Nghiên cứu tại Ý
Ylenia Ingraciotta, Maria Paola Bertuccio và các cộng sự đã khảo sát thực trạng dùng thuốc điều trị ĐTĐ típ 2 từ năm 2011 đến 2017 tại miền Nam nước Ý. Kết quả, có 2 3⁄ số BN bắt đầu điều trị ĐTĐ típ 2 được điều trị với metformin. Trong số những BN không khởi trị với metformin, có 10% BN được
dùng insulin do có tăng đường huyết nghiêm trọng hoặc suy thận; những BN còn lại khởi trị bằng các thuốc không được khuyến cáo đầu tay như SU, glinide và ức chế α-glucosidase. Trong các BN không được khởi trị bằng metformin, chỉ có 40,8% BN chống chỉ định dùng metformin (do suy thận giai đoạn IV-V hoặc đang thẩm phân máu). Có 11% BN suy thận được dùng thuốc nhóm glinide mặc dù thuốc được khuyến cáo nên dùng thận trọng trên BN bệnh thận tiến triển. Nghiên cứu còn cho thấy có một tỷ lệ nhỏ thuốc glitazone được dùng trên những BN có tiền sử suy tim mặc dù thuốc này đã được chứng minh làm tăng nguy cơ suy tim. Bên cạnh đó, các thuốc nhóm đồng vận GLP-1 và ức chế SGLT2 tuy được khuyến cáo là thuốc hàng thứ hai sau metformin, nhưng theo khảo sát thì tỷ lệ dùng này không cao. Sau 6 tháng điều trị, hiệu quả làm giảm HbA1c đáng kể là ở những BN sử dụng insulin, ức chế SGLT2 và metformin + ức chế SGLT2. Ngoài ra, kết quả cũng cho thấy các thuốc nhóm SGLT2, đồng vận GLP-1 và phối hợp metformin + ức chế SGLT2 được chỉ định phù hợp ở BN có trọng lượng cơ thể cũng như vòng eo trung bình lớn nhất. Hạn chế của nghiên cứu là do sự phân quyền kê đơn giữa bác sĩ đa khoa (chỉ được kê đơn những thuốc ĐTĐ thế hệ cũ) và bác sĩ chuyên khoa điều trị ĐTĐ (được quyền kê thuốc thế hệ mới). Bên cạnh đó, nhóm thuốc ức chế SGLT2 chỉ được phép lưu hành tại Ý năm 2015 nên cũng hạn chế phần nào trong việc khảo sát tình hình dùng thuốc này5.
Nghiên cứu tại Mỹ
Olga Montvida, Jonathan Shaw và các cộng sự đã tiến hành nghiên cứu về xu hướng dùng thuốc ĐTĐ trên bệnh nhân vừa được chẩn đoán ĐTĐ típ 2 trong thời gian từ năm 2005 đến năm 2016. Nghiên cứu được khảo sát trên 1 triệu người với độ tuổi trung bình 58 tuổi. Kết quả cho thấy tỷ lệ dùng metformin khởi trị chiếm cao nhất và tăng dần từ 60% đến 77% qua các năm, tỷ lệ BN khởi trị bằng SU giảm từ 20% xuống còn 8%. Các nhóm thuốc còn lại
dùng khởi trị là thuốc chủ vận tại thụ thể GLP-1, ức chế DPP-4, TZD, SU và insulin. SU vẫn là thuốc được dùng phối hợp với metformin nhiều nhất khi cần tăng cường điều trị dù tỷ lệ sử dụng giảm từ 60% (năm 2005) xuống còn 46%
(năm 2016). Tỷ lệ dùng insulin phối hợp với metformin vẫn tăng dần (từ 7%
lên 17%) với HbA1c trung bình khi bắt đầu dùng thêm insulin là 9,3%. Tỷ lệ dùng các thuốc ức chế DPP-4, chủ vận thụ thể GLP-1, ức chế SGLT2 kết hợp với metformin tăng nhẹ trong 10 năm, trong đó nhóm thuốc chủ vận tại thụ thể GLP-1 được dùng nhiều ở những BN có BMI cao nhất. Nghiên cứu cũng cho thấy rằng phần lớn BN được bắt đầu dùng thuốc hoặc kết hợp thuốc khi có HbA1c đã rất cao, chỉ có 48% BN có HbA1c ≥ 8% mới được bắt đầu dùng phác đồ phối hợp 2 thuốc16.
