Tình hình phát triển các sản phẩm dịch vụ ngân hàng

Một phần của tài liệu (Luận văn) lộ trình phát triển các ngân hàng thương mại tại tphcm sau khi việt nam gia nhập wto đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 (Trang 44 - 49)

Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2006

2.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NHTM TẠI TPHCM TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2006

2.2.4 Tình hình phát triển các sản phẩm dịch vụ ngân hàng

Hoạt động dịch vụ của các NHTM tại TPHCM trong những năm qua đã có nhiều nỗ lực trong việc phát triển các sản phẩm dịch vụ mới song song với việc cải tiến chất lượng dịch vụ để tăng sự thỏa mãn của khách hàng và tăng nguồn thu cho ngân hàng. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển các NHTM trong nước còn rất nhiều hạn chế, nếu so sánh với CNNHNNg tại TPHCM và các NHTM khác trong khu vực thì sản phẩm dịch vụ vẫn còn đơn điệu, nặng dịch vụ truyền thống; các dịch vụ ngân hàng hiện đại có hàm lượng công nghệ chưa được phát triển đúng tầm như: dịch vụ ngân hàng điện tử, dịch vụ bảo hiểm, tư vấn tài chính, dịch vụ chứng khoán, ...

2.2.4.2 Nghiệp vụ thanh toán

Thanh toán không dùng tiền mặt ngoài việc đem lại nhiều lợi ích còn là biện pháp kiểm soát, giám sát và quản lý nội dung thanh toán và thu nhập của các doanh nghiệp và các cá nhân, chống trốn thuế, chống tiêu cực như: đưa và nhận hối lộ, buôn bán hàng cấm, buôn lậu, … và còn là biện pháp chống rửa tiền.

Ở các nước có nền kinh tế phát triển, tiền mặt trong lưu thông chiếm khoảng 1% tổng phương tiện thanh toán. Ở nước ta, tỷ trọng tiền mặt trong thanh toán còn

nghiep do wn load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

khá cao so với tổng phương tiện thanh toán qua NH, tính đến 31/12/2006 đạt 18,45%.

Qua hình 2.2 ta thấy tỷ trọng này có xu hướng giảm giảm dần qua các năm nhưng tốc độ giảm chậm.

Hình 2.2: Tỷ trọng thanh toán dùng tiền mặt trong thanh toán trên tổng phương tiện thanh toán qua NH tại Việt Nam từ năm 2000 đến năm 2006

18,45%

19,01%

20,35%

22,03%

22,56%

23,40% 23,70%

0,00%

5,00%

10,00%

15,00%

20,00%

25,00%

2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006

Doanh số thanh toán không dùng tiền mặt qua hệ thống NHTM tại TPHCM có xu hướng tăng dần qua các năm, từ năm 2004 - 2006, tốc độ tăng doanh số đạt khá cao trung bình đạt 65%/năm, phản ánh dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt của các NHTM ngày càng phát triển. Doanh số năm 2006 đạt 3.138.027 tỷ đồng tăng gấp 3,7 lần so với năm 2001. Ngoài những hình thức thanh toán truyền thống như:

sec, ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, thư tín dụng trong mấy thập kỷ qua; các hình thức thanh toán thẻ, dịch vụ internet banking, mobile banking, phone banking đã ra đời là phương thức mới thu hút rất nhiều sự quan tâm của khách hàng. (Xem bảng 2.8 – Phaàn phuù luùc trang 10)

2.2.4.3 Nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối

nghiep do wn load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

a. Đối với nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ và chuyển ngoại tệ

Tổng doanh số mua và bán ngoại tệ năm 2006 đạt 56.383 tỷ đồng tăng gấp 4,2 lần so với năm 2001 với tốc độ tăng bình quân đạt 34.5%/năm. Để đạt được kết quả trên phải tính đến quá trình đầu tư vốn của nước ngoài vào nền kinh tế của nước ta ngày càng tăng cùng với đầu tư của các NHTM ra nước ngoài cũng có xu hướng ngày càng phát triển. (Xem bảng 2.9 – Phần phụ lục trang 11)

Trên lĩnh vực hoạt động kinh doanh ngoại tệ, đặc biệt là dịch vụ chuyển tiền kiều hối đang được phát triển mạnh tại các NHTM Việt Nam.

- Chính nhờ cơ chế chính sách ngày càng thông thoáng, với những điều chỉnh, thay đổi linh hoạt, phù hợp với tình hình thực tế, đã tạo điều kiện kích thích và thu hút nguồn ngoại tệ từ nước ngoài chuyển vào VN. Vì vậy, tốc độ tăng doanh số chuyển tiền kiều hối trong những năm qua liên tục tăng cao đạt mức tăng trung bình 32,4%/năm, chỉ riêng trong năm 2006 lượng kiều hối chuyển về VN đạt mức 3.218 tỷ đồng.

