật sự là đơn vị kinh tế tự chủ, vừa tãng cường vai trò thiết thực của ban quản trị trong quản lý, điều hành sản xuất, mở rộng ngành nghề, làm tốt những dịch vụ cần thiết, cùng chính quyền và các đoàn thể thực hiện các chính sách xã hội và xây dựng nông thôn mới.

Khuyến khích phát triển các hình thức kinh tế hợp tác mới đa dạng trong nông thôn trên nguyên tắc thật sự tự nguyện và cùng có lợi, xuất phát từ nhu cầu của các hộ nông dân. Mọi tổ chức sản xuất kinh doanh do các hộ nông dân góp vốn, góp sức, được quản lý theo nguyên tắc dân chủ, đãng ký và

hoạt động theo pháp luật, không phân biệt quy mô tổ chức đều là hợp tác xã. Các hợp tác xã có tý cách pháp nhân, tự chịu trách nhiệm về vốn và kết quả kinh doanh, không phân biệt địa giới hành chính và không có cấp trên trực tiếp.

Trong nghề cá, lấy tầu, thuyền làm đơn vị sản xuất cơ bản để tổ chức quan hệ hợp tác từng tầu, thuyền, giữa các tầu, thuyền và giữa người đánh bắt với các cơ sở dịch vụ.

Trên cơ sở tổng kết hợp tác hóa và việc thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (khóa VI), Bộ Chính trị ra chỉ thị đổi mới tổ chức quản lý hợp tác xã. Xúc tiến việc xây dựng và ban hành luật về hợp tác xã.

Các đơn vị kinh tế quốc doanh trong các lĩnh vực sản xuất, chế biến, tiêu thủ nông, lâm, hải sản cũng nhý trong các khâu cung ứng vật tý, dịch vụ kỹ thuật cần mở rộng các hình thức liên doanh, liên kết, xây dựng quan hệ hợp đồng lâu dài, tin cậy với các hộ nông dân và các hợp tác xã, thúc đẩy và hỗ trợ nhau cùng phát triển.

- Phát triển kinh tế hộ cá thể, tý nhân trong nông nghiệp là một chính sách nhất quán, lâu dài trong thời kỳ quá độ. Nhà nước có chính sách khuyến khích và hướng dẫn họ bỏ vốn kinh doanh trồng trọt, chãn nuôi, làm dịch vụ, phát triển tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp nông thôn…, làm giàu đúng pháp luật, liên kết với kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể dýới nhiều hình thức và làm tròn nghĩa vụ đối với Nhà nước.

- Để tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho kinh tế tập thể và hộ xã viên, kinh tế hộ cá thể và tý nhân phát triển sản xuất kinh doanh, xây dựng nông thôn mới, cần tập trung giải quyết một số vấn đề dýới đây:

Một là, trong năm 1992, phải hoàn chỉnh việc thể chế hóa chính sách ruộng đất, bổ sung, sửa đổi Luật đất đai và các vãn bản dýới luật nhằm bảo đảm quyền quản lý thống nhất của Nhà nước đối với toàn bộ đất đai, đồng thời xác định rõ trách nhiệm, quyền hạn của những người sử dụng đất, đặc biệt là của nông dân đối với ruộng đất được Nhà nước giao cho sử dụng ổn định, lâu dài. Người được giao quyền sử dụng đất canh tác không được tự ý chuyển thành đất không canh tác và có trách nhiệm bảo vệ độ mầu mỡ của đất. Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, thừa kế quyền sử dụng ruộng đất phải được pháp luật quy định cụ thể theo hướng khuyến khích nông dân an tâm đầu tý kinh doanh, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tạo điều kiện từng bước tích tụ ruộng đất trong giới hạn hợp lý để phát triển nông nghiệp hàng hóa, đi đôi với mở rộng phân công và phân bố lao động gắn với quá trình công nghiệp hóa. Quy định rõ các điều kiện cho phép chuyển nhượng quyền sử dụng ruộng đất, ngãn ngừa tình trạng người sống bằng nghề nông không còn ruộng đất, người mua quyền sử dụng không phải để sản xuất mà để buôn bán ruộng đất, phát canh thu tô. Mức tập trung ruộng đất vào một hộ cũng phải quy định giới hạn tối đa tùy theo vùng và loại đất.

