5.1. Trật khớp khuỷu đơn thuần
- Theo phân loại cải biên của Hamilton và Stimson có nhiều kiểu TKK. Tuy nhiên, về phương diện lâm sàng gần như 90% là trật ra sau hoặc sau ngoài.
5.2. Gãy trật
- Thường gặp gãy mỏm trên lồi cầu trong. Trường hợp này thường kèm theo tổn thương thần kinh trụ hoặc mảnh gãy kẹt trong khớp khuỷu gây nên trật khớp khóa.
- Gãy mỏm vẹt kèm trật khuỷu.
- Gãy mỏm khuỷu kèm trật khuỷu.
- Gãy chỏm quay kèm trật khuỷu.
5.3. Trật khớp kèm tổn thương thần kinh, mạch máu:
Thần kinh bị tổn thương thường là thần kinh trụ, động mạch cánh tay cũng có thể bị chèn ép bởi đầu dưới xương cánh tay.
5.4. Trật khớp hở: Tổn thương giải phẫu cần chú ý đến vết thương khớp.
5.5. Trật khớp cũ: Thể lâm sàng này cần phải phẫu thuật đặt lại khớp hoặc tạo hình khớp.
6. Điều trị
6.1. Trật khớp khuỷu mới
TLTK: Bài Giảng Bệnh Học Ngoại Khoa – ĐH Y Hà Nội (2020)
Chủ biên: Gs. Hà Văn Quyết – PGs. Đoàn Quốc Hưng – PGs. Phạm Đức Huấn 51 6.1.1. Vô cảm
Chú ý vấn đề gây mê toàn thân, vì TKK gặp nhiều ở trẻ em.
6.1.2. Nắn
- Khi nắn TKK, lúc nào chúng ta cũng nắn di lệch bên trước rồi nắn khớp theo cơ chế ngược lại với cơ chế làm trật khuỷu.
- Bệnh nhân nằm nghiêng hơi sấp, để khuỷu vuông góc, thõng bàn tay xuôi xuống, nắn theo chiều trọng lực.
- Có 4 động tác chính:
+ Để nguyên tư thế trật khớp kéo liên tục từ từ tăng sức dần cho khớp khuỷu giãn ra trong 3 - 5 phút, không làm bệnh nhân đau đớn. Trước hết là nắn dịch lệch bên.
+ Tiếp tục kéo như trên, vừa gấp khuỷu lại cho đến khi mỏm khuỷu ngang đối điện với hố khuỷu.
+ Vẫn giữ sức kéo giãn khớp, hai ngón tay cái của thầy thuốc nắn ấn chặt trên mỏm khuỷu vừa duỗi từ từ khớp khuỷu để mỏm khuỷu lọt vào hố khuỷu và nắn lại chỏm quay vào vị trí bình thường của nó.
+ Kiểm tra lại khuỷu đã nắn tốt, bệnh nhân thấy hết đau, gấp duỗi khuỷu nhẹ nhàng, thầy thuốc vẫn phụ giữ mỏm khuỷu trong hố khuỷu, sấp ngữa cẳng tay bình thường, mạch cổ tay đập tốt.
6.1.3. Bất động
- Nẹp bột 10 ngày ở tư thế gập 90o, rồi cử động sớm.
- Sau 5 - 7 ngày, khám lại kiểm tra, vì có trường hợp bị trật lại trong bột do khớp không vừng, cơ co kéo.
- Nắn vào kém vững do rách phần mềm nhiều, cho bất động 3 - 4 tuần, sau đó tập.
Chú ý tập duỗi cho hết.
TLTK: Bài Giảng Bệnh Học Ngoại Khoa – ĐH Y Hà Nội (2020)
Chủ biên: Gs. Hà Văn Quyết – PGs. Đoàn Quốc Hưng – PGs. Phạm Đức Huấn 52 Hình 2.13. Nắn trật khớp khuỷu
- Kết quả
+ Nếu gây mê mà không nắn vào được, thường do mảnh xương gãy kẹt vào khớp, do chèn phần mềm, phải mổ để nắn.
+ Sau nắn khuỷu dễ bị cứng khớp hơn là bị mất vững, hay mất duỗi 5 - 10 độ.
6.1.4. Tập vận động
Sau khi bỏ bột, tập gấp duỗi, sấp ngữa lấy lại biên độ cử động khuỷu bình thường, chỉ cho phép lao động nặng sau 3 tháng kể từ ngày bỏ bột.
