V- CẢI CÁCH HỆ THỐNG TỔ CHỨC VÀ LÀM TRONG SẠCH BỘ MÁY NHÀ NƯỚC, NÂNG CAO HIỆU LỰC CỦA PHÁP LUẬT
2. Phương hướng tiếp tục hoàn thiện và bổ sung mô hình và bước đi của CNXH ở nước ta
Xác định mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, trước hết phải xuất phát từ mục tiêu bao trùm của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng là: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Việc định hình ngày càng chính xác mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam sẽ định hướng cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của chúng ta đi tới thành công.
Mô hình chủ nghĩa xã hội là khái niệm chỉ các mô hình chủ nghĩa xã hội khác nhau được tiến hành ở các nước khác nhau trên thế giới. Điều đó có nghĩa là, các nước khi tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội đều có hình thức, phương hướng và con đường của riêng mình. Do có sự khác biệt giữa các nước về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa cho đến dân số, điều kiện tự nhiên,… nên mô hình chủ nghĩa xã hội ở các nước, thậm chí ngay trong một nước nhưng ở từng giai đoạn lịch sử khác nhau, cũng có những hình thức khác nhau với những nét đặc trưng riêng. Mỗi nước xã hội chủ nghĩa căn cứ vào điều kiện thực tế của đất nước mình mà đề ra mục tiêu và phương thức phát triển khác nhau trong từng giai đoạn cụ thể.
Sau sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu, Việt Nam đã chủ động tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, hoàn thiện dần mô hình mới về chủ nghĩa xã hội với
những mục tiêu và phương tiện xác định để từng bước đạt tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, và phù hợp với xu thế của thế giới.
- Xây dựng hệ thống chính trị hướng tới phục vụ nhân dân và quản lý xã hội văn minh.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) khẳng định “Toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân”.
Báo cáo chính trị tại Đại hội VII (năm 1991) nhấn mạnh, thực chất của việc đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị nước ta là xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới.
Hệ thống chính trị vận hành theo cơ chế: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”; trong đó, Đảng vừa là một bộ phận của hệ thống chính trị, vừa là “hạt nhân” lãnh đạo hệ thống ấy, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có chức năng thể chế hoá và tổ chức thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là liên minh chính trị của các đoàn thể nhân dân và các cá nhân tiêu biểu của các giai cấp và tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo; là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; hoạt động theo phương thức hiệp thương dân chủ, có vai trò quan trọng trong việc thực hiện phản biện, giám sát xã hội, góp phần xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Nhân dân là người làm chủ xã hội, làm chủ thông qua Nhà nước và các cơ quan đại diện, đồng thời làm chủ trực tiếp thông qua cơ chế “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”; làm chủ thông qua hình thức tự quản.
Nhà nước quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật; pháp luật giữ vị trí tối thượng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội; người dân được hưởng mọi quyền dân chủ, có quyền tự do sống và làm việc theo khả năng và sở thích của mình trong phạm vi pháp luật cho phép.
- Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Ngày nay, sau gần 30 năm chuyển đổi sang kinh tế thị trường, đã có thể rút ra những kinh nghiệm và bài học đáng tin cậy về quá trình chuyển đổi. Vấn đề chủ yếu là có tạo ra được những nguyên tắc và tiền đề cần thiết để các thể chế của kinh tế thị trường có thể hoạt động một cách bình thường hay không. Nếu không tạo được những điều kiện, tiền đề như vậy, các thể chế kinh tế thị trường có thể tồn tại trên danh nghĩa nhưng không thể phát triển được hoặc sẽ phát triển một cách méo mó, các quan hệ thị trường bị biến dạng, gây tổn thất ở các mức độ khác nhau cho nền kinh tế.
Từ Đại hội Đảng lần thứ VII, chúng ta đã quyết nghị đổi mới toàn diện đường lối kinh tế từ bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường, coi trọng khuyến khích đầu tư. Một bước đi thuận quy luật mang giá trị chiến lược đã tạo được sức hấp dẫn mạnh mẽ. Tuy nhiên, thị trường vốn mang đặc tính cơ bản là tự do cạnh tranh sinh tồn, manh nha hiện tượng vô chính phủ nhằm lợi ích cục bộ, nên càng bộc lộ hai mặt trái ngược nhau trong quá trình vận động. Với quốc gia xác lập con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội, mục tiêu duy nhất là hạnh phúc của nhân dân, thì Nhà nước phải có nhiều công cụ mạnh đủ sức thuyết phục, chi phối, khuất phục mọi biểu hiện trái nghịch. Cơ sở kinh tế nhà nước là một trong những công cụ cần thiết để thực hiện vai trò “kiểu mẫu” góp phần tích cực trong quá trình điều tiết cơ chế thị trường, định hướng đi lên cho các thành phần kinh tế xã hội.