Chuẩn bị chu đáo và thực hiện dứt điểm chủ trương Nhà nước giao đất cho hộ nông dân và cấp giấy chứng nhận. Việc giao đất phải phù hợp với đặc điểm từng vùng, từng loại đất theo nguyên tắc công khai, dân chủ, có lý, có tình, bảo đảm công bằng xã hội và đoàn kết nông thôn, bảo đảm mọi người sống bằng nghề nông đều có đất để canh tác. Xử lý nghiêm khắc mọi hành vi lợi dụng chức quyền để bao chiếm đất đai. Diện tích đất đã giao cho nông, lâm trường và các đơn vị khác, nay cần kiểm tra lại việc sử dụng; đối với phần đất chưa sử dụng, hoặc sử dụng kém hiệu quả, Nhà nước thu lại để giao cho hộ nông dân sử dụng. Đất nông nghiệp chuyển sang dùng vào mục đích phi nông nghiệp phải được xét duyệt hết sức chặt chẽ, gắn với quy hoạch, kế hoạch xây dựng kết cấu hạ tầng, khu công nghiệp và khu dân cư.

Đi đôi với chính sách ruộng rất, Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu vốn, tài sản và các tý liệu sản xuất khác của hộ nông dân, quyền tự do kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm, quyền lựa chọn các hình thức hợp tác và rút ra khỏi hợp tác xã theo điều lệ, quyền di chuyển chỗ ở vài tài sản đến lập nghiệp ở nõi mới theo quy định của pháp luật.

Hai là, chính sách tài chính - tín dụng phải thật sự khuyến khích và hỗ trọ kinh tế hợp tác và kinh tế hộ nông dân phát triển.

Mọi loại đất sử dụng đều phải nộp thuế, trong đó đất sản xuất nông, lâm, ngý nghiệp chịu thuế nhẹ hõn đất dùng vào mục đích khác. Áp dụng chính sách miễn, giảm thuế có sức khuyến khích mạnh mẽ các hộ nông dân và các đơn vị thuộc mọi thành phần kinh tế, kể cả công ty và tý nhân nước ngoài đầu tý vốn khai hoang đất trống, đối núi trọc, mặt nước. Các hộ kinh doanh công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn chịu thuế nhẹ hõn ở thành thị và được miễn thuế ở các vùng xa xôi hẻo lánh.

Mở rộng mạng lýới tín dụng quốc doanh và tập thể ở nông thôn, tạo điều kiện thuận tiện cho nông dân vay vốn để sản xuất kinh doanh. Có cơ chế bảo đảm hoạt động an toàn cho các tổ chức tín dụng tập thể và các hình thức liên doanh, hùn vốn đầu tý ở nông thôn. Dành ýu tiên thích đáng nguồn vốn viện trợ và vốn vay của nước ngoài cho các chương trình phát triển nông thôn, và hỗ trợ trực tiếp cho các hộ nông dân, nhất là các hộ nghèo.

Ba là, tổ chức nghiên cứu thị trường tiêu thụ nông sản ở trong và ngoài nước, tìm thêm thị trường mới. Thông qua các hợp đồng tiêu thụ nông sản, giúp đỡ và tạo điều kiện để các hộ nông dân tiếp cận với thị trường. Khuyến khích đầu tý chế biến nông sản; mở rộng dịch vụ bán vật tý, hàng hóa và mua sản phẩm trực tiếp đến hộ nông dân; áp dụng hình thức ứng trước vật tý, tiền vốn cho hộ nông dân để mua sản phẩm; loại trừ tình trạng các tổ chức trong khu vực nhà nước và các thành phần kinh tế khác đầu cơ, ép giá đối với nông dân.

