CHƯƠNG 5 Thị trường – Cạnh tranh và độc quyền
5.3. Thị trường độc quyền
5.3.1.1. Đặc điểm của độc quyền bán
- Chỉ có một doanh nghiệp duy nhất sản xuất và cung ứng một loại sản phẩm độc nhất, không có sản phẩm thay thế trên thị trường.
- Đường cầu của doanh nghiệp cũng chính là đường cầu của thị trường - Doanh nghiệp độc quyền có sức mạnh thị trường
- Việc tham gia hay rút khỏi thị trường là hết sức khó khăn 5.3.1.2. Các nguyên nhân dẫn đến độc quyền bán
- Do vốn đầu tư ban đầu rất lớn
- Doanh nghiệp sử dụng bằng phát minh sáng chế đã được pháp luật thừa nhận và bảo hộ - Do doanh nghiệp có quyền kiểm soát các yếu tố đầu vào.
- Do doanh nghiệp được chính phủ cấp giấy phép hoạt động sản xuất kinh doanh: chính phủ hạn chế sự gia nhập thị trường của các doanh nghiệp khác (đường sắt, bưu điện việt nam..)
- Do doanh nghiệp đạt được tính kinh tế của quy mô.
*) Một số đặc điểm cần chú ý của độc quyền tự nhiên:
- Đường MC luôn nằm dưới đường ATC ở mọi mức giá
- Đường ATC luôn giảm (do tính hiệu quả kinh tế của quy mô: chi phí sản xuất bình quân giảm xuống khi quy mô sản xuất tăng)
ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
5.3.1.3. Phương pháp xác định mức sản lượng tối ưu trong độc quyền bán
Khi doanh nghiệp sản xuất ở mức sản lượng Q* ta xác định được giá bán sản phẩm tương ứng P*. Tại mức sản lượng tối ưu Q* do MR = MC nhưng MR lại luôn luôn nhỏ hơn P do đường doanh thu cận biên MR luôn nằm phía dưới đường cầu D cho nên MR = MC < P
Một số chú ý:
- Trong độc quyền bán không có đường cung: hay nói cách khác trong thị trường độc quyền không có mối quan hệ 1:1 giữa giá cả và sản lượng.
-Sức mạnh độc quyền: Sức mạnh thị trường được đo bằng chỉ số Lerner (do Abba Lerner đưa ra vào năm 1934):
L = (P-MC)/P = -1/Ed (0 L 1) Trong đó: Ed là độ co giãn của cầu theo giá.
- Mất không từ sức mạnh độc quyền: Do sức mạnh độc quyền tạo ra giá cao hơn và số lượng sản phẩm sản xuất ra thấp hơn so với cạnh tranh hoàn hảo nên người tiêu dùng bị thiệt, còn người sản xuất được lợi. Tuy nhiên nếu xét trên toàn xã hội (tức là cả người tiêu dùng và người sản xuất được tính trên một tổng thể) thì xã hội sẽ bị thiệt hơn so với cạnh tranh hoàn hảo.
5.3.2. Độc quyền mua (sinh viên tự nghiên cứu) 5.3.3. Định giá trong độc quyền
a. Phân biệt giá
- Phân biệt giá hoàn hảo (phân biệt giá cấp 1)
Đây là chiến lược mà doanh nghiệp độc quyền bán áp đặt cho mỗi khách hàng một mức giá tối đa mà khách hàng đó sẵn sàng trả cho mỗi đơn vị mua.
So với việc định giá thống nhất thì việc phân biệt giá làm cho lợi nhuận của nhà độc quyền tăng lên rất nhiều.
Việc phân biệt giá cấp 1 rất khó áp dụng trong thực tiễn vì doanh nghiệp thường không có đủ thông tin về khách hàng, không biết được chính xác từng mức giá mà mỗi một khách hàng sẵn sàng trả.
ATC MC
MR D
Hình 5.2. Mức sản lượng tối ưu trong độc quyền
Q1 Q* Q2 P1
P*
P2
ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
44 - Phân biệt giá cấp 2
Là trường hợp doanh nghiệp đặt các mức giá khác nhau cho các số lượng hoặc khối lượng khác nhay của cùng một hàng hóa hoặc dịch vụ.
Phân biệt giá cấp hai xuất phát từ thực tế là người tiêu dùng thường mua một số lượng hàng nào đó trong thời gian nhất định, nhu cầu về mặt hàng này sẽ giảm đi cùng với số lượng hàng hóa đã mua.
Phân biệt giá cấp hai thường được áp dụng cho doanh nghiệp độc quyền được hưởng tính kinh tế nhờ quy mô.
- Phân biệt giá cấp 3
Nhà độc quyền phân khách hàng thành 2 hoặc nhiều nhóm với các đường cầu riêng biệt và ấn định cho mỗi nhóm một mức giá phù hợp với nguyên tắc: MR của mỗi nhóm phải bằng nhau và bằng với MC.
b. Phân biệt giá theo thời kỳ và đặt giá cao điểm
-Phân biệt giá theo thời kỳ: Ở đây người tiêu dùng được chia ra thành các nhóm khác nhau với các hàm cầu khác nhau và đặt các giá khác nhau ở những thời điểm khác nhau.
- Đặt giá cao điểm: Đặt giá cao ở thời kỳ cao điểm là có lợi hơn cho doanh nghiệp so với việc chỉ đặt một giá trong suốt thời các thời kỳ.
c. Đặt giá hai phần
Bằng cách đặt giá 2 phần doanh nghiệp đòi hỏi người tiêu dùng phải trả trước một khoản phí để có quyền mua sản phẩm, sau đó người tiêu dùng phải trả phí bổ sung cho mỗi đơn vị sản phẩm họ cần tiêu dùng.
5.3.4. Điều tiết độc quyền a. Điều tiết giá cả
Mức giá điều tiết (Pdt) mà nhà nước đặt ra phải thấp hơn mức giá độc quyền (Pa), đồng thời phải không nhỏ hơn chi phí bình quân (ATC) để doanh nghiệp có thể tồn tại được.
Pa < Pdt < Pb
B A
ATC MC Qa Qdt Qb Qc P
Pa
Pd
Hình 5.3: Điều tiết giá cả và sản lượng trong độc quyền
ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
Thông thường để đảm bảo cho sự công bằng giữa người sản xuất và nguời tiêu dùng nhà nước sẽ đặt giá ở Pdt Pb. Tuy nhiên khi đó lợi nhuận của nhà sản xuất sẽ bằng không hoặc ở mức rất thấp. Điều đó sẽ không kích thích doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm.
b. Điều tiết sản lượng
Điều tiết sản lượng là việc chính phủ đặt ra mức sản lượng tối thiểu để buộc nhà độc quyền phải sản xuất. Khi đó cầu của người tiêu dùng sẽ xác định mức giá bán sản phẩm trên thị trường.
Trong hình trên Nhà nước có thể đặt ra mức sản lượng tối thiểu là Qdt (Qdt > Qa) khi đó người tiêu dùng sẽ mua được nhiều sản phẩm hơn với giá thấp hơn. Nhà độc quyền sẽ đạt được mức lợi nhuận thấp hơn so với lợi nhuận độc quyền (tại mức sản lượng Qa). Điều tiết sản lượng là phương pháp ép buộc dễ được chấp nhận nhất.