Vận dụng và liên hệ

Một phần của tài liệu Câu hỏi và trả lời môn lịch sử đảng 12 câu – có liên hệ (Trang 78 - 81)

V- CẢI CÁCH HỆ THỐNG TỔ CHỨC VÀ LÀM TRONG SẠCH BỘ MÁY NHÀ NƯỚC, NÂNG CAO HIỆU LỰC CỦA PHÁP LUẬT

2. Vận dụng và liên hệ

- Kiên trì các mục tiêu CNXH để tạo thực lực trong bảo vệ chủ quyền Tổ quốc.

Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Đảng đã xác định cả nước chuyển sang giai đoạn mới. Việc chuyển giai đoạn cách mạng có tầm quan trọng đặc biệt. Nhưng việc làm đó không đơn giản. Mỗi nước có cách giải quyết riêng, không có một khuôn mẫu định trước. Tất cả tuỳ thuộc vào tương quan lực lượng giữa cách mạng và các thế lực cản trở. Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin, dựa vào thực tiễn cách mạng nước ta, Đảng nhận định: "Trong thời đại ngày nay, khi độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội không thể tách rời nhau, và ở nước ta, khi giai cấp công nhân giữ vai trò lãnh đạo cách mạng thì thắng lợi của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng là sự bắt đầu của cách mạng xã hội chủ nghĩa, sự bắt đầu của thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, sự bắt đầu của thời kỳ thực hiện nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản".

Tất nhiên, việc chuyển cách mạng sang giai đoạn mới và việc xây dựng chủ nghĩa xã hội với quy mô lớn không đồng nghĩa với nhau. Những nǎm gần đây, tình hình quốc tế chuyển biến rất phức tạp. Trước sau như một, Đảng ta và nhân dân ta kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa và nắm vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong sự nghiệp đổi mới. Đại hội lần thứ VII của Đảng nêu quyết tâm: "Toàn Đảng, toàn dân tiếp tục nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội". Bởi vì: "Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc".

- Kiên quyết bảo vệ chủ quyền Tổ quốc để giữ vững các thành tựu xây dựng đất nước.

Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, với ý chí "Không có gì quý hơn độc lập, tự do," "Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ," dân tộc ta đã bao lần đứng lên cầm vũ khí chiến đấu bảo vệ độc lập tự do, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc với biết bao hy sinh xương máu. Cũng chính vì thế mà dân tộc ta thiết tha yêu chuộng hòa bình, mong muốn được sống trong hòa bình để xây dựng đất nước, mưu cầu cuộc sống ấm no hạnh phúc.

Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực diễn biến phức tạp hiện nay, các thế lực thù địch luôn âm mưu đe dọa xâm phạm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, chống phá sự phát triển của đất nước ta. Vì vậy, hơn bao giờ hết, đòi hỏi đất nước ta phải phát triển nhanh, bền vững, nâng cao sức mạnh tổng hợp, nội lực của đất nước về mọi mặt; đồng thời phải luôn nêu cao cảnh giác, kiên quyết bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc trong bất cứ hoàn cảnh nào. Đây là nghĩa vụ thiêng liêng và cao cả của chúng ta hôm nay trước tổ tiên và các thế hệ cha

anh đi trước, như lời Bác Hồ dạy: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước” và trước các thế hệ con cháu muôn đời sau.

Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang từng nhấn mạnh: “Dựng nước phải đi đôi với giữ nước. Nỗ lực phát triển đất nước, đồng thời kiên quyết bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc để đất nước Việt Nam tươi đẹp, dân tộc Việt Nam nhân nghĩa, văn hiến của chúng ta mãi mãi trường tồn, vẻ vang cùng bạn bè năm châu”.

Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc là nhiệm vụ thường xuyên, hằng ngày, hằng giờ không được phép sao nhãng, lơ là, nhưng cũng là cuộc đấu tranh lâu dài, kiên trì, bền bỉ với những khó khăn, thử thách to lớn. Đây là sự nghiệp của toàn dân, của mọi người Việt Nam, nhưng Đảng và Nhà nước ta, những người lãnh đạo và quản lý đất nước, có vai trò và trách nhiệm to lớn.

- Không ngừng điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện mô hình và bước đi của CNXH cho phù hợp với bối cảnh hiện nay.

Trong nhiều thập kỷ trước đổi mới, cũng giống như ở các nước XHCN khác, Việt Nam thực hiện công cuộc xây dựng và phát triển đất nước theo mô hình XHCN được quan niệm lúc bấy giờ.

Theo đó, chế độ sở hữu toàn dân và tập thể về tư liệu sản xuất và cơ chế kế hoạch hóa tập trung đóng vai trò là những yếu tố chủ đạo của mô hình phát triển.

Tuy nhiên, sau nhiều năm vận động trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, nhiều vấn đề mấu chốt và thiết yếu nhất của cuộc sống nhân dân (ăn, mặc, ở) vẫn chưa được giải quyết đầy đủ, tình trạng mất cân đối trong nền kinh tế ngày càng trầm trọng; nhiệt tình lao động và năng lực sáng tạo của nhân dân, tài nguyên và các nguồn lực chưa được khai thác, phát huy đầy đủ, thậm chí bị xói mòn.

Nhận thức được sự thay đổi của tình hình và yêu cầu gay gắt phải tạo một bước ngoặt trong tiến trình phát triển đất nước, Đảng ta đã tiến hành đổi mới và không ngừng điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện mô hình và bước đi của CNXH.

Đại hội Đảng lần thứ VI tuyên bố tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện và triệt để. Chương trình phát triển đất nước được thông qua tại Đại hội này có nội dung đặc biệt quan trọng là chuyển nền kinh tế sang cơ chế thị trường - mở cửa theo định hướng XHCN. Để thực hiện được bước chuyển ấy, khâu đầu tiên có ý nghĩa quyết định là phải đổi mới tư duy phát triển. Chính điều đó xác định giá trị lịch sử của Đại hội VI : Đại hội của Đổi mới tư duy.

Đến Đại hội VII (tháng 6-1991) thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong đó chỉ rõ: xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội do nhân dân lao động làm chủ; có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc;

con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân; các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; có mối quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới.

Đại hội VIII của Đảng (tháng 6-1996) khẳng định nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tiếp tục làm rõ hơn định hướng xã hội chủ nghĩa trong việc xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần; tiếp tục khẳng định xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, mang bản chất giai cấp công nhân, có tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc;

tiếp tục khẳng định phát triển giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu, là khâu đột phá trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Đại hội IX (2001) tiếp tục nhìn nhận những khó khăn, phức tạp của quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, cho nên tất yếu phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài, với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ; chỉ ra nội dung chủ yếu của đấu tranh giai cấp ở nước ta hiện nay: đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc, chống nghèo nàn, lạc hậu, khắc phục tình

trạng nước nghèo, chậm phát triển; thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, làm cho nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh.

Đại hội X của Đảng (4-2006) trên cơ sở tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới, đã khẳng định công cuộc đổi mới đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử.

Văn kiện Đại hội X đã khái quát 8 đặc trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng; 8 phương hướng cơ bản để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đại hội X và các nghị quyết Trung ương khóa X đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình phát triển, hoàn thiện đường lối đổi mới của Đảng, đặc biệt Hội nghị Trung ương 6 khóa X đã ra Nghị quyết về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Đại hội XI (tháng 01-2011) đã bổ sung, phát triển Cương lĩnh, làm rõ thêm 8 đặc trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng, 8 phương hướng cơ bản và 8 mối quan hệ lớn cần đặc biệt chú trọng nắm vững. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đánh dấu một bước tiến quan trọng trong đường lối đổi mới của Đảng, trong nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Các Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã thảo luận, ban hành nhiều nghị quyết, kết luận quan trọng về đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế (Hội nghị Trung ương 3); về một số vấn đề cấp bách trong xây dựng Đảng hiện nay (Hội nghị Trung ương 4); một số vấn đề về tiền lương, bảo hiểm xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công và định hướng cải cách đến năm 2020 (Hội nghị Trung ương 5); về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước (Hội nghị Trung ương 6); về xây dựng và phát triển nền văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước bền vững (Hội nghị Trung ương 9);… Các nghị quyết, kết luận của Trung ương khóa XI nêu trên là bước phát triển mới về nhận thức trên cơ sở tổng kết thực tiễn thực hiện đường lối đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Câu 15. Đặc điểm mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (1986 – 2011)? Mô hình và bước đi của CNXH ở nước ta hiện nay cần phải tiếp tục điểu chỉnh và bổ sinh như thế nào?

Một phần của tài liệu Câu hỏi và trả lời môn lịch sử đảng 12 câu – có liên hệ (Trang 78 - 81)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(98 trang)
w