- Nhiều ngân hàng cũng đã phối hợp với các tổ chức quốc tế như Western Union trong nghiệp vụ chuyển tiền,... song dẫn đầu vẫn là Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam và NHTMCP Đông Á. Riêng NHTMCP Đông Á thành lập riêng một công ty kiều hối chiếm lĩnh 14% thị phần chi trả kiều hối trong cả nước.

b. Aùp dụng các công cụ phái sinh đối với nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ, vàng

nghiep do wn load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

Hiện nay, nhiều NHTM tại TPHCM đã thực hiện các giao dịch ngoại tệ mang tính phòng ngừa và bảo hiểm tỷ giá như giao dịch kỳ hạn (Forward), giao dịch hoán đổi (Swap), giao dịch quyền chọn tiền tệ (Currency option), giao dịch quyền chọn vàng (Gold option)..

Các dịch vụ phái sinh về ngoại tệ: là một dịch vụ mới ở VN được NHTMCP Xuất Nhập Khẩu là ngân hàng đầu tiên triển khai thực hiện. Đến nay, có 8 ngân hàng trên địa bàn TP. HCM thực hiện dịch vụ này đĩ là: Ngân hàng Ngoại thương VN; Ngân hàng Đầu tư và Phát triển; Ngân hàng Công thương VN; Xuất Nhập Khẩu; Á Châu; HSBC; Deutsche Bank; Citibank. Đối tượng khách hàng sử dụng dịch vụ này là các doanh nghiệp.

Công cụ quyền chọn mua, bán vàng:

Hiện có 2 NHTMCP (Á Châu, Sài Gòn Thương Tín) đã triển khai dịch vụ này.

Đây là dịch vụ mang lại nhiều lợi ích cho khách hàng và ngân hàng nhờ hạn chế các rủi ro do biến động giá, đồng thời tạo điều kiện cho các NHTM chủ động trong hoạt động khai thác và sử dụng vốn bằng vàng hoặc đảm bảo giá trị vàng, cũng như hoạt động kinh doanh vàng.

2.2.4.4 Dịch vụ thẻ ngân hàng

Thanh toán bằng thẻ NH mang lại rất nhiều tiện ích cho chủ thẻ như: tiết kiệm thời gian, chi phí và bảo đảm an toàn cho chủ thẻ. Chính vì vậy, triển khai các chương trình hoạt động, phát triển các tiện ích liên quan đến thẻ không những giúp ngân hàng tăng số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ, thu hút được một lượng vốn

nghiep do wn load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

khá lớn mà còn là những động thái giúp cho các ngân hàng khẳng định vị thế và tạo ra lợi thế so sánh của mình.

Các NHTMNN và một số NHTMCP lớn có hệ thống các điểm giao dịch tương đối đều khắp các đô thị, khu thương mại, các tỉnh thành trong cả nước và có cơ sở hạ tầng kỹ thuật khá tốt nên đã có điều kiện chiếm lĩnh thị trường thẻ khá nhanh. Riêng Ngân hàng Ngoại thương VN đã chiếm thị phần khoảng 47% tổng số thẻ nội địa và 38% tổng số máy ATM trong toàn quốc. Tiếp theo là các Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Công thương VN, Ngân hàng Đầu tư và Phát trieồn.

Phần lớn các NHTMCP trong nước đã thành lập các trung tâm kinh doanh thẻ từ năm 2004. Các trung tâm này có nhiệm vụ nghiên cứu đưa ra các sản phẩm mới, tăng tiện ích cho khách hàng. Trong khi đó, các CNNHNNg hiện tại chưa được phép đặt máy ATM ngoài trụ sở chính của họ ở Việt Nam nên phần nào các NHTM trong nước được ưu ái hơn trong phát triển các dịch vụ thẻ NH.

2.2.4.5 Dịch vụ ngân hàng điện tử

Các ngân hàng trên thế giới đã và đang phát triển mạnh các hoạt động dịch vụ của ngân hàng điện tử. Đối với nước ta, đây là lĩnh vực hoạt động mới, hầu hết các văn bản pháp quy của NHNN và một số Bộ, ngành chưa đáp ứng để ứng dụng hoạt động của ngân hàng điện tử.

Các NHTM tại TPHCM đang nỗ lực phát triển và nâng cao chất lượng các hoạt động dịch vụ của ngân hàng điện tử như: dịch vụ homebanking; mobile

nghiep do wn load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg

banking, internet banking theo hướng ngày càng tiện ích. Bên cạnh đó, các NHTM cũng đang từng bước phối hợp đơn lẽ với các doanh nghiệp, các ngành, lĩnh vực kinh doanh để tiếp tục mở rộng hoạt động thanh toán qua mạng điện thoại di động.

Riêng đối với dịch vụ Internet Banking, là dịch vụ ngân hàng điện tử “hoàn hảo” nhất, nhưng đòi hỏi tính an toàn, bảo mật trong thanh toán cao nhất, bởi lẽ rủi ro trong hoạt động dịch vụ này là không nhỏ. Tuy nhiên, các NHTM ở VN mới chỉ phát triển ở mức độ nhất định, khách hàng chủ yếu là các TCTD, doanh nghiệp nhưng chỉ tham gia quan hệ mang tính chất tư vấn, tham khảo và tìm kiếm thông tin là chủ yếu.

Một phần của tài liệu (Luận văn) lộ trình phát triển các ngân hàng thương mại tại tphcm sau khi việt nam gia nhập wto đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 (Trang 44 - 49)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(92 trang)