Xây dựng quỹ bảo hiểm sản xuất nông nghiệp.

Bốn là, đẩy mạnh công tác khuyến nông, phát triển mạng lýới, chuyển giao kỹ thuật đến hộ nông

dân bằng nhiều hình thức, chú trọng đào tạo kỹ thuật viên, dạy nghề, tổ chức huấn luyện, làm mẫu cho các hộ nông dân.

Năm là, làm trong sạch tổ chức đảng và chính quyền xã, nâng cao nãng lực lãnh đạo của đảng, nãng lực quản lý của chính quyền ở xã, tạo môi trường chính trị, xã hội nông thôn ổn định, lành mạnh để nông dân yên tâm phát triển sản xuất kinh doanh.

3- Phát huy tiềm nãng của kinh tế tập thể, cá thể, tý nhân ở thành thị.

- Bổ sung và sửa đổi các thể chế nhằm bảo đảm cho kinh tế tập thể, cá thể và tý nhân được phát triển không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những lĩnh vực mà pháp luật không cấm;

được tự lựa chọn hình thức kinh doanh, kể cả liên doanh với nước ngoài theo những điều kiện do luật định. Tãng cường pháp chế kinh doanh, tạo môi trường ổn định và an toàn cho mọi người yên tâm đầu tý kinh doanh. Xóa bỏ những cấm đoán và ràng buộc vô lý, những thủ tục phiền hà gây khó khăn cho việc phát triển sản xuất kinh doanh của nhân dân.

- Bộ máy quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương phải thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với tất cả các thành phần kinh tế, xóa bỏ sự phân biệt kinh tế trung ương, kinh tế địa phương, khắc phục tình trạng các bộ quản lý ngành chỉ quan tâm quản lý các xí nghiệp quốc doanh trung ương.

Cùng với việc sử dụng các công cụ điều tiết vĩ mô, các cơ quan nhà nước cần quan tâm tổ chức tốt thông tin kinh tế, hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong việc tiếp thị (marketing). Các diễn đàn đầu tý, dịch vụ đầu tý phải chú ý đến người đầu tý trong nước.

Tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh pháp chế về đãng ký kinh doanh, đãng ký nhãn hiệu, đãng ký tài khoản tại ngân hàng, về chế độ kế toán, thống kê, về nộp thuế. Quản lý chặt chẽ theo pháp luật những người buôn bán, nhất là buôn bán hàng ngoại. Các cơ quan nhà nước tãng cường tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật kinh doanh đi đôi với phát động dý luận xã hội đấu tranh mạnh mẽ chống các hành vi trái pháp luật, đặc biệt là kinh doanh không đãng ký hoặc trái với đãng ký, buôn lâu, trốn thuế, làm hàng giả.

- Tổng kết tình hình hoạt động và biến đổi của các hợp tác xã trong các ngành nghề ở thành thị.

Củng cố và phát triển kinh tế tập thể ở thành thị theo nguyên tắc tự nguyện dýới nhiều hình thức và quy mô, phù hợp với trình độ công nghệ, khả nãng quản lý và với đặc điểm của từng ngành nghề. Các hợp tác xã phải đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động trên cơ sở phân định rõ sở hữu tập thể và sở hữu cá nhân, khuyến khích xã viên góp nhiều vốn vào hợp tác xã. Phần vốn tích lũy từ lợi nhuận nên chuyển thành cổ phần của xã viên.

- Hình thành tổ chức kinh tế - xã hội của các doanh nghiệp tập thể, cá thể và tý nhân. Tổ chức này mang tính chất phi chính phủ, do các doanh nghiệp, các hiệp hội hoặc tổ chức nghề nghiệp tự

Một phần của tài liệu Câu hỏi và trả lời môn lịch sử đảng 12 câu – có liên hệ (Trang 42 - 48)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(98 trang)
w