6.2. Trật khớp khuỷu cũ
TKK cũ (là trật khớp trên 3 tuần) luôn luôn ở tư thế xấu, khuỷu duỗi 0 độ, cẳng tay mất chức năng, vì thế buộc phải phẫu thuật.
Phẫu thuật đặt lại xương nếu thời gian chưa lâu (dưới 3 tháng) hoặc làm cứng khớp ở tư thế cơ năng: khuỷu gấp 90 độ, cẳng tay trung gian (trật khớp quá lâu nếu đặt lại khớp sẽ biến dạng ở tư thế không mong muốn).
6.3. Trật khớp kèm gãy xương (chiếm khoảng 12%) 6.3.1. Trật khuỷu kèm gãy mõm trên lỏi cầu trong - Trường hợp này mãnh gãy rất hay bị kẹt vào khớp.
- Thường gặp sau khi nắn khớp xong thì cử động thấy không mềm mại, kiểm tra X quang thì phát hiện mảnh xương kẹt vào khớp, khi đó phải chỉ định mổ lấy bỏ mảnh xương kẹt.
6.3.2. Trật khuỷu kèm gãy mỏm khuỷu
Hiện nay có nhiều kiểu phân chia gãy mỏm khuỷu. Phân loại theo Colton đơn
TLTK: Bài Giảng Bệnh Học Ngoại Khoa – ĐH Y Hà Nội (2020)
Chủ biên: Gs. Hà Văn Quyết – PGs. Đoàn Quốc Hưng – PGs. Phạm Đức Huấn 53 giản, ứng dụng nhiều trên lâm sàng.
+ Gãy không lệch: bó bột để khuỷu duỗi.
+ Gãy có di lệch: Kết hợp xương mỏm khuỷu theo phương pháp néo ép mỏm khuỷu với 2 đinh Kirschner và buộc vòng số 8 với chỉ thép, kết quả tốt 97%.
Hình 2.13. Phân loại gãy mỏm khuỷu theo Colton A: Gãy ngoài khớp B: Gãy chéo C. Gãy ngang,
D: Gãy chéo có mảnh rời E: Gãy phức tạp F: Gãy kèm trật khớp.
6.3.3. Trật khuỷu kèm gãy mỏm vẹt - Chiếm 10% trật khuỷu.
- Regan chia gãy mỏm vẹt thành 3 kiểu.
+ Kiểu 1: Bong xương ở đỉnh mỏm vẹt.
+ Kiểu 2: Gãy xương rời ra < 50%.
+ Kiểu 3: Gãy xương rời ra > 50% kèm TKK.
Hình 2.14. Các loại gãy mỏm vẹt
TLTK: Bài Giảng Bệnh Học Ngoại Khoa – ĐH Y Hà Nội (2020)
Chủ biên: Gs. Hà Văn Quyết – PGs. Đoàn Quốc Hưng – PGs. Phạm Đức Huấn 54 - Xử trí:
+ Gãy độ 1: Bất động 3 - 4 tuần sau đó tập phục hồi chức năng.
+ Gãy độ 2 và 3: Phẫu thuật cố định mảnh gãy với vít nhỏ.
6.3.4. Trật khuỷu kèm gãy chỏm xương quay
- Trên 30% trật khuỷu có kèm gãy chỏm xương quay.
- Phân loại gãy chỏm quay theo Mason.
+ Kiểu 1: Gãy không lệch.
+ Kiểu 2: Gãy rời một mảnh to di lệch.
+ Kiểu 3: Gãy vụn chỏm.
+ Kiểu 4: Gãy kèm trật chỏm quay, hoại tử chỏm quay.
- Nguyên tắc điều trị chung
+ Mảnh gãy di lệch dưới 2 mm: điều trị bảo tồn.
+ Khi gãy vụn chòm (kiểu III): thì cắt bỏ chỏm (người lớn) hoặc thay bằng chỏm kim loại.
+ Số còn lại cố gắng bảo tồn bằng kết hợp xương với vít cỡ bé.
Nói chung, TKK kèm gãy chỏm quay, kết quả cơ năng kém.
Theo Broberg: Bât động lâu bị cứng khuỷu. Khi thương tổn bộ ba là trật khuỷu kèm gãy mỏm vẹt, kèm gãy chỏm quay thì thường bị trật tái phát, kết quả xấu./.