Trong công cuộc đổi mới, Nhà nước cần đầu tư xây dựng, quản lý cơ sở kinh tế nhà nước một cách thỏa đáng với vị trí của nó. Nhưng bằng phương pháp hạch toán hoàn toàn, không có chuyện bù lỗ dưới bất cứ dạng thức nào. Cơ sở kinh tế nhà nước chịu sự chỉ đạo định hướng sản xuất của Nhà nước và được ưu tiên đầu tư, song nó phải năng động đua tranh về mọi mặt để vượt lên hàng đầu trên thị trường chứ không phải bằng sự “chiếu cố”.
- Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Nhìn tổng thể, việc phát triển văn hóa ở nước ta cho đến nay về cơ bản chưa thích ứng với phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cần thúc đẩy cải cách thể chế văn hóa để giải
quyết mâu thuẫn và độ vênh giữa kinh tế và văn hóa. Vừa qua, Trung ương đã có nghị quyết về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo” và về “xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”, trong đó có quan điểm chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển văn hóa. Do đó, thời gian tới phải phân định rõ ràng việc gì phải bao cấp, việc gì phải xã hội hóa các nguồn tài chính, xây dựng thị trường các ấn phẩm văn hóa, có cạnh tranh về chất lượng với giá cả hợp lý, phát triển ngành công nghiệp văn hóa trên lĩnh vực và sản phẩm phù hợp.
Trong khi đẩy mạnh xã hội hóa, phát triển công nghiệp văn hóa, cải cách thể chế văn hóa phù hợp cơ chế thị trường, để không mất phương hướng, chủ động định hướng cho các hoạt động và sản phẩm văn hóa, cần đặc biệt quan tâm xác định và xây dựng giá trị cốt lõi của văn hóa Việt Nam, làm tâm điểm cho các hoạt động văn hóa đa dạng.
- Tích cực, chủ động hội nhập quốc tế nhưng đảm bảo độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.
Toàn cầu hoá hiện nay có tính hai mặt vừa là kết quả tất yếu và là yêu cầu khách quan của sự phát triển lực lượng sản xuất của xã hội loài người, vừa là sản phẩm của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Nó tạo ra những cơ hội cho sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế nước ta, cho phép chúng ta tiếp cận với nền văn minh công nghiệp của thế giới, đồng thời cũng đặt ra rất nhiều thách thức đối với chúng ta về chính trị, văn hoá, quốc phòng, an ninh…
Xem xét từ góc độ chủ quyền quốc gia, toàn cầu hoá hiện nay vừa có nhưng tác động thuận lợi, vừa đặt ra những thách thức nhất định. Trên một ý nghĩa nào đó, toàn cầu hoá là một cơ hội để chúng ta phát triển kinh tế - xã hội, do đó mà có điều kiện và khả năng thực tế để bảo đảm vững chắc chủ quyền quốc gia. Trong điều kiện toàn cầu hoá hiện nay, chúng ta có nhiều cơ hội để tiếp cận nền khoa học và công nghệ tiên tiến, hiện đại của thế giới, học hỏi những kinh nghiệm quản lý xã hội, tiếp thu những tinh hoa của nền văn minh công nghiệp và sử dụng tất cả những cái đó đề tăng cường khả năng bảo vệ chủ quyền quốc gia của mình.
Tuy nhiên, điều đáng quan tâm hơn là, trong điều kiện toàn cầu hoá kinh tế hiện nay, chủ quyền quốc gia đang phải đối đầu với nhiều thách thức. Những thách thức đó khó nhận biết hơn, mang sắc thái mới hơn trước đây (trong điều kiện có chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa đế quốc). Đó là những thách thức được che dấu dưới những chiếc áo khoác nhiều màu sắc hấp dẫn của lợi ích kinh tế, của sự cám dỗ về vật chất, được nhìn nhận qua những lăng kính ảo của tham vọng cá nhân, của những chuẩn mực giá trị đạo đức, lối sống sai lệch.
Báo chí phương Tây ra sức tuyên truyền rằng, trong điều kiện toàn cầu hoá, chủ quyền dần dần mất đi, khái niệm chủ quyền đã lỗi thời… Sự thật hoàn toàn không phải như vậy! Đó chỉ là những luận điệu mở đường cho việc tiến hành xâm phạm chủ quyền, can thiệp chủ quyền đối với các nước đang phát triển. Cần thấy rằng, toàn cầu hoá hiện nay là một xu thế phát triển trong điều kiện thế giới vẫn ở vào thời đại quốc gia dân tộc, quan niệm “chủ quyền quốc gia” vẫn là chuẩn tắc hành động cao nhất của các bên tham gia vào quá trình toàn cầu hoá kinh tế.
Tham gia vào quá trình toàn cầu hoá và bảo vệ chủ quyền quốc gia là hai mặt, hai quá trình vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn. Vấn đề có ý nghĩa quyết định là chúng ta cần xác định đúng những quyết sách chiến lược, những bước đi cụ thể, phù hợp, hết sức tỉnh táo để đảm bảo cho cả hai quá trình đó đều phát triển theo chiều thuận.
Câu 16. Vai trò của Đảng với những thành tựu có ý nghĩa lịch sử ở Việt Nam trong 20 năm đầu đổi mới (1986 – 2006)? Giải pháp nâng cao chất lượng công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng hiện nay?