Những bài học kinh nghiệm chủ yếu

Một phần của tài liệu Câu hỏi và trả lời môn lịch sử đảng 12 câu – có liên hệ (Trang 65 - 71)

V- CẢI CÁCH HỆ THỐNG TỔ CHỨC VÀ LÀM TRONG SẠCH BỘ MÁY NHÀ NƯỚC, NÂNG CAO HIỆU LỰC CỦA PHÁP LUẬT

1. Những bài học kinh nghiệm chủ yếu

- Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Vào những năm đầu của thế kỷ XX, nước ta đứng trước cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước và giải phóng dân tộc. Chính trong điều kiện đó, Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh đã ra đi tìm đường cứu nước. Sau khi bắt gặp chủ nghĩa Mác - Lênin, Người tìm thấy cơ sở lý luận chắc chắn cho con đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Đó là con đường cách mạng vô sản. Chỉ có chủ nghĩa xã hội - chủ nghĩa cộng sản mới triệt để giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người khỏi ách áp bức bóc lột, đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, đem lại vị trí làm chủ chân chính cho người lao động. Chủ nghĩa xã hội xóa bỏ triệt để chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, là nguồn gốc sinh ra tình trạng người bóc lột người, xác lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, cơ sở kinh tế đảm bảo cho nhân dân lao động thoát khỏi đói nghèo, hướng tới cuộc sống ấm no, hạnh phúc, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, tạo điều kiện giải phóng và phát triển con người toàn diện. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở đảm bảo vững chắc cho độc lập dân tộc.

- Coi trọng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong thực hiện các mục tiêu cách mạng.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi đã để lại nhiều bài học lịch sử vô giá cho cách mạng Việt Nam trong tiến trình phát triển. Trong đó bài học về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là bài học có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc.

Với chủ trương, chính sách đúng đắn phù hợp với quyền lợi và nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân, ngay trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng và được bổ sung, hoàn thiện xuyên suốt trong quá trình chuẩn bị để tập hợp lực lượng cho Cách mạng Tháng Tám, thể hiện rõ nét nhất là quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ tám (tháng 5-1941).

Ngày 25-10-1941, Mặt trận Việt Minh công bố Tuyên ngôn, Chương trình và Điều lệ nêu cao ngọn cờ đại đoàn kết dân tộc. Tuyên ngôn của Mặt trận Việt Minh “chủ trương liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước, không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, trai gái, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị, đặng cùng nhau mưu cuộc dân tộc giải phóng và sinh tồn”; đồng thời khẳng định: “Coi quyền lợi dân tộc cao hơn hết thảy, Việt Minh sẵn sàng giơ tay đón tiếp những cá nhân hay đoàn thể, không cứ theo chủ nghĩa quốc tế hay quốc gia, miễn thành thực muốn đánh đuổi Nhật, Pháp để dựng lên một nước Việt Nam tự do và độc lập”. Cùng với chủ trương đoàn kết, tập trung nhiệm vụ giải phóng dân tộc, phù hợp với khát vọng của toàn thể dân tộc, đi đôi với việc chăm lo củng cố khối liên minh công nông, Đảng ta rất coi trọng việc đoàn kết, tập hợp các lực lượng khác: thanh niên, phụ nữ, học sinh, trí thức, tiểu thương, tư sản, địa chủ…, kịp thời đưa ra hình thức tổ chức thích hợp, đa dạng nhằm tập hợp đông đảo lực lượng nhân dân. Nhận thức đúng và đầy đủ về vị trí của các giai cấp và các

tầng lớp trong quá trình xây dựng Mặt trận Việt Minh, từ cuối năm 1941 đến năm 1942, các hội Công nhân cứu quốc, Nông dân cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Quân nhân cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Tự vệ cứu quốc... đã được thành lập. Các tổ chức phản đế đều được chuyển thành các tổ chức cứu quốc.

Mặt trận Việt Minh phát triển mạnh mẽ ở nhiều vùng nông thôn và thị xã, không những có cơ sở rộng khắp ở trong nước mà còn có cơ sở trong Việt kiều ở nước ngoài.

- Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu đảm bảo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta đã vượt qua một chặng đường đấu tranh cách mạng cực kỳ khó khăn, gian khổ nhưng đã giành được những thắng lợi rất vẻ vang trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ:

Một là, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và việc thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã mở ra một kỷ nguyên mới: Kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Hai là, thắng lợi của các cuộc kháng chiến oanh liệt để giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Những thắng lợi to lớn có ý nghĩa chiến lược của cách mạng Việt Nam giành được trong hơn 7 thập kỷ qua bắt nguồn từ nhiều nhân tố, trong đó nhân tố hàng đầu quyết định là sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng ta- Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện - một Đảng cách mạng thực sự vì nước, vì dân, ngoài lợi ích đó Đảng không có lợi ích nào khác.