1.4.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam
Nghiên cứu của Hoàng Thu Trang, Lê Quang Toàn khảo sát thực trạng lựa chọn phác đồ hạ glucose máu ở các bệnh nhân ĐTĐ típ 2 mới phát hiện tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương trên đối tượng BN ngoại trú từ 10/2019 đến 09/2020. Kết quả, các thuốc được dùng khởi trị xuất hiện trong phác đồ gồm:
metformin, ức chế SGLT2, ức chế DPP4, SU và insulin. Trong đó, metformin được sử dụng nhiều nhất 69,2%, và insulin với tỷ lệ 43,9%. Phác đồ khởi trị bằng 1 thuốc chiếm tỷ lệ cao nhất (49,5%) với thuốc thường được kê đơn trong phác đồ này là insulin (55,6%) và metformin (37,8%). Phác đồ phối hợp 2 thuốc tỷ lệ 35,7%, thường gặp là kiểu phối hợp metformin+ức chế DPP4 và metformin + insulin. Các phác đồ còn lại được dùng khởi trị gồm phác đồ phối hợp 3 thuốc, 4 thuốc. Các phác đồ điều trị dựa theo chỉ số HbA1c gồm: HbA1c
< 7,0% có 88,5% BN được kê đơn sử dụng phác đồ đơn trị, còn lại là phối hợp 2 thuốc, không có BN nào được kê đơn có insulin. Với HbA1c 7,0 - < 8,5%, 62% BN được dùng phác đồ phối hợp 2 thuốc uống, 32,0% dùng phác đồ đơn trị, còn lại được chỉ định phác đồ có insulin. BN có HbA1c 8,5 - < 10,0%, có
2/3 BN được kê đơn phối hợp 2 thuốc uống, 31,0% được dùng đơn thuốc có chứa insulin, duy nhất 1 BN dùng phác đồ đơn trị. Những BN với HbA1c ≥ 10%, đa phần được sử dụng phác đồ có insulin chiếm 66,5%, còn lại là những BN sử dụng phối hợp 2 thuốc uống và không có BN nào dùng thuốc hạ đường huyết đơn trị liệu17.
Nghiên cứu của Đoàn Thị Thu Hương thực hiện tại bệnh viện Y học cổ truyền Bộ Công an trên đối tượng ĐTĐ mắc kèm tăng huyết áp cho thấy rằng các thuốc điều trị ĐTĐ típ 2 được dùng tại bệnh viện gồm biguanid (metformin), nhóm SU (gliclazid, glimepirid), ức chế enzym α − glucosidase (acarbose) và insulin; thuốc được dùng chủ yếu là metformin và gliclazid, chiếm tỷ lệ lần lượt là 90% và 80% trong tổng số bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu; chỉ có 7% số bệnh nhân được kê đơn insulin trong điều trị; 60% bệnh nhân được điều trị kết hợp 2 thuốc, trong đó phối hợp thường gặp nhất là metformin với gliclazid. Tình trạng của bệnh nhân được đánh giá sau 3 tháng trong đó có 52,3% bệnh nhân đạt mức huyết áp mục tiêu; về kiểm soát đường huyết có 50%
đạt mức HbA1c mục tiêu và 40% đạt mức mục tiêu glucose huyết đói; tỷ lệ bệnh nhân cải thiện chỉ số LDL-C tăng có ý nghĩa lâm sàng18.
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thành Hải cùng cộng sự về phân tích tình hình sử dụng thuốc điều trị ĐTĐ típ 2 trên BN ngoại trú tại Bệnh viện Y học cổ truyền – Bộ Công An cho thấy tại thời điểm thực hiện nghiên cứu, các phác đồ được dùng trong điều trị gồm: đơn trị, phối hợp 2 thuốc, 3 thuốc và 4 thuốc. Phần lớn BN được chỉ định phác đồ phối hợp 2 thuốc chiếm 66,7%, trong đó metformin + gliclazide được dùng nhiều nhất với tỷ lệ 61,7%. Phác đồ phối hợp 4 thuốc được sử dụng với tỷ lệ thấp nhất chiếm 0,83%19.