Giành độc lập cho dân tộc, tự do hạnh phúc cho nhân dân là mục tiêu lý tưởng của Đảng. Vì vậy, vượt lên mọi thách thức, trong phong ba bão táp, Đảng ta vẫn kiên định vững vàng không xa rời mục tiêu lý tưởng, không run sợ trước kẻ thù, không nhụt chí trước những khó khăn chồng chất, không hạ thấp vị trí tiên phong chiến đấu và trách nhiệm của người lãnh đạo, người tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng, một lòng một dạ phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Đảng có đường lối cách mạng đúng đắn và sáng tạo của Đảng. Đảng lãnh đạo trước hết và chủ yếu bằng cương lĩnh, đường lối, bằng chủ trương, chính sách của Đảng. Đường lối chính trị đúng là cơ sở để đoàn kết thống nhất ý chí và hành động của toàn Đảng, toàn dân, tạo nên sức mạnh của Đảng và của cách mạng.

Đường lối cách mạng của Đảng có vai trò to lớn trong việc thống nhất về chính trị, tư tưởng và tổ chức, củng cố niềm tin vào Đảng, ngăn chặn và đẩy lùi những khuynh hướng sai lầm về chính trị và tư tưởng làm cho Đảng ngày càng vững mạnh.

Sở dĩ Đảng ta có đường lối chính trị đúng đắn vì: Đảng có một nền tảng lý luận vững chắc, một lý luận tiên phong dẫn đường, đó là chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã nắm vững, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn của cách mạng Việt Nam để đề ra đường lối đúng đắn phù hợp với sự phát triển của lịch sử, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân.

- Sáng tạo trong phương pháp cách mạng để đạt mục tiêu trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.

Phương pháp cách mạng là một phạm trù lý luận chính trị chỉ chung tất cả những hình thức hoạt động, những cách thức tiến hành cách mạng mà chính đảng của giai cấp vô sản sử dụng để đưa đông đảo quần chúng tham gia tích cực vào các phong trào cách mạng nhằm đánh đổ chế độ cũ, xây dựng chế độ mới.

Quán triệt quan điểm cách mạng là sự nghiệp của quần chúng và quan điểm cách mạng bạo lực của chủ nghĩa Mác – Lênin và xác định rõ đặc điểm chính trị - xã hội của nước ta là một nước thuộc địa, nửa phong kiến - ở đây bọn đế quốc thi hành chế độ thống trị hết sức dã man, với một bộ máy bạo lực phản động để thẳng tay đàn áp phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định phương pháp cách mạng dân tộc dân chủ ở nước ta là con đường cách

mạng bạo lực. Chỉ bằng sức mạnh bạo lực cách mạng của quần chúng mới đánh đổ được bộ máy bạo lực phản cách mạng của đế quốc và các thế lực tay sai. Trải qua ba cao trào cách mạng ngày càng phát triển rộng lớn bằng những lực lượng cơ bản và những hình thức đấu tranh cơ bản của phương pháp cách mạng bạo lực quần chúng Đảng ta đã lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám nǎm 1945 thành công.

Trong hai cuộc kháng chiến lâu dài, đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Đảng ta vẫn sử dụng phương pháp cách mạng bạo lực, kết hợp chặt chẽ hai lực lượng và hai hình thức đấu tranh cơ bản là chính trị và quân sự.

Bạo lực của CMT8 được sử dụng một cách sáng tạo ở chỗ: kết hợp chặt chẽ lực lượng chính trị với lực lương vũ trang, kết hợp nổi dậy của quần chúng với tiến công của lực lượng vũ trang cách mạng ở cả nông thôn lẫn thành thị, trong đó đòn quyết định là các cuộc nổi dậy ở Hà Nội, Huế, và Sài Gòn: kết hợp chặt chẽ đấu tranh chính trị với đấu tranh kinh tế và chính trị, hợp pháp, nửa hợp pháp và không hợp pháp của quần chúng, từ thấp đến cao, từ một vài địa phương lan ra cả nước, từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa, dần dần làm biến đổi lực lượng so sánh giữa ta và địch, tạo ra ưu thế áp đảo, đập tan bộ máy nhà nước của giai cấp thống trị.

Sự sáng tạo về phương pháp cách mạng cũng biểu hiện trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, đó là kết hợp về chính trị và quân sự đánh bại các hành động chiến tranh của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ trên cả nước ta. Đặc biệt, nhờ kết hợp chặt chẽ ba mặt đấu tranh chính trị, quân sự và ngoại giao trong suốt quá trình cách mạng đã buộc đế quốc Mỹ ngồi vào bàn đàm phán thương lượng tìm giải pháp kết thúc chiến tranh, rút quân về nước theo Hiệp định Pari đầu nǎm 1973.

2. Liên hệ vận dụng

- Luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Kể từ khi ra đời, Đảng ta luôn khẳng định độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng và nhân dân ta; đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam.

Quá trình tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ đã chứng tỏ con đường xã hội chủ nghĩa là sự lựa chọn của Đảng và cũng chính là sự lựa chọn của nhân dân.

Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt và Điều lệ vắn tắt - Cương lĩnh đầu tiên của Đảng chỉ rõ: Cách mạng Việt Nam phải trải qua hai giai đoạn. Giai đoạn đầu là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng” (tức là cách mạng dân tộc dân chủ), thực hiện mục tiêu “Độc lập dân tộc và người cày có ruộng”. Giai đoạn tiếp theo là: tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, đưa đất nước từng bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Hai giai đoạn cách mạng này có quan hệ biện chứng với nhau.

Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết phải giành được độc lập dân tộc và có đi lên chủ nghĩa xã hội mới giữ vững được độc lập dân tộc và xây dựng được cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Đảng ta trở thành đảng cầm quyền.

Năm 1954, hoàn thành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, giải phóng miền Bắc, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Đại thắng Mùa Xuân năm 1975, đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Năm 1986, trong bối cảnh cực kỳ khó khăn do chủ nghĩa xã hội lâm vào khủng hoảng, hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới đứng trước nguy cơ tan rã và khủng hoảng kinh tế - xã hội trong nước kéo dài, Đảng ta đã khởi xướng công cuộc đổi mới, tạo một bước ngoặt mang ý nghĩa cách mạng cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhờ công cuộc đổi mới gần 30 năm qua, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử, làm thay đổi căn bản bộ mặt đất nước, tạo ra thế và lực mới cho đất nước, nâng cao vị thế nước ta trên trường quốc tế.

Có thể khẳng định rằng, các sự kiện trong những năm 1930, 1945, 1954, 1975, 1986 đã trở thành những cột mốc lịch sử quan trọng cho sự lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa, tạo thành sợi dây lôgíc - lịch sử của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

- Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng để Đảng Cộng sản Việt Nam luôn ngang tầm với nhiệm vụ thời kỳ mới.

Sau tám tháng thành lập Đảng, ngày 14-10-1930, Hội nghị lần thứ nhất Ban chấp hành Trung ương khai mạc tại Hương Cảng (Trung Quốc) đã thông qua nhiều văn kiện quan trọng của Đảng, trong đó có việc quyết định thành lập Bộ Tổ chức kiêm giao thông - tiền thân của Ban Tổ chức Trung ương Đảng ngày nay. Việc thành lập Bộ Tổ chức kiêm giao thông ngay sau khi thành lập Đảng khẳng định vai trò quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sự nghiệp cách mạng của Đảng.

Thắng lợi của cách mạng tháng Tám, của cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, cứu nước là thắng lợi của đường lối chính trị, quân sự, ngoại giao đúng đắn và cũng là thắng lợi trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng của Đảng ta.

Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đất nước theo tinh thần Nghị quyết Đại hội VI của Đảng đến nay, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư các khóa đã ban hành không ít nghị quyết, chỉ thị, kết luận về công tác xây dựng Đảng và tiến hành vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Gần đây nhất, tháng 1/2012, Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) đã ban hành Nghị quyết về

"Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay".

Trên cơ sở triển khai, thực hiện một cách nghiêm túc, triệt để các chỉ thị, nghị quyết đã giúp các cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn về tầm quan trọng của công tác xây dựng Đảng, thấy rõ tính cấp bách và sự cần thiết phải tiếp tục đổi mới và chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh. Đặc biệt, qua hơn 2 năm triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI), nhất là qua kiểm điểm tự phê bình và phê bình tập thể và cá nhân ở các cấp đã góp phần ngăn chặn tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong Đảng, có tác dụng cảnh báo, cảnh tỉnh, răn đe, phòng ngừa sai phạm và làm trong sạch Đảng.

Sau kiểm điểm tự phê bình và phê bình, các cấp ủy, tổ chức đảng đã đề ra những giải pháp thường xuyên, cơ bản, lâu dài và những nhóm giải pháp ưu tiên phải thực hiện ngay để khắc phục hạn chế, yếu kém. Nhiều nơi đã có những giải pháp cụ thể, thiết thực để sửa chữa như: Việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ; đổi mới công tác tổ chức - cán bộ; bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện quy chế làm việc...

- Tăng cường củng cố và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu của dân tộc ta, được hun đúc qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Từ khi ra đời, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn coi trọng việc xây dựng, củng cố và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, các tầng lớp nhân dân không phân biệt thành phần, giai cấp, dân tộc, tôn giáo, tập hợp đoàn kết trong Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam, tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc giành thắng lợi lịch sử trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và các cuộc kháng chiến cứu nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ngày nay, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc đang tiếp tục phát huy cao độ, trở thành động lực của công cuộc đổi mới CNH, HĐH đất nước. Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, là bài học lớn của cách mạng nước ta.

Văn kiện Đại hội XI của Đảng đã nêu “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong bối cảnh mới. Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng; xóa bỏ

Một phần của tài liệu Câu hỏi và trả lời môn lịch sử đảng 12 câu – có liên hệ (Trang 65 - 71)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(98 